Tâm sự

Tâm sự

lundi 20 avril 2020

Khuyển thiệt thuốc - Hound's Tongue

Gypsyflower-Hound'sTongue
Khuyển thiệt thuốc
Cynoglossum officinale . L.
Boraginaceae
Đại cương :
Cynoglossum officinale.
▪ Danh pháp thông thường :
- houndstongue, langue de poule, lưỡi gà.
- houndstooth, pied de poule, chân gà.
- dog's tongue, langue du chien, lưỡi chó.
- gypsy flower, fleur de gitane, hoa Khuyển thiệt
- và  rats and mice, rats et des souris do mùi hôi của nó)
là  một cây thân thảo của họ Boraginaceae,
▪ Chó và chuột.
Cái tên kỳ lạ này ngay từ cái nhìn đầu tiên của giống Khuyểt thiệt cynoglosse, quay trở lại vào thế kỹ 15 ème nơi đây nó mượn danh từ tiếng latin cynoglossus, chính nó lấy tiếng Hy lạp grec kunos nghĩa là chó chienglossos là lưỡi langue : gợi cho ta hình ảnh những màu xám nhạt mềm mại và mượt mà, hình dạng bầu dục kéo dài, mô phỏng cho thấy rằng như một cái lưỡi của con chó langue de chien.
Tên gọi nầy được tìm thấy đã bị bóp méo trong nhiều “phương ngữ” hoặc “ngôn ngữ địa phương” nhưng cũng trong những ngôn ngữ của Châu âu khác nhau : hound’s tongue hoặc dog ‘s tongue trong tiếng Anh anglais; hundzunge trong Đức allemandcinoglossa trong Tây ban nha espagnol, ….
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale L., có nguồn gốc của Châu Âu Europe và Tây Á Ôn đới Asie occidentale tempérée và là một loài cỏ dại du nhập vào Mỹ Etats-Unis, cho đến nay nó là loài đuợc nghiên cứu nhiều nhất của giống.
▪ Lịch sử và truyền thống.
Cây được mô tả như có một mùi hôi mạnh của loài dê bouc hoặc loài chó chien. Trước đây người ta sử dụng những “thuốc viên Khuyển thiệt-thuốc phiện cynoglosse-opiacées” (sự kết hợp với hạt của Cây jusquiame, opium, myrrhe, safran và sirop mật ong miel) mang lại một giấc ngủ sommeil cho những người bệnh. Nó có khả năng, như Cazin nói, những đặc tính của hỗn hợp nầy là do thuốc phiện opium và cây Cà Phỉ ốc trắng  jusquiame Hyoscyamus albus.
▪ Môi trường sống.
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale là một loài cỏ dại của những vùng ôn đới. Người ta tìm thấy trong những cánh đồng cỏ, ven đường và trong những vùng đất hoang phế và những đất canh tác bỏ hoang (Alex và Switzer, 1976; Scoggan, 1978; Dickerson và Fay, 1982).
Nó đã được ghi nhận hiện diện trong miền đông Bắc Mỹ Amérique du Nord trên những đất sỏi và đất có vôi nhẹ calcaires (Meunscher, 1980), ở Anh Royaume-Uni trong những vùng đất cát sablonneuses (Cockayne, 1961) và ở những cánh đồng cỏ củ cồn cát với những đất cát khô (Boorman, 1982), trong Hòa Lan Pays-Bas trên những cồn cát vôi dunes calcaires ven bờ biển, với một hàm lượng cao chất đạm azote của đất (Freijsen và al., 1980) và trong miền đông Canada trên những đồng cỏ đá pâturages rocheux trong những vùng đá vôi calcaires (Frankton và Mulligan, 1970).
Clapham và al. (1962) đã báo cáo sự xuất hiện ở những nơi có cỏ và ven những cánh rừng trên những đất khô, trên đá sỏi, cát, đá vôi hoặc phấn, gần biển.
Trong Colombie-Britannique, ở Canada, nó hiện diện trên những nơi xáo trộn của những vùng sinh địa khí hậu biogéoclimatiques của rừng thông sapin Douglas (Pseudotsuga menziesii) và thông ponderosa (Pinus ponderosa) (Taylor và McBryde, 1977).
Vùng nầy có một mùa đông lạnh và những mùa hè nóng và khô. Người ta cũng tìm thấy trong nhiều khu vực có sự khai thác rõ ràng (Cranston và Pethybridge, 1986) và mọc ở những cánh đồng cỏ và những khu rừng có độ cao từ thấp đến trung bình trong Colombie-Britannique, Canada (Anon., 2002b).
▪ Phân phối.
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale có một phạm vi bản địa rộng lớn trong những vùng ôn đới của Tây Âu Europe occidentale (Tutin và al., 1972) đến Trung Á Asie centrale (USDA-ARS, 2003), và đã được du nhập đến Mỹ États-Unis (Cochrane, 1975; Dickerson và Fay, 1982; Knight và al., 1984) và ở Canada (Breitung, 1957a, b; Boivin, 1966; Scoggan, 1978). chủ yếu ở những sườn đá, đất hoang không canh tác và ven đường.
Trong Tây ban nha, nó phát triển ở vùng núi phía bắc, đặc biệt trong những dãi núi Pyrénées.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale là một loại thực vật thân thảo, đời sống 2 năm to, những thân có lông mịn thẳng, dài, mềm, thân đơn hoặc nhiều thân, từ 0,3 đến 1,2 m cao với lá to mọc tới ngọn và một rễ cái ngấm chất mộc lignin và dầy.
Thân, đơn (mặc dù phát hoa rất phân nhánh), cứng, gồm có những lá bên trên toàn bộ cả  chiều dài của cây và được bao phủ bởi những lông ngắn hoặc dài, mềm.
Lá, lá nguyên, nhiều, mọc cách, có lông mềm, nhưng thường với bìa phiến dợn sóng, có 2 loại là :
- là bên dưới có cuống, tương đối lớn (10 - 30 cm dài 2 - 5 cm rộng), và hẹp hình ellip hoặc hình dạng mũi dáo, có nghĩa là giống như lưỡi của con chó (Upadhyaya và al., 1988).;
- lá bên trên nhỏ hơn (mặc dù hơn 1 cm bề rộng ), ôm lấy thân, thuôn dài hơn hoặc dạng hình mũi dáo với bên dưới đáy tròn và thường với một số nhất định những mô tế bào tiếp tục đi về bên dưới gốc thân ( bị phân rã décurrente).
Phát hoa, chùm, nhiều nhánh thon dài, ở đỉnh ngọn hoặc ở nách lá (lá bắc giống như những lá ), dài ra với những hoa mọc cách trên những cuống hoa cong và tỏa ra.
Hoa, nhiều trên một số nhánh dài nằm một bên unilatérales của những nách lá bên trên thân. Cành hoa trưởng thành trải ra cong xuống, màu đỏ hoặc màu nâu, trở nên màu tìm theo tuổi, đạt đến 1 cm cao, khoảng 1 cm rộng, đối xứng, có dạng một ống ngắn với những thùy rộng và toả ra, nhưng trung tâm được khép lại bởi những nếp gấp chồng chéo lên nhau thành hình dạng vòng cung (fornices) với những cánh hoa mọc xen có thùy.
Đài hoa,  5, với những lông tơ mịn, từ 4 đến 6,5 mm dài (nhưng dài hơn 3 lần so với bề rộng ), thuôn dài, với một đầu cùn hoặc tròn..
Cánh hoa, màu nâu đến màu tím, 5, nhưng dính lại trên khnoảng 1/2 trên chiều dài cánh hoa thành một ống ngắn (khoảng cùng kích thước với chiều dài của đài hóa sépales) hiện diện những nếp gấp nhô ra (fornices) trong hình dạng như cái vòng cung cơ bản của những vùng  phân cách (mặc dù thường chồng chéo lên nhau), rộng, thùy tròn.
Vành hoa, vành hoa màu đỏ tím, bề rộng có dạng hình chuông, rộng khoảng 1 cm hoặc hơi nhỏ, những vòm nhô ra, tròn rộng.
Tiểu nhụy, 5, gắn vào ống cánh hoa, nhưng những bao phấn không vượt qua khỏi ống cánh hoa, nằm ở miệng họng của tràng hoa.
Nhụy cái, bầu noãn thượng 4 buồng sâu, 1 vòi nhụy dài hơn những hạt, và 1 nuốm.
Trái, chùm, 4 hạt, từ 5,5 đến 8 mm cao, có lông móc và hình quả trứng, tỏa xuống, cạnh ngoài phẳng và được viền bởi một vành nổi lên. Những đỉnh ngọn của 4 hạt được gắn vào bên dưới của vòi nhụy cái nhọn còn lại sau khi sấy khô phủ lên bởi những gai nhỏ và vẫn như một cụm duy nhất, di chuyển ra xa khỏi gốc của những bộ phận khác của những hoa còn lại.
Rễ, rễ cái rất cứng.
Bộ phận sử dụng :
Rễ, lá, chồi hoa.
Rễ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale được thu hoạch vào cuối mùa xuân của những cây năm tuổi thứ 2.
◦ Một báo cáo khác chỉ ra rằng nó thu hoach tốt nhất vào mùa thu và được sấy khô, bảo quản để sử dụng về sau.
▪ Những và những chồi hoa Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale được thu hoạch trong thời gian cây trổ hoa và được sấy khô để sử dụng về sau.
Thành phần hóa học và dược chất :
Prof. Schlagdenhauffen và E. Reeb, en 1892 (voir Amer. Jour. Pharm.), đã tìm thấy những thành phần của những rễ, những thân, những và những hạt của Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale giống như ở cây Vòi voi Heliotropium europaeum.
▪ Những rễ đã thu được bởi sự ly trích với dung môi éther de pétrole nóng cho ra một chất màu đỏ giống hệt như một chất từ giống cây alkanna.
▪ Một chất alcaloïde, cynoglossine, đã được tìm thấy trong những trích xuất alcooliques của những rễ và những hạt của 2 Cây, nhưng không có ở những thân hoặc những .
Những tác giả không thể thiết lập cho nó bất cứ đặc tính sinh lý physiologique nào của loại curarine, như lời tuyên bố của những người khác.
▪ Acides gras polyinsaturés của nhiều loài thực vật của họ Boraginaceae
par S. G. Yunusova; L. I. Khatmulina; N. I. Fedorov; N. A. Ermolaeva; E. G. Galkin; M. S. Yunusov (361-366).
▪ Những chất béo lipides của những hạt của những Cây như :
- Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale Cynoglossum officinale (1),
- Echium vulgare (2),
- và Cây Lappula squarrosa (3) của họ Boraginaceae
mọc trong Cộng hòa République Bachkortostan đã được nghiên cứu.
▪ 4 acides đa không bảo hòa polyinsaturés :
- linoléique (LA),
- γ-linolénique (GLA),
- α-linolénique (ALA),
- và stéaridonique (SA),
đã được xác định trong số những acides béo.
▪ Những acides chánh của những chất béo bảo hòa lipides neutres (NL) là 18: 1 và 18: 2 trong cây 1, ALA trong cây 23 và GLA trong số lượng xấp xỉ gần bằng nhau trong những 3 mẫu vật.
Số lượng cao hơn của SA (16,8%) đã được tìm thấy trong cây 3.
▪ Những thành phần không saponin hóa (savon hóa) saponifiés của những mẫu vật của những chất béo bảo hòa lipides neutres NL đã được xác định bởi GC / MS. Những alcaloïdes đã được quan sát trong nạt thịt pulpe và những lipides cực lipides polaires.
▪ Trong số tính đa dạng của những chất chuyển hóa biến dưởng métabolites thứ cấp sản xuất bởi những cây như một phương tiện phòng thủ chống lại những loài ăn cỏ herbivores và những vi khuẩn microbes,
- những alcaloïdes pyrrolizidiniques (AP)
thường phổ biến ở những họ Boraginaceae, những họ cúc Astéracées và một số nhất định những họ khác của thực vật.
▪ Những alcaloïdes de pyrrolizidine được khét tiếng như một hợp chất độc hại toxiques có thể :
- kiềm hóa alkyler ADN
và cũng gây ra :
- những đột biến mutations,
- và thậm chí ung thư cancer ở những loài động vật ăn cỏ herbivores và những con người humains.
Hầu như tất cả những giống của họ Boraginaceae đều tổng hợp loại alcaloïdes nầy.
▪ Cấu trúc của alcaloïdes pyrrolizidiniques
Hầu hết những alcaloïdes pyrrolizidiniques là những esters được hình thành giữa những aminoalcools và một hoặc 2 acides carboxyliques aliphatiques.
Những aminoalcools liên quan dẫn xuất của chất pyrrolizidine và được gọi là những nécines. Sự đặt tên của của một số nhất định trong số nó được dựa trên của gốc nécine :
- rétro.nécine,
- platy.nécine,
- rosmari.nécine etc.
◦ Chu ký luôn được thay thế bởi :
- một nhóm hydroxyméthyle (–CH2OH) trong C-1
và đôi khi với một chức năng alcool thức cấp (–OH) trong C-7 (rétronécine, héliotridine, platynécine)
hoặc trong C-2 (rosmarinécine)
hoặc trong C-6 (crotanécine). Cầu nối 1-2 có thể là gắp đôi.
◦ Những acides ester hóa estérifient những chất nécines được gọi là acides néciques.
Đây là những acides aliphatiques trong :
- C5 (acide angélique, acide tiglique),
- C7 (acide lasiocarpique, (+)-trachélanthique, (-)-viridiflorique, etc.),
- C8 (acide monocrotalique)
- hoặc C10 (acide sénécique, jacobinécique, rétronécique)
Những hợp chất là những mono- và diesters :
hoặc những diesters  macrocycliques (những pyrrolizidines 7,9-diols được ester hóa estérifiés bởi một acide dicarboxylique)
Con đường tổng hợp của những alcaloïdes nầy bắt đầu từ L-ornithine ở những thực vật và L-arginine, ở những động vật.
Đặc tính trị liệu :
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale có một lịch sử lâu dài của sự sử dụng như một thảo dược, mặc dù nó hiếm khi được sử dụng trong những nhà thảo dược herboristerie hiện dại.
▪ Những chứa chất :
- allantoïne,
một tác nhân có hiệu quả gia tốc quá trình chữa lành bệnh trong cơ thể .
▪ Tuy nhiên, cần phải thận trọng, bởi vì những hiệu quả gây nghiện narcotiques kết quả của những liều quá mạnh dùng bên trong cơ thể và cây có tiềm năng :
- gây ra ung thư cancérigène.
(mặc dù nó cũng được sử dụng trong chữa trị :
- ung thư cancer.
▪ Những và những rễ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale là thuốc :
- giãm đau analgésiques,
- chống bệnh trĩ antihémorroïdaires,
- chống co thắt antispasmodiques,
- làm se thắt astringentes,
- tiêu hóa digestives,
- chất làm mềm émollientes,
- và là chất gây nghiện nhẹ narcotiques.
và chứa những yếu tố gây ra những co thắt của những mô tế bào tissus và chất làm dịu và giãm da khi được áp dụng bôi tại chỗ ảnh hưởng.
▪ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale chứa những chất alcaloïdes :
- cynoglossine,
- và consolidine,
được dùng trong y học để làm giãm đau nhức douleur.
▪ Chúng làm suy yếu hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central và cũng có tiềm năng :
- gây ra ung thư cancérigènes.
▪ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale đã được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- ho toux,
- và tiêu chảy diarrhée,
mặc dù hiện nay nó chủ yếu được sử dụng bên ngoài cơ thể như một thuốc dán đắp cataplasme trên :
- những trĩ loét piles,
- những vết thương blessures,
- những vết thương nhỏ blessures mineures,
- những vết chích piqûres,
- và những vết loét ulcères.
▪ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale có một danh tiếng :
- chống ung bướu khối u antitumorale
cho những bệnh ung thư cancers của những loại khác nhau.
Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique được chế tạo từ những rễ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale.
▪ Nó rất có hiệu quả trong chữa trị bệnh :
- mất ngủ insomnie.
▪ Những trà thés được chế tạo từ những rễ và những Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale được sử dụng để chữa trị :
- ho toux,
- bệnh cảm lạnh rhume,
- những màng bị kích ứng membranes irritées,
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie.
▪ Nó cũng chứa chất alantoïne, một hợp chất sáp cireux đã được sử dụng để chữa trị để chữa trị :
- những vết loét của da ulcères de la peau,
- và ruột intestin.
▪ Tuy nhiên, thực vật này có thể gây ra những phản ứng da cutanées và nó có chứa những chất alcaloïdes làm suy yếu :
- hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central.
Hành động, sự sử dụng thuốc và liều lượng .
- vô hại anodine,
- làm mềm émolliente,
- và làm se thắt astringente,
nó được sử dụng trong chữa trị bệnh :
- ho toux,
- những viên nước catarrhes,
- ho ra máu hémoptysie,
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie.
Bên ngoài cơ thể, dưới dạng một thuốc dán đắp cataplasme, nó cho thấy rất lợi ích trong :
- những khối u mắc bệnh tràng nhạc tumeurs scrofuleuses,
- những phỏng cháy brûlures,
- bướu cổ goitre,
và có thể được áp dụng với nhiều lợi ích với những vấn đề mới gần đây :
- vết đụng dập contusions,
- hoặc viêm inflammations;
cũng để loại bỏ những đau nhức douleur, và đau nhức douleur đi kèm theo :
- những bộ phận kích ứng irritées,
- bầm tím meurtries,
- hoặc bộ phận xay sát pièces frottèes,
cung cấp một sự giãm hoàn toàn và ngay lập tức, đặc biệt là trong việc trầy xướt của những chân excoriation des pieds khi đi lại nhiều.
▪ Dung dịch trong cồn teinture hoặc áp dụng đắp lá tươi héo úa Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale sẽ loại bỏ những :
- sưng enflure,
- và vết bầm tím ecchymose liên tiếp,
với những va chạm hoặc những vết bầm tím ecchymoses nghiêm trọng.
Những hiệu quả tê liệt paralysants sẽ tạo ra bởi nó ở những động vật có xương sống.
▪ Thảo dược nầy, khi xưa được xem như một thuốc, ngày nay, chỉ được sử dụng trong vi lượng đồng căn homéopathie để chữa trị :
- ho toux,
- và chống tiêu chảy diarrhée,
cũng được sử dụng để chữa trị :
- những bệnh trĩ hémorroïdes.
Nó là độc hại toxique cho những động vật với máu lạnh.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Chữa lành mọi thứ ?
Lịch sử lâu đời của nó như một dược thảo nó đi vào danh sách ấn tượng của đặc tính và công dụng khác nhau và đa dạng; người ta trình bày ở đây «hàng loạt», không có bất kỳ hệ thống nào và đặc biệt không có một bất kỳ sự xác nhận thực tế nào của những hành động giả định nào. Người ta chủ yếu sử dụng rễ sấy khô và cắt thành những miếng hoặc những trái khô. Theo những vùng, những nước và thời kỳ, do đó người ta sử dụng như :
- thuốc làm se thắt astringente (« thắt chặt những mô tế bào resserre les tissus ») :
như một thuốc :
- chống tiêu chảy anti diarrhéique dùng bên trong cơ thể;
▪ Dùng bên ngoài cơ thể như hóa sẹo lành vết thương cicatrisante ;
◦ nước ép jus chà xát trên những chổ:
- ngứa démangeaisons ;
◦ Trong thuốc dán đắp cataplasme áp dụng lá nóng trên những nơi :
- phỏng cháy brûlures,
- và những vết nứt gerçures ;
- hoặc trên những bệnh trĩ hémorroïdes
- giãm đau analgésique,
- và chống viêm anti-inflammatoire :
◦ như thuốc làm dịu an thần calmante cho :
- chứng ho khan toux sèche,
và như thuốc làm dịu an thần calmante sédative ;
đặc tính sau cùng được đưa ra trong vi lượng đồng căn homéopathie chống lại :
- những mất ngủ insomnies.
▪ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale này, trước đây được xem như một cây thuốc officinale, và ngày nay chỉ sử dụng trong điều trị vi lượng đồng căn homéopathie để chữa trị :
- ho toux,
- và chống tiêu chảy diarrhée,
cũng được sử dụng để chữa trị :
- những bệnh trĩ hémorroïdes.
▪ Trong Irlande, nó có biệt danh « thảo dược bác sỉ herbe du docteur » để chữa trị :
- những bệnh ung thư cancers bên ngoàibên trong !
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1991 đã chứng minh rằng, sự đóng góp 60 mg/kg trích xuất khô của Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale trong thức ăn của những con bê veaux là gây ra tử vong létal cho sau nầy.
Do đó loài nầy có thể được xem như có hại nuisible khi nó hiện diện trong những đồng cỏ pâturages.
▪ Nguy hiểm được biết.
Langue de poule Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale chứa những alcaloïdes có thể gây ra :
- ung thư cancer
khi cây được tiêu dùng trong một số lượng lớn.
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale cũng là độc hại toxique nhẹ, không có trường hợp ngộ độc intoxication nào ở người đã được báo cáo, nhưng một số trường hợp nhất định gia súc đã bị ngộ độc empoisonnés.
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale có một mùi hôi và một hương vị khó chịu và do đó hiếm khi thấy ăn bởi những loài động vật.
▪ Sự tiếp xúc với Cây có thể gây ra :
- viêm da dermatite
ở những người nhạy cảm sensibles.
▪ Độc tính Toxicité.
Hầu hết những hợp chất alcaloïdes pyrrolizidiniques là :
- gây ra đột biến mutagènes,
- và cảm ứng khối u gan inducteurs tumeurs hépatiques.
Nó cho thấy ở chuột rat những hợp chất alcaloïdes pyrrolizidiniques như những chất :
- rétrorsine,
- senkirkine,
- monocrotaline,
- lasiocarpine,
- và symphytine,
và nhiều thảo dược (Cynoglossum officinale Tussilago farfara L., Symphytum officinale L., Petasites japonicus Maxim. v…v…) có thể gây ra :
- những ung bướu khối u gan tumeurs hépatiques
khi được quản lý dùng thường xuyên bởi đường uống.
Nó cũng được chứng minh bằng thí nghiệm rằng một số chất alcaloïdes trong nhóm là :
- gây đột biến mutagènes,
- và gây quái thai tératogènes.
▪ Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale chứa những alcaloïdes pyrrolizidiniques gây ra :
- ung bướu khối u tumorigènes.
Fu, PP, Yang, YC, Xia, Q., Chou, MC, Cui, YY, Lin G.,
"Hợp chất Alcaloïdes pyrrolizidiniques-gây ung bướu tumorigènes trong những dược thảo tàu và phương pháp ăn uống bổ sung diététiques suppléments ",
Journal of Food and Drug Analysis, Vol. 10, n ° 4, 2002, pp. 198-211.
Nó là độc hại toxique cho những loài và đặc biệt nguy hiểm cho những sở hữu chủ đồng cỏ pâturages.
▪ Những diesters macrocycliques
(sénécionine, rétrorsine, sénéciphylline, ridelline)
là những chất độc hại nhất toxiques. Sau đó đến những diesters, độc hại toxiques hơn so với những monoesters.
▪ Phản ứng phụ và an toàn.
Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale là nguy hiểm dangereuse và độc hại toxique.
Có rất nhiều mối quan tâm lo ngại trong việc sử dụng thuốc Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale, bởi vì nó chứa những chất hóa học, gọi là :
- alcaloïdes pyrrolizidiniques gây độc gan hépatotoxiques (AP),
nó có thể :
- ngăn chận tuần hoàn máu circulation sanguine trong những tĩnh mạch veines,
- và gây ra những tổn thương gan lésions hépatiques.
▪ Những alcaloïdes pyrrolizidiniques AP gây độc gan hépatotoxiques cũng có thể gây ra :
- bệnh ung thư cancers,
- và những dị tật bẩm sinh malformations congénitales.
▪ Nó cũng nguy hiểm khi áp dụng Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale trên da có vết trầy xướt éraflée.
Những chất hóa học nguy hiểm chứa trong Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale có thể nhanh chóng hấp thu bởi da trầy xướt peau éraflée và dẫn đến một độc tính toxicité nguy hiểm trên toàn cơ thể.
Tốt nhất nên tránh xa nó.
▪ Mang thai grossesse và cho con bú allaitement:
◦ Nó không an toàn sử dụng của những chế phẩm của Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale, có thể chứa những thành phần alcaloïdes pyrrolizidiniques AP gây độc gan hépatotoxiques trong thời gian mang thai grossesse.
Nh'ưng sản phẩm nầy có thể gây ra :
- những dị tật bẩm sinh malformations congénitales,
- và những tổn thương gan lésions hépatiques.
◦ Nó cũng nguy hiểm của sự sử dụng những chế phẩm của Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale có thể chứa những alcaloïdes pyrrolizidiniques AP gây độc gan hépatotoxiques nếu một phụ nữ đang cho con bú allaitez. Những chất hóa học nầy có thể truyền qua sữa mẹ và có thể gây hại cho trẻ sơ sinh bú sữa.
◦◦◦ Cẫn thận và tránh sử dụng những chế phẩm Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale nếu một người mang thai enceinte hoặc cho con bú allaitez.
▪ Bệnh gan maladie du foie:
Nó là mối lo ngại, những thành phần AP gây độc gan hépatotoxiques trong Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale có thể làm nghiêm trọng cho bệnh gan làm nặng hơn.
Ứng dụng :
- : làm mềm émollient;
- Rễ : làm dịu calmant, gây nghiện narcotique;
▪ Dùng bên ngoài : làm mềm émollient; làm se thắt nhẹ légèrement astringent;
▪ Liều lượng bên trong :
◦ Viêm phế quản ẩm bronchite humide:
- nước nấu sắc décoction của 30g rễ năm tuổi thứ 2 hoặc vỏ của những thân, đun sôi bouillir 15 phút; 2 tách mỗi ngày với mật ong miel;
◦ Bệnh kiết lỵ trực khuẩn dysenterie bacillaire:
- nước nấu sắc décoction của 20g rễ, đun sôi bouillir 10 phút; 2 tách mỗi ngày;
◦ bệnh dạ dày gastrectasie: nước nấu sắc décoction de 20g d'écorce; đun sôi bouillir 10 phút, 2 tách mỗi ngày;
◦ cầm máu hémoptysie:
- nước nấu sắc décoction của 30g rễ; đun sôi 10 phút; 2 tách mỗi ngày:
▪ Nhà dược thảo Herboristerie
Trong 1725, Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale đã được trình bày trong tự điển gia đình dictionnaire familial, Tự điển kinh tế oeconomique, trong một phần của một phương thuốc chống lại sự điên folie.
◦ Trong những năm 1830, Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale được biết đến trong Pháp France để chế tạo thành thuốc làm mềm émollient và lợi tiểu diurétique để sử dụng hằng ngày trong :
- những bệnh viêm maladies inflammatoires,
trong đặc biệt :
- những cơ quan tiết niệu organes urinaires.
▪ Lợi tiểu diurétique,
Những Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale đã được nghiền nát, sau đó đun sôi trong nước để trích xuất những dầu huiles, những hợp chất hữu cơ dễ bay hơi composés organiques volatils và những chất hóa học khác chimiques.
◦ Hỗn hợp có thể làm ngọt với cam thảo réglisse để thực hiện một Ptisan của Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale.
Sau khi nấu sắc nước décoction, trà thảo dược được dùng bên trong cơ thể 1 tách cho mỗi lần.
◦ Năm 1834, Bệnh viện Paris Hôpital de Paris đã cung cấp một công thức 2/3 ss — J đến Oij nước cho trà thé với Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale.
Cuối những năm 1830, những y sĩ ở Angleterre sử dụng Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale như :
- chống kích thích tình dục antiaphrodisiaque
để chống lại :
- những bệnh hoa liễu thái quá excès vénériens.
◦ Những nhà thảo dược herboristes sử dụng thảo dược cho :
- những bệnh trĩ loét pieux,
- những bệnh phổi maladies pulmonaires,
- ho dai dẳng toux persistante,
- hói đầu calvitie,
- những vết thương loét plaies và loét ulcères,
nhưng tính hiệu quả của tất cả những sự sử dụng này không được hỗ trợ bởi bất cứ bằng chứng khoa học nào.
● Sử dụng khác.
Những của Cây Khuyển thiệt thuốc Cynoglossum officinale đã được sử dụng như thuốc chống côn trùng répulsif chống lại những loài chuột chủi taupes trong những vườn và để bảo vệ của những trái fruits và rau cải légumes lưu trử chống lại những loài gậm nhấm rongeurs
Thực phẩm và biến chế :
Không.

Nguyễn thanh Vân



jeudi 16 avril 2020

Bán hạ tàu - Ban Xia - Crowdipper

Ban Xia - Crowdipper
Bán hạ tàu
Pinellia ternata - (Thunb.)Makino.
Araceae
Đại cương :
Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata ( chinois :半夏 , japonais :カラスビシャク ), crow-Dipper , là một cây có nguồn gốc ở Tàu, Nhật Bản Japon và Corée , nhưng nó cũng mọc như một loài xâm lấn của những loài cỏ dại tronng một số bộ phận của Châu Âu Europe (Áo Autriche , Đức Allemagne ) và Bắc Mỹ Amérique du Nord ( Californie , Ontario, Đông-Bắc của Mỹ nord-est des États-Unis ).
▪ Môi trường sống. 
◦ Trong những cánh đồng canh tác và ven đường trong khắp nơi ở Nhật Bản Japon (bao gồm những đảo Ryukyu). Tạo thành những bụi thảo mọc nơi bóng râm trên những sườn núi và trên những ven bờ của những dòng nước.
◦ Phân phối rộng rãi trong Tàu, trong những cánh đồng cỏ, những khu rừng thứ cấp, trên những khu đất hoang, đất canh tác, dưới 2500 m, ngoại trừ Nei Mongol, Qinghai, Xinjiang và Xizang ( một vùng ở Tibet ), Corée, được tịch hóa trong Âu Châu Europe và trong Bắc Mỹ Amérique du Nord.
Cây nầy có thể, thông qua những củ của nó, trở nên một loài xâm lấn hoặc thậm chí, như trường hợp ở Kruidtuin (Vườn thảo mộc) của thành phố Louvain, hành sử thông qua việc nhổ cỏ như loài cỏ dại thực sự. Nó cũng mọc như loài cỏ dại trong Bắc Mỹ Amérique du Nord.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân thảo gồm có những lá có 3 lá phụ, trong khi những hoa là mo spathe và phát hoa spadice dạng điển hình của họ Trầu Bà Araceae .
Lá, 2–5 lá phụ; cuống lá từ 15–20 cm, vỏ bao bên dưới cuống lá, củ bulbilles hiện diện trong vỏ bao gaine, ở phần gần hoặc ở giữa của cuống lá và ở gốc của phiến của những lá; phiến lá có 3 lá phụ, đôi khi bàn đạp với 5 lá phụ; lá phụ màu xanh lục nhạt ở mặt dưới abaxiales, màu xanh lục ở mặt trên adaxiales, hình ellip thuôn dài hoặc hình mũi dáo, bên dưới gốc dạng nêm cunéiforme, đỉnh lá đầu nhọn; lá phụ trước kích thước 3–10 × 1–3cm; lá phụ bên (3–) 4–7,5 × 1,8–2,3 cm, với 7–9 (hoặc 10) gân lá bên chính mỗi bên, hình dạng một gân lá tập hợp dọc theo bìa phiến lá.
Phát hoa, bao gồm một cuống hoa dài hơn những cuống lá, 25–35 cm; cuống hoa pédoncule có kích thước 15–25 cm.
Bao hoa Spathe, màu xanh lá cây xanh lục nhạt hoặc màu trắng nhạt, hiếm khi màu tím, hơi thắt lại 6–7cm; ống hẹp hình trụ 1,5–2 cm; phiến bao hoa màu xanh lục và thường màu tím ở bìa phiến bao, thuôn dài 4–5 × ca. 1,5 cm, đỉnh tù hoặc nhọn.
Phát hoa Spadix, một trục phát hoa trên đó mang những cơ quan sinh dục thụ 9–10cm; vùng cơ quan cái ca. 2 cm, nhuộm màu của bao hoa spathe;
- Hoa cái dầy đặc gồm có; nhụy hoa cái pistil từ 2,1 đến 2,2 mm; bầu noãn hình trứng ovaire ovoïde, ca. 1,8 × 1–1,1 mm; vòi nhụy riêng biêt style distinct, yếu, nướm stigmatisation rất nhỏ, khoảng 0,2 mm đường kính, không rộng hơn vòi nhụy style; vùng thụ stérile giữa những hoa cái và hoa đực ca. 3 mm;
- vùng hoa đực 5–7 mm; bao phấn hình thành trên đỉnh của chỉ bộ phân bào tử thực vật mang những túi bào tử bên trong chứa những vi bào tử (thecae) kéo dài ca. 1,2 mm, mở ra bởi một khe, phần kéo dài của hoa đi kèm với cuống hoa appendice thẳng hoặc cong 2 lần hình chữ S sigmoïde, màu xanh lục đến màu tgím 6–7 (–8) cm.
Quả mọng, màu xanh lục vàng nhạt đến trắng nhạt, hình trứng, nuốm stigmate và vòi nhụy còn lại không rụng, chứa 1 hạt . 2n = 28.
Củ, hình cầu, 1-2 cm đường kính.
Bộ phận sử dụng :
Rễ, củ tubercule
Rễ Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata được thu hoạch vào mùa hè và được sấy khô bảo quản để sử dụng về sau, nó không được sử dụng tươi.
Thành phần hóa học và dược chất :
Thành phần hóa học của những củ tubercules Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata (Araceae) và lợi ích phân loại hóa học chimiotaxonomique ( mối liên hệ giữa việc phân loại chất hóa học và  những thành phần chất sống )
▪ Công trình mô tả sự phân lập và đặc trưng hóa của 20 hợp chất từ những củ tubercules của Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata (Thunb.) Breit, bao gồm :
- 17 lignanoides (1–17),
- và 3 alcaloïdes (18–20).
Tất cả những cấu trúc đã được thiết lập dựa trên sự phân tích của những dữ liệu quang phổ spectroscopiques,
- báo cáo đầu tiên của những hợp chất 3–11 và 13–18 của giống Pinellia,
- và lấn đầu tiên báo cáo của những hợp chất 3–4, 6–9, 11 và 13–18 của họ Cây Bản hạ Araceae.
Ngoài ra, những đường sinh tổng hợp biosynthèse của 17 lignanoides được tóm tắt, như sau :
▪ Một phương pháp sắc ký lỏng chromatographie en phase liquide kết hợp với một phương pháp quang phổ khối lượng 4 cực spectrométrie de masse quadripolaire với sự ion hóa ionisation bởi kỹ thuật quang phổ khối lượng bằng cách bay hơi bởi dung môi dễ bay hơi électrospray (LC-ESI-QTOFMS / MS) trong phương thức ion dương positif và âm négatif cũng được sử dụng để xác định danh tánh của 17 lignanoides nầy của những củ tubercules Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata .
▪ Sáu (6) hợp chất đã thu được và đã được xác định như :
- stigmast-4-en-3-one (I),
- cycloartenol (II),
- 5α, 8α-epidioxyergosta-6,22-dien-3-ol (III),
- β-sitosterol-3- O-β-D-glucoside-6'-eicosanate (IV),
- α-monpalmitine (V),
- β-sitostérol (VI).
Xét nghiệm hoạt tính sinh học bioactif đã chỉ ra rằng : hợp chất III đã hoạt động chống lại những dòng tế bào ung bướu người cellulaires tumorales humaines :
- HCT-8, Bel-7402, BGC-823, A549, A2780.
▪ Những hợp chất I-IV đã được phân lập từ Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata cho lần đầu tiên. Hợp chất II là triterpène đã được phân lập lần đầu tiên từ giống nầy.
Hợp chất III có thể là một trong những thành phần :
- chống ung bướu khối u antitumoraux của Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata.
Củ tubercule của Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata có một hương vị cay nồng.
◦ Một chất glycoside kích ứng đã được phân lập và đã được phát hiện bao gồm :
- 3,4-dihydroxybenzaldéhyde,
- và D-glucose.
- Chất aglycone có một hương vị chát mạnh âcre.
Chlorhydrate d'alcaloïde éphédrine đã được phân lập với một năng suất 0,002% như một nguyên hoạt chất principe actif của củ Bán hạ Pinellia tuber.
◦ Chất pinelline, một chất đạm thực vật dạnh tinh thể protéine végétale cristalline đã được phân lập từ những củ tubercules của Cây Bán hạ Pinellia, được phát hiện có một hàm lượng thấp thành phần cystéine và một trọng lượng phân tử poids moléculaire tương đối thấp 10500 và không chứa hexose.
◦ Một chất ức chế thành phần trypsine cũng đã được phân lập từ những củ tubercules. Nó ức chế chất trypsine, nhưng không ức chế chymotrypsine, kallikréine hoặc papaïne, và trọng lượng phân tử poids moléculaire được ức định là 40 800.
Ngoài những thành phần mô tả bên trên, những hợp chất như :
- acide palmitique,
- acide stéarique,
- acide 6,7-dihydroxystéarique [5],
- fJ-sitostérol [6],
- fJ-sitostéryl-D-glucoside [7],
- và choline [6]
đã được phát hiện trong rễ .
◦ Những acides aminés, như là :
- acide aspartique,
- acide glutamique,
- arginine,
- và acide fJ-aminobutyrique
cũng đã được phân lập và xác định từ củ Cây Bán hạ Pinellia tuber.
▪ Nghiên cứu hóa học.
Cho đến ngày nay, một số thành phần hóa học của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  đã được phân lập và xác định, như là :
- những alcaloïdes,
- acides béo,
- acides aminés,
- lectines,
- cérébrosides,
- dầu dễ bay hnơi huiles volatiles,
- và phénylpropanoïdes.
◦ Alcaloïdes
Những alcaloïdes là những thành phần hoạt tính chánh của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR). Vào năm 1978, hai (2) alcaloïdes puriques, éphédrine và choline đã được phân lập từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae PR (Oshio và al., 1978). Vào năm 1987 và 1997, 2 nhà nghiên cứu người Nhật bản đã phân lập được chất guanosine và thymidine của căn hành Bán hạ PR, tương ứng (Lu và Zhao, 1987; Wan, 1997).
◦ Những thành phần như :
- cytidine,
- uracile,
- uridine,
- inosine,
- pédatisectine B,
- và adénosine
đã được phân lập từ Cây nầy trong những năm gần đây (Cai và al., 2004; Xu và al., 2010; Yang và al., 2007b).
◦ Cho đến ngày nay, tổng số 10 alcaloïdes đã được phân lập và xác định từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR).
- éphédrine,
- guanosine,
- và uridine
thường được sử dụng như chất đánh dấu kiểm soát phẩm chất qualité cho những Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) (Chen và al., 2011; Yu và al., 2007).
Những cấu trúc của những đã được xác định của những alcaloïdes của Căn hành Cây Bán hạ , là như sau :
- 1. Ephedrine (C10H15NO);
- 2. Choline (C5H14NO+ );
- 3. Guanosine (C10H13N5O5);
- 4. Thymidine (C10H14N2O5);
- 5. Cytidine (C9H13N3O5);
- 6. Uracil (C4H4N2O2);
- 7. Uridine (C9H12N2O6);
- 8. Inosine (C10H12N4O5);
- 9. Pedatisectine B (C5H5N5);
- 10. Adenosine (C10H13N5O4).
◦ Acides béo.
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) giàu acides béo, nó chứa một hàm lượng tương đối cao những acides béo, như là :
- acide linoléique (37,1%),
- acide palmitique (15,2%),
- acide 8-octadécénoïque (6,5%),
- acide oléique (3,4%),
- acide octadécanoïque (1,4%)
- và acide pentadécanoïque (1,1%)
trên tổng số những acides béo. (Huang và al., 2011a; Nagai và al., 2002; Shirahata và al., 2003; Zhang và al., 2002).
- Acide pinellique
là một hợp chất mới đã được phân lập từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), cấu trúc của acide pinellique đã được xác định như :
◦ l'acide 9S, 12S, 13S-trihydroxy-10E-octadécénoïque (Nagai và al., 2002; Shirahata và al., 2003).
Những acides béo đã được xác định của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có công thức phân tử formule moléculaire, như sau:
- 2-hydroxy-hexacosanoic acid C16H32O3 (Nagai và al., 2002) 2
- 10,13-eicosadienoic acid C21H38O2 (Zhang et al., 2002) 3
- 11-eicosenoic acid C20H38O2 (Zhang và al., 2002) 4
- 7-hexadecenoic acid C16H30O2 (Zhang và al., 2002) 5
- 8-octadecenoic acid C19H36O2 (Zhang và al., 2002) 6
- 9-hexadecenoic acid C16H30O2 (Zhang và al., 2002) 7
- 9-oxo-nonanoic acid C9H16O3 (Zhang và al., 2002) 8
- Docosanoic acid C22H44O2 (Zhang và al., 2002) 9
- Eicosanoic acid C20H40O2 (Zhang và al., 2002) 10
- Heptadecanoic acid C17H34O2 (Zhang và al., 2002) 11
- Hexadecanoic acid C16H32O2 (Zhang và al., 2002) 12
- Linoleic acid C18H32O2 (Huang và al., 2011a) 13
- Octadecanoic acid C18H36O2 (Zhang và al., 2002) 14
- Oleic acid C18H34O2 (Zhang và al., 2002) 15
- Palmitic acid C16H32O2 (Zhang và al., 2002) 16
- Pentadecanoic acid C15H30O2 (Zhang và al., 2002) 17
- Pinellic acid C18H34O5 (Nagai và al., 2002) 18
- Succinic acid C4H6O4 (Shirahata và al., 2003) 19
- Triacontanoic acid C30H60O2 (Zhang và al., 2002) 7
◦ Acides aminés
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) chứa 17 loại acides aminés, trong đó, 7 loại acides aminés thiết yếu (Ji và Yang, 1997; Li và al., 1990).
Hàm lượng tổng số acides aminés (TAA) trong Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR)  thay đổi đáng kể giữa những vùng khác nhau của Tàu.
Trong những tỉnh của Tứ Xuyên Sichuan, Hồ Bắc Hubei, Vân Nam Yunnan và Quý Châu Guizhou, hàm lượng của TAA trong Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma RP là như sau :
- 15,64%, 19,18%, 13,69%,
- và 12,18%, tương ứng (Mo, 2010).
17 loại acides aminés của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma PR.
Acides aminés xác định từ PR. có công thức phân tử moléculaire
- 1 Acide aspartique C4H7NO4 (Li và al., 1990) (Ji và Yang, 1997) (Mo, 2010)
- 2 Sérine C3H7NO3
- 3 Acide glutamique C5H9NO4
- 4 Glycine C2H5NO2
- 5 Histidine C6H9N3O2
- 6 Arginine C6H14N4O2
- 7 Threonine C4H9NOH 9N
- 10 Cystine C6H12N2O4S2
- 11 Tyrosine C9H11NO3
- 12 Valine C5H11NO2
- 13 Méthionine C5H11NO2S
- 14 Lysine C6H14N2O2
- 15 Isoleucine C6H13NO2
- 16 Leucine C6H13NO2
- 17 Phénylalanine C9H11NO2
◦ Thành phần Lectines.
Những lectines đã nhận được một sự chú ý lớn trong những thập kỹ cuối cùng do những hoạt động sinh học biologiques khác nhau và độc tính toxicité  nghiêm trọng của nó (Dammea và al., 1998).
Lectine của Cây Bán hạ tàu Penelliae ternata (PTL)
là một chất đạm dị vòng protéine hétérotétramérique ở 3 vị trí cầu nối với mannose, và bao gồm 4 chuổi polypeptidiques liên kết không cộng hóa trị.
Tất cả có một kích thước tương tự (11-14 kDa) nhưng những điểm đẳng điện isoélectriques khác nhau.
Một số nghiên cứu cho thấy rằng PTL bao gồm có :
- 21 tờ xếp nếp β được kết nối với những đường xoay và những cuộn dây (Yao và al., 2003).
Nguyên cứu khác chỉ định rằng PTL bao gồm 2 tiểu đơn vị (11 kDa và 25 kDa), được liên kết bởi những cầu nối hydrogène (Wu và al., 2012).
◦ 6KDP, một lectine khác đặc trưng của một trọng lượng phân tử 6 kDa, đã được phân lập từ phần đoạn của globuline thô từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma PR.
Hàm lượng 6KDP thay đổi từ 5,8 đến 8,3% nguồn gốc từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) trong những vùng khác nhau của Tàu (Kurata và al., 1998).
Trong năm 2012, một lectine mới với một hoạt động chống ung bướu khối u antitumorale đáng chú ý đã được phân lập từ những củ của Cây Bán hạ tàu Pinelliae ternata.
Lectine này là một homodimère của 2 tiểu đơn vị giống nhau của 12,09 kDa, và nó chứa 3,2% của đường trung hòa.
Đây là một lectine đầu tiên với một chuổi  N-terminale độc đáo của 10 acides aminés (QGVNISGQVK) (Zuo và al., 2012).
Tiểu đơn vị của PTL với trọng lượng phân tử 12,2 kDa đã được phân lập bởi sắc ký ái lực chromatographie d'affinité MannoseSepharose 4B.
Nó có một sợi chất đạm đơn giản có một hoạt động mạnh :
- kết tập agglutination trên những hồng huyết cầu globules rouges của chuột,
- và một hoạt động chống ung bướu khối u anti-tumorale (Feng và al., 2012).
◦ Dầu dễ bay hơi Huiles volatiles.
Trong năm 1995, 65 thành phần hóa học, bao gồm :
- anéthole,
- citral,
- 3-acétylamino-5-méthylisoxazole,
- éther de butylène,
- éthylpalmitate,
- và octène
đã được xác định từ những dầu dễ bay hơi huiles volatiles của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) bởi những phân tích sắc ký khí chromatographie en phase gazeuse và quang phổ khối lượng spectromètre de masse (GC-MS) (Fu, 2005; Wang và al., 1995).
Trong năm 2014, Iwasa và al. thâm cứu những thành phần hóa học chimiques của những dầu dễ bay hơi huiles volatiles bởi phân tích GC và GC-MS.
Tổng cộng, 114 hợp chất đã được xác định, thể hiện :
- 90,6% tổng số dầu.
Những thành phần chiếm ưu thế của những dầu dễ bay hơi huiles volatiles là :
- β-cubebène (8,8%),
- attrylon (7,8%),
- méthyl eugénol (6,2%),
- cadinène (5,3%),
- α-curcumène (4,6%),
- và α-muurolène (3,1%) (Iwasa và al., 2014).
Chức năng những nhóm chánh của những dầu dễ bay hơi huiles volatiles là :
- những hydrocarbures thơm aromatiques (41,3%),
- những éthers (13,7%),
- những alcools thơm aromatiques (11,3%),
- những esters (5,2%),
- và những cétones (5,1%) (Iwasa và al., 2014).
◦ Thành phần Cérébrosides
Nhiều cérébrosides bao gồm :
- 1-O-glucosyl-N-2′-acétoxypalmitoyl-4,8-sphingodienine,
- 1-O-glucosyl-N-2′-hydroxypalmitoyl-4,8-sphingodienine,
- 1-Oglucosyl-N-2′-acétoxystéaroyl-4,8-sphingodienine,
- 1-O-glucosyl-N-2′-hydroxystéaroyl-4,8-sphingodiénine,
- 1-O-glucosyl-N-2′-palmitoyl-4,8-sphingodienine,
- 1-O-glucosyl-N-2′-hydroxyeicosanoyl-4,8-sphingodienine,
- và pinelloside
đã được phân lập từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) (Chen và al., 2006).
◦ Chất pinelloside là một cérébroside mới chống vi khuẩn antimicrobien được phân lập từ củ tươi của Cây Bán hạ Pinelliae ternata, và cấu trúc hóa học của nó được minh họa như sau :
- 1-O-β-D-glucopyranosyl- (2S, 3R, 4E, 11E) -2- (2′R-hydroxyhexadecenoylamino) -4,11-octadécadiène-1,3-diol (Maruno, 1997).
◦ Thành phần chất thơm aromatiques.
Một số hợp chất thơm bao gồm:
- shogaol, gingérol (Yamamoto, 1991),
- acide férulique, acide caféique, acide vanillique, acide cinnamique (Wan, 1997),
- chrysophanol (Yang và al., 2007b),
- acide gallique (Xu và al., 2010),
- alcool p-coumarylique, alcool 3,4-dihydroxycinnamylique và coniférine (Han và al., 2006)
đã được xác định từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR).
◦ Thành phần khác.
Ngoài những hợp chất nêu trên, Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) cũng có một số những hợp chất khác, như là :
- flavonoïdes (thí dụ, baicaline, baicaleine) (Wan, 1997),
- stérols
(chẳng hạn như,
β-sitostérol,
◦ cycloartenol,
◦ 5α, 8α-épidioxyergosta-6,22-dién-3β-ol,
◦ và daucostérol) (Yang và al., 2007a)
◦ và những furannes
(thí dụ,
◦ 5-hydroxyméthyl-2-furancarboxaldéhyde,
◦ 5- (2,3- dihydroxypropoxy) méthyl-2-furancarboxaldéhyde,
◦ 5- (1,3-dihydroxypropane-2- yloxy) méthyl-2-furancarboxaldéhyde) (Maruno, 1997).
Đặc tính trị liệu :
Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata là một thảo dược. Một bộ phận ngầm dưới đất được gọi là củ tubercule được sử dụng để bào chế được sử dụng làm thuốc.
Rễ Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata là  :
- chống nôn mữa antiémétique,
- chống bệnh liên quan đến viêm và sốt antiphlogistique,
- long đờm expectorante,
- hạ nhiệt fébrifuge,
- thúc đẩy sự bài tiết nước bọt sialagogue,
- và thu liễm, làm săn da styptique.
Nó cũng tăng cường lá lách rate.
▪ Nghiên cứu hiện đại cho thấy rằng phương thuốc nầy rất có hiệu quả để kiểm soát :
- buồn nôn nausées,
- và những ói mữa vomissements.
▪ Nó cũng là một thành phần của một đơn thuốc Tàu để loại bỏ :
- những sạn mật calculs biliaires không cần phẩu thuật sans chirurgie,
một quá trình thường gây ra những buồn nôn nghiêm trọng nausées sévères.
Rễ Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata cũng được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- ho toux với một đờm nước mỏng mince flegme aqueux,
- và một viêm dạ dày gastrite.
Rễ tươi Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata cực kỳ chát âcre và chứa những chất độc toxines, chúng được trung hòa khi được sấy khô hoặc ngâm vào trong nước trà thé hoặc trong giấm vinaigre.
▪  Trích xuất của Cây Bán hạ tàu Pinelliae ternata đã được chứng minh rằng là có những hoạt động :
- giâm đau analgésique,
- chống nôn mữa antiémétique,
- chống ung thư anticancéreuse,
- và an thần sédative.
Kinh nghiệm dân gian :
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), tên tiếng tàu là : Banxia), Củ sấy khô của Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata (Thunb.) Breit., là một thảo dược truyền thống tàu.
Nó được ghi nhận lần đầu tiên trong Thần Nông thảo dược cổ điển Shen Nong Ben Cao Jing (tác phẩm kinh điển của Thần Nông Shen Nong, 神農 本草 ), một quyển sách có từ 2000 năm.
Trong Dược điển tàu (CP2010, xuất bản năm 2010 de CP), những mối quan hệ công chúng đã được ghi nhận như có những hành động sau đây:
- làm khô độ ẩm humidité de séchage,
- và giải quyết những đờm mucosités (燥濕 化痰),
- chống lại dòng chảy ngược để kiểm soát những ói mữa vomissements (降逆 止嘔),
- và phân tán sự tắc nghẽn congestion,
- và làm tiêu tán thể khối dissipation masses (消痞 散結).
- phân tán những nút disperser les nœuds phối hợp với hoa công chúa magnolia
Mặc dù, độc hại toxique, Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  thường được sử dụng để chữa trị :
- ho toux,
- những chất nhầy mucosités,
- những ói mữa vomissements,
- và ung thư cancer.
▪ Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata là một thành phần phổ biến trong những sản phẩm kết hợp của y học truyền thống tàu.
Nhiều trong số những sản phẩm nầy được sử dụng cho :
- những buồn nôn ốm nghén nausées matinales.
▪ Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata, kết hợp với gừng gingembre, là một thành phần của công thức cơ bản thảo dược Xiao-Ban-Xia-Tang (XBXT), được sử dụng để ngăn ngừa :
- những ói mữa vomissements.
▪ Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata cũng được sử dụng trong y học Nhật Bản japonaise Kampo. Đây là một thành phần của Sho-seiryu-to (SST), được sử dụng cho :
- bệnh cúm grippe.
Ngoài Y học tàu, Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata được sử dụng cho :
- buồn nôn nausées,
- những buồn nôn ốm nghén nausées matinales,
- ho toux,
- ngừa thai contrôle des naissances,
- bệnh cúm grippe,
- cúm lợn grippe porcine,
- và đau nhức douleur và sưng enflure (bệnh viêm inflammation).
▪ Thảo dược được sử dụng trong nhà thuốc thảo dược tàu (thuốc thô)
Thảo dược nầy là độc hại toxique dưới dạng thô và phải được xử lý. Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata được biết đến như là một thảo dược có hiệu quả để loại bỏ :
- đờm ẩm humidité-mucosités,
một trong những nguyên nhân của bệnh béo phì obésité trong y học truyền thống tàu.
Một nghiên cứu cho thấy rằng những liều cao của trích xuất Cây Bán hạ Pinellia những hiệu quả của quá trình sinh nhiệt thermogenèse và sự oxy hóa của acide béo gras oxydation trong những chuột rats Zucker .
▪ Trong vùng nguồn gốc của nó, loài này được trồng với những mục đích y học. Nó chứa một chất alcaloïde có những đặc tính tương tự như chất coniineéphédrine.
Y học tàu sử dụng như thuốc thông mũi décongestionnant của những đường hô hấp voies respiratoires, như thuốc tống hơi carminatif chống lại :
- những đầy hơi đường ruột flatulences intestinales,
và như thuốc :
- chống nôn  mữa antiémétique.
▪ Những củ độc tubercules venimeux được sử dụng trong y học truyền thống tàu để chữa trị :
- ho toux,
- giãm hạ đờm flegme,
- ngưng ói mữa vomissements,
 và dùng bên ngoài cơ thể để chữa trị :
- viêm vú mammite,
- và viêm tai giữa otite moyenne.
Nghiên cứu :
● Nghiên cứu dược lý pharmacologiques.
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có những hoạt tính sinh học bioactivités đa dạng, như là những đặc tính :
- chống khối u antitumorales,
- long đờm expectorantes,
- chống ho antitussives,
- an thần sédatives,
- chống nôn mữa antiémétiques,
- và thôi miên hypnotiques.
Phương diện lâm sàng clinique, nó thường được sử dụng trong những đơn thuốc của Y học truyền thống tàu MTC để dùng cho :
- ho toux,
- những đờm mucosités,
- ói mữa vomissements,
- và ung thư cancer.
● Hoạt động chống ung thư anti-cancéreuse.
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có thể làm mềm những khối u cứng grumeaux durs (軟堅散結) và được sử dụng theo truyền thống để chữa trị những triệu chứng của Y học truyền thống tàu MTC tương tự với những ung thư cancers, bao gồm :
- ung thư phổi cancer du foie (Feng và al., 2010; Huang và al., 2007b; Wu và al., 2011),
- ung thư trực tràng cancer du côlon (Zhen, 2004),
- ung thư dạ dày cancer gastrique (Chen và al., 2014), v…v…
Những alcaloïdes, những acides hữu cơ, những chất đạm protéines, những đường đa polysaccharides và một số hợp chất nhất định đơn lẽ hiện diện trong Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (RP) có những hoạt động :
- chống ung thư anticancéreuses trong những mô hình thực hiện trong ống nghiệm in vitro và trên cơ thể sinh vật sống in vivo.
Một trích xuất éthanolique của PR ức chế :
- sự tăng sinh prolifération của những tế bào HepG2 tế bào ung thư gan cancéreuses du foie (Huang và al., 2007a; Huang và Zhang, 2009; Zhen, 2004).
Phần đoạn 15 acétate d'éthyle của trích xuất nước và phần trầm hiện với 30% (NH4) 2SO4 của những chất đạm protéines chế biến từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), gây ra lập trình tự hủy apoptose trong những tế bào Bel-7402 của ung thư gan cancer du foie (Fu et Li, 2007; Huang, 2006).
Những đường đa polysaccharides của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  ức chế sự tăng sinh tế bào prolifération cellulaire và gây ra lập trình tự hủy apoptose trong những tế bào phéochromocytome P12 và những tế bào neuroblastome SHSY5Y (Zhao và al., 2006). Những nồng cao (0,5 và 1 mg / ml) của PTL ức chế một cách đáng kể sự tăng sinh  prolifération của những tế bào HeLa của ung thư cổ tử cung col utérin phụ thuộc cho cả hai (2) thời gian và liều lượng (Feng và al., 2012).
Ngoài ra, PTL (vời tiểu đơn vị của 12,1 kDa), những alcaloïdes và những acides hữu cơ organiques hiện diện trong Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  thể hiện một sức mạnh gây độc cytotoxicités trong những tế bào bạch huyết cellules leucémiques K562 (Lu và al., 1995).
Một số nhất định hợp chất đã được phân lập từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  cũng có những hoạt động chống ung thư anticancéreuses.
Một hợp chất :
- 5α, 8α- épidioxyergosta-6,22-dien-3-ol
được tìm thấy là gây độc tế bào cytotoxique trong nhiều tế bào ung thư cellules cancéreuses,  như những :
- HCT-8 (tế bào ung thư trực tràng cancéreuses du côlon),
- Bel-7402, BGC-823 (tế bào ung thư dạ dày cancéreuses gastriques) ,
- A549 (tế bào ung thư phổi cancéreuses du poumon),
- và A2780 (tế bào ung thư buồng trứng cancéreuses ovariennes),
những giá trị IC50 của hợp chất nầy trong 5 tế bào ung thư cancéreuses là tương ứng của 2,1, 3,4, 4,9, 2,4 và 3,1 μg / mL (He và al., 2005).
Một hợp chất khác, :
- β-sitostérol,
ức chế đáng kể sự tăng sinh prolifération của những tế bào SiHa của ung thư cổ tử cung cancer du col utérin trong cả 2 cách theo thời gian và liều lượng (Wang và al., 2009). Quản lý dùng bên trong dạ dày intragastrique của một trích xuất éthanolique của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), với một liều 30 mg / ml trong 15 ngày, kéo dài đáng kể thời gian sống của những chuột ascitiques và ức chế sự tăng trưởng ung bướu khối u tumorale ở những chuột mang khối u tumeurs (Zheng, 2004).
Quản lý dùng bên trong dạ dày intragastrique của những polysaccharides của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), với một liều 0,6 g / kg ức chế sự tăng trưởng ung bướu khối u tumorale trong khối u ác tính gan hépatome của chuột H22, khối u ác tính sarcome 180 (S180) và carcinome d'ascite d'Ehrlich (EAC) của những chuột mang tế bào ung thư và tỹ lệ ức chế là 36,3%, 50,7 % 16 và 33,0%, tương ứng (Zhao và al., 2006).
Ngoài ra, tiêm vào trong phúc mạc intrapéritonéale 3 liều lectine (0,85, 2,30 và 3,25 mg / kg) ở những chuột mang khối u tumeurs S180 giãm liều lượng theo khối lượng của khối u tumeur và những nồng độ của sự ức chế là 15,6%, 32,1% và 36,2% tương ứng.
Một trong những cơ chế hành động chống khối u anti-tumorale của những lectines có thể là sự ức chế của sự chuyển đổi G1 / S và ngưng chu kỳ tế bào cycle cellulaire G1 sau đó  (Zuo và al., 2012).
● Hoạt động chống ho antitussives và long đờm expectorantes.
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), thường được sử dụng để chữa trị lâm sàng :
- bệnh ho toux,
- và những đờm mucosités.
Những nghiên cứu khoa học cho thấy rằng Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có hoạt động chống ho antitussives và long đờm expectorantes mânh (Su và al., 2013).
Thông thường, 2 mô hình cổ điển,
- mô hình đối với ho toux gây ra bởi rượu mùi ammoniac liqueur d'ammoniac,
- và mô hình bài tiết chất phénol màu đỏ rouge de phénol,
được sử dụng để đánh giá những hoạt động chống ho antitussives và long đờm expectorantes của những thuốc thử nghiệm, tương ứng (Han và al., 2010; Shang và al., 2010; Wang và al., 2012).
Quản lý dùng bên trong dạ dày intragastrique của một trích xuất nước của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  cho thấy những hiệu quả chống ho antitussifs và long đờm expectorants ở chuột. Trích xuất này kéo dài đáng kể thời gian ủ incubation ho toux, giãm tần suất ho toux và cải thiện sự bài tiết excrétion chất màu đỏ phénol của khí quản trachéal.
Điều thú vị, trích xuất nước của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có những hiệu quả chống ho antitussifs và long đờm expectorants mạnh hơn trích xuất éthanol (Wang và al., 2008).
Một loại thành phần chống ho antitussifs và long đờm expectorants hoạt tính của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae PR là acide hữu co (Bai và al., 2004; Zhang và Wu, 2001).
● Hoạt động chống nôn antiémétique.
Những nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  ức chế đáng kể những ói mữa vomissements gây ra bởi sulfate đồng cuivre 17 ở những chó, và nó cũng loại bỏ những ói mữa vomissements gây ra bởi chất apomorphine ở những loài chồn visons (Zhao và al., 2005).
Quản lý dùng bên trong dạ dày intragastrique của những alcaloïdes của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), với một liều lượng 30 mg / kg đã cho thấy những hiệu quả ức chế đáng kể trên những ói mữa vomissements gây ra bởi thuốc cisplatineapomorphine ở những loài chồn visons (Wang và al., 2005).
Ngoài ra, một protéine globuline 6KDP (một trong những chất đạm protéines chánh của PR) (Kurata và al., 1998), đường đa polysaccharide (PT-F2-I) (Maki và al., 1987), những acides béo và cérébroside (Wan, 1997) bào chế từ những Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), tất cả cho thấy có những hoạt động chống nôn mữa antiémétiques.
Những dẫn xuất của acide glucuronique tan trong nước và những glycosides của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), được biết như những thành phần chống nôn mữa antiémétiques tích cực.
● Hoạt động khác.
Một trích éthanolique của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), thể hiện một hoạt động kháng vi khuẩn antimicrobienne. Nó ức chế có hiệu quả sự tăng trưởng của những vi khuẩn bactéries Gram-dương positives và âm négatives theo cách phụ thuộc vào liều (Huang và al., 2011b).
Những chất đạm protéines bào chế từ Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  có một hiệu quả chống thai kỳ anti-grossesse phát triển sớm ở chuột và tỹ lệ chống mang thai sớm grossesse anti-précoce là 100% (Chen và al., 1984).
Ngoài ra, Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có những hoạt động an thần  sédatives, thôi miên hypnotiques, chống co giật anticonvulsivantes và chống viêm anti-inflammatoires (Maki và al., 1987; Wu và al., 2011).
● Nghiên cứu độc tính học toxicologiques
Những Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), đã được ghi nhận cho lần đầu tiên như độc hại toxique ở Thần Nông bản thảo Sheng Nong Ben Cao Jing (một cuốc sách đã viết cách đây 2000 năm).
Ăn từ 0,1 đến 0,8 g của PR thô cho một người có thể gây ra :
- một sự ngộ độc empoisonnement và tử vong.
Những nghiên cứu cho thấy rằng Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), gây ra :
- những độc tính kích ứng toxicités irritantes,
- gây quái thai tératogènes,
- gây ung thư cancérigènes,
- gây đột biến mutagènes,
- và sinh sản reproductives,
cũng như ;
- những tổn thương cơ quan lésions d'organes.
Những alcaloïdes, những tinh thể cristaux d'oxalate de calcium và những tinh thể hình kim lectines d'aiguille đã được xem như những chất độc hại toxiques (Ge và Wu, 2010; Liu và al., 2011; Wu và al., 2015; Wu và al., 2011).
● Độc tính cấp tính toxicités aiguës và lâu dài long terme
Độc tính cấp tính của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), đã được đánh giá bằng cách xác định liều lượng gây chết trung bình (DL50).
DL50 của sự gián đoạn Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), được quản lý dùng bởi đường bên trong dạ dày intragastrique ở những chuột là 42,7 g / kg (thuốc thô) (Zhang và al., 2011), trong khi DL50 của trích xuất Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR) được quản lý dùng tiêm vào trong phúc mạc intrapéritonéale ở những chuột là 325 mg / kg (trích xuất nước) (Yang và al., 1988).
Liều tử vong tối thiểu (MLD) của trích xuất nước của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), quản lý dùng bởi đường bên trong dạ dày intragastrique ở những chuột là 300,0 g / kg, trong khi liều tối đa cho phép (MTD) của một trích xuất éthanolique của PR là 99,2 g / kg.
Liều lượng tương đương nầy với 2333,3 và 771,6 lần tương ứng so với liều lượng hàng ngày của một người lớn 70 kg ở lâm sàng clinique (Lu và al., 2010).
Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy rằng những giá trị MTD của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), trích xuất acide-nước và trích xuất acide-éthanol PR ở chuột là từ 29,6 và 27,2 g / kg tương ứng, điều nầy tương đương với 230,2 và 211,6 lần liều lâm sàng clinique.
Ngoài ra, một sự sử dụng quá mức hoặc lâu dài của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có thể là nguyên nhân của những tổn thương thận lésions rénales và gan hépatiques (Zhang và al., 2013a; Zhang và al., 2013b).
Quản lý dùng bên trong dạ dày intragastrique của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), cho những loài thỏ lapins với một liều 0,5 g / kg trong thời gian 40 ngày cho thấy có độc tính toxicité nào rõ ràng.
Tuy nhiên, đa số những loài thỏ lapins mắc phải bệnh tiêu chảy diarrhée và một nửa trong số đó đã chết trong vòng 20 ngày khi liều đã được tăng gắp đôi (Yang và al., 1988).
● Độc tính gây kích ứng Toxicité irritante
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có thể gây ra một độc tính kích ứng toxicité irritante cho :
- niêm mạc miệng muqueuse buccale,
- cổ họng gorge,
- và dạ dày-ruột gastro-intestinale.
Nhiều thí nghiệm đã được xác minh rằng Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR),  có thể kích thích niêm mạc miệng muqueuse vocale và gây ra một viêm inflammation, một phù nề œdème hoặc thậm chí những chứng tắt tiếng aphonies ở thỏ lapin, chuột lang pigeon, chuột bọ cobaye, chuột souris, v…v…(Liu và al., 1993).
Hiệu quả của sự kích ứng vị giác irritation gustative gây ra bởi Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), đã được nghiên cứu ở những chuột bị gây mê anesthésiés.
Nó đã được chứng minh rằng RP thể hiện một hiệu quả chất ức chế trên hoạt động của dây thần kinh dạ dày âm đạo nerf gastrique vagal (Niijima và al., 1998).
PR cũng gây ra tiêu chảy diarrhée, cũng như những đau dạ dày douleurs à l'estomac.
◦ Quản lý dùng bên trong dạ dày intragastrique của PR ở những chuột với một liều lượng 0,5 g / kg / ngày trong thời gian 3 ngày ức chế một cách đáng kể hoạt động của pepsine, làm giãm độ acide acidité của dịch dạ dày suc gastrique và hàm lượng của prostaglandine E2 (PGE2)..
Hơn nữa, nó là nguyên nhân tổn thương nghiêm trọng cho niêm mạc dạ dày muqueuse gastrique (Wu và al., 1994).
Nghiên cứu khác cho thấy rằng những tinh thể hình kim raphides d'oxalate de calcium và PTL trong Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), cũng có những độc tính kích ứng toxicités irritantes (Wu và al., 1999; Zhu và al., 2012).
Những cơ chế cơ bản có thể liên quan đến việc sản xuất gia tăng của những chất trung gian gây viêm inflammatoires gây ra bởi những tinh thể hình kim raphides oxalate de calcium độc hại toxique hoặc những lectines.
● Độc tính cho sự sinh sản reproduction
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), có một độc tính toxicité đáng kể ở những chuột và những phôi thai embryons gravides.
Quản lý dùng bên trong dạ dày intragastrique của bột hoặc nước nấu sắc décoction của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), là gia tăng đáng kể tỹ lệ tử vong mortalité của những phôi sớm embryons précoces, giãm trọng lượng cơ thể poids corporel của thai nhi du fœtus và gây ra bệnh xuất huyết âm hộ colporrhagie ở những chuột mang thai gravides (Yang và al., 1989).
Ngoài ra, một liều lượng cao của trích xuất của Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), gia tăng đáng kể :
- những tỹ lệ sự giãn nở niếu đạo dilatation urétérale,
- sai vị trí thận malposition rénale,
- dị tật bộ xương malformation squelettique,
- và thai nhi bất thường anomalie fœtale (Shin SH, 2007).
● Độc tính khác toxicités
Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), cũng có những độc tính :
- gây ra quái thai toxicités tératogènes,
- gây ung thư cancérigènes,
- và gây đột biến mutagènes (Wu và al., 2015; Wu và al., 2011).
Tuy nhiên, những cơ chế cơ bản của độc tính thô toxicité brute gây ra bởi Căn hành Cây Bán hạ Pinelliae Rhizoma (PR), vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ.
Hiệu quả xấu và rủi ro :  
Cây là độc hại toxique. Độc hại nầy có lẽ đề cập đến sự hiện diện đến tinh thể oxylate de calcium.
Điều độc hại nầy toxique và nếu tiêu thụ, bằng miệng và đường tiêu hóa, người ta cảm thấy có những hàng trăm kim châm mắc kẹt vào trong đó.
Tuy nhiên, tinh thể oxylate de calcium dễ dàng bị phá hủy bằng cách nấu chín hoặc sấy thật khô thực vật nầy.
▪ Độc tính Toxicité.
Ban Xia không được chế biến là độc hại toxique, đó là lý do tại sao thảo dược luôn được chế biến được sử dụng bên trong cơ thể.
Những phản ứng ngộ độc intoxications có thể xuất hiện sau khi ăn căn hành rhizome chưa được chế biến non-préparé hoặc trong quá liều của thảo dược đã được chế biến.
Những triệu chứng ngộ độc intoxications
Loại thảo mộc nầy có thể là nguyên nhân của những kích ứng irritations của :
- niêm mạc miệng muqueuse buccale,
- cổ họng pharynx,
- hệ thống tiêu hóa dạ dày-ruột gastro-intestinal,
và có những hiệu quả độc hại toxiques trên hệ thống thần kinh système nerveux.
Những triệu chứng ngộ độc intoxications bao gồm :
- khô miệng bouche sèche
- tê rần lưỡi engourdissement de la langue
- cảm giác nóng cháy sensation de brulure và sưng miệng gonflement de la bouche, lưỡi langue và cổ họng gorge
- vấn đề dạ dầy problème gastrique
- nước bọt dồi dào saliver abondamment
Tuy nhiên, từ tháng 4 năm 2004, Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata đã bị cấm ở Mỹ États-Unis bởi vì nó có chứa những chất hóa học được gọi là alcaloïdes d'éphédrine.
Chất hóa học nầy có thể gây ra những phản ứng phụ nghiêm trọng, như là :
- đau tim crise cardiaque,
- đột quỵ, tai biến mạch máu não accident vasculaire cérébral AVC,
- hoặc những co giật convulsions.
▪ Trong khi ngộ độc intoxication nghiêm trọng hơn, người ngộ độc có thể gặp :
- khàn giọng enrouement
- những co thắt spasmes
- khó thở dyspnée
- ngạt thở asphyxie
▪ Phòng ngừa và cảnh báo đặc biệt :
◦ Mang thai Grossesse và cho con bú allaitement:
Không biết thông tin đầy đủ trên sự sử dụng của Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata trong thời gian mang thai grossesse và cho con bú allaitement. Luôn cẫn thận và tránh sử dụng.
▪ Sự cân nhắc liều lượng cho thảo dược Bản hạ tàu Pinellia Ternata.
Liều lượng thích hợp của Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata phụ thuộc vào nhiều yếu tố như là tuổi tác, sức khỏe, và nhiều điều kiện khác của ngưởi sử dụng.
Tại thời điểm nầy, không có đủ thông tin để xác định phạm vi liều lượng thích hợp cho thảo dược Cây Bán hạ tàu Pinellia ternata.
◦◦◦ Nên nhớ rằng, những sản phẩm tự nhiên không nhất thiết là lúc nào cũng an toàn và liều lượng có thể là yếu tố quan trọng .
Hảy bảo đảm tuân theo tuyệt đối những hướng dẫn của những nhà chuyên môn lo về sức khỏe có khả năng thật sự.
▪ Chống chỉ định:
Ban Xia là chống chỉ định ở những người bị ho khan toux sèche do trống rỗng âm Yin, những đau cổ họng maux de gorge do lửa feu, hoặc những chảy máu saignements.
Ban Xia không được chế biến không nên sử dụng ngoại trừ những trường hợp hiếm và chỉ dùng trong những thảo dược liệu pháp phytothérapeutes của y học tàu có phẩm chất cao.
Ứng dụng :
Trong số những phương pháp bào chế, người ta phân biệt :
▪ Jiang Ban Xia (姜半夏),
Sau khi được ngâm và rửa thật kỹ, thảo dược được đun sôi với gừng tươi gingembre frais và phèn chua alun hoặc Gan Cao(Gān Cǎo; 甘草) là rễ cam thảo tàu réglisse chinoise (Radix Glycyrrhizae uralensis) (tùy theo những vùng).
Sau khi được chế biến với gừng gingembre, độc tính của Ban Xia đã giãm và bản chất của nó ấm và khô với khả năng làm khô độ ẩm sécher l’humidité, biến đổi những đờm mucosités, làm hạ khí Qi và làm giãm buốn nôn nausées.
Phương pháp bào chế nầy thích ứng nhất cho đờm mucosités do chân không lá lách vide de la rate, hoặc khi đờm-lạnh mucosités-froid nguyên nhân của ho toux và rối loạn khí rébellion du Qi.
▪ Fa Ban Xia (法半夏),
được ngâm và rửa theo cách tương tự như trước đây, sau đó được pha trộn trong một nước nấu sắc décoction trong những phần bằng nhau của Gan Cao (Gān Cǎo; 甘草) là rễ cam thảo tàu réglisse chinoise (Radix Glycyrrhizae uralensis) và chanh xanh. Thảo dược được ngâm cho đến khi trung tâm trở nên màu vàng và bán trong suốt.
Ở một số vùng của Tàu, những thảo dược khác được sử dụng thay thế cho Gan Cao và chanh xanh.
Ở đây, hành động sấy khô asséchante vừa phải hơn trước, phương pháp chế biến nầy thường được sử dụng làm chân không lá lách vide de la rate lộn xộn bởi độ ẩm humidité và giữ đờm bên trong mucosités.
Nó thể được sử dụng để chữa trị cho cả hai những hội chứng syndromes của lạnh do khoảng chân không hơn là độ ẩm humidité – nhiệt độ chaleur.
Thực phẩm và biến chế :
Rễ .
Củ đo được khoảng 12 mm đường kính.
Không có thêm thông tin chi tiết nào khác của tính ăn được trong những báo cáo, nhưng sự cẫn thận được đề nghị bởi vì rễ tươi là độc hại toxique.
Những chất độc có thể bị tiêu hủy bởi một sự sấy khô hoàn toàn hoặc nấu thật kỹ những rễ.

Nguyễn thanh Vân