Tâm sự

Tâm sự

lundi 7 novembre 2011

Cây ngò tây - Persil commun

Persil commun
Cây ngò tây
Petroselinum sativum Hoffm
Apiaceae
Đại cương :
Rau mùi ngò tây pétroselinum crispum là một cỏ thân thảo họ apiaceae, thường được dùng trong nấu ăn với những lá và ở Trung Âu dùng những rể củ. Đồng thời ngò tây cũng là một cây có vị thuốc.
Tên khoa học : Petroselinum crispum ( Mill.)Nyman ex A.W.Hill, (đồng nghĩa tên Petroselinum sativum ), thuộc họ Apiaceae.
Tên thông thường : persil, persil cultivé, persil odorant, persin.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Là một thực vật phát sinh từ Tây nam Châu Á, Bắc Phi Châu và Macaronésie, được trồng rộng rãi trên khắp thế giới. Người ta có thể tìm thấy trên khắp năm châu.
Mô tả thực vật :
Persil là một cây sống 2 năm ( bisannuelle) cao khoảng 25 đến 80 cm, rất thơm khi bị nghiền nát, với mùi rất đặc biệt.
Thân cây có sọc rãnh, lá cây mịn.
Lá có màu xanh sáng, phân chia đôi hầu hết những lá ở phía dưới, những lá ở trên thường có 3 thùy hẹp và dài.
Hoa : Phát hoa trổ vào năm thứ 2, hoa nhỏ hình sao, màu vàng nhạt, trắng trong khi phát hoa nở hoàn toàn, hợp thành nhóm hình tán gồm 8 đến 20 nhánh tia. Những đơn vị tán cung cấp một tổng bao phía dưới gốc tán với nhiều lá bắc.
Hạt : hạt thơm, hình bầu dục, trơn, màu nâu, có thể bảo quản khoảng 2 đến 3 năm.
Rể , dài thuộc rể cái hình thức rể củ rất phát triển. Màu vàng, mùi rất hăng và thơm.
Lá persil phẳng có thể lầm lẫn với lá « petite ciguë» ( Aethusa cynapium ), là một cây có chất độc cùng họ. Petite ciguë rất giống với persil bởi những lá, nhưng người ta chỉ phân biệt bởi những vết đỏ phía dưới thân và có mùi hôi khó chịu.
Bộ phận sử dụng :
- Trái ( thuộc crémocarpes có nghĩa là khi chín trái chia làm hai bế quả nhưng còn dính lại với nhau ), lá và nguyên cây với rể.
- Tinh dầu trích từ hạt
Thành phận hóa học và dược chất :

Thành phần chánh của tinh dấu ngò tây :

- Taux, tỷ suất thay đổi,
- myristicine : 5 - 17 % trong những lá, 20 - 40 % trong trái
- Flavonoïdes ( lượng lớn apigénine, flavone)
- Vitamines A, C, E, Fer, Calcium
Đây là một cây rất giàu tinh dầu mà chất apiol ( còn gọi long nảo persil hiện diện trong hạt ), đi kèm theo myristicine.
Cây chứa một glucoside flavonique, apiine hay apioside, mà aglycone là apigénine.
Lá ngò tây giàu vitamine A và C
Đặc tính trị liệu :
- Bổ thần kinh neurotonique : hưng phấn kế kích thích não
- Bổ bắp cơ,
- Bổ tử cung, dịu đau trấn thống điều kinh ( hổ trợ và điều hòa kinh nguyệt ),
- Chống chứng viêm nước (Anti-catarrhale),
- Long đờm expectorante,
- Lợi tiểu diurétique,
- Sát trùng Antiseptique,
- Khử độc détoxifiante,
- Thông mũi décongestionnante,
- Chống chứng thấp khớp Anti-rhumatismale.
Những nghiên cứu :
● Chất chống oxy hóa anti oxydante : Trong những nghiên cứu cho thấy tinh dầu persil cho một vài mức độ hoạt động chống oxy hóa trong chức năng của ß-carotène trắng và nhặt  những gốc tự do.
● Bảo vệ gan : Nghiên cứu chỉ rằng persil có hiệu quả đáng kể trong việc bảo vệ gan ( thí nghiệm trên chuột )
● Chống vi trùng : Dung dịch trích từ persil có khả năng ức chế ở nồng độ khác nhau chống lại những vi trùng gam dương và gam âm. Hiệu quả này cho ta thấy ức chế chống vi trùng Br melitensis, E. coli, và lichiniformis B. Những kết quả được xác nhận trong y học dân tộc.
● Lợi tiểu và hạ huyết áp : Dung dịch ly trích từ hạt persil có tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp đã được thí nghiệm trên những chuột Wistar đã gây mê, được xác nhận bởi người dùng truyền thống ở Brésil như thuốc lợi tiểu căn bản dược thảo .
► Hệ đường tiểu :
- Tiểu rát nóng brûlure,
-  Ngứa ran như kim châm tất cả hội âm périnées và đường tiểu,
-  Đi tiểu đột ngột,
-  Tiểu thường xuyên,
-  Bệnh lậu,
-  Không kềm hãm sự muốn đi tiểu,
-  Ngứa sâu trong niếu đạo,
► Dạ dày :
- Chống sự co rút cơ antispasmodique,
- Kích thích co thắc tử cung khi sinh Ocytocique,
- Dịu đau trấn thống emménagogue,
- Kiện vị, bổ bao tử stomachique,
- Chất apigénine ngăn chận giai đoạn trong dây chuyền sản xuất những kích thích tố oestrogènes,
- Chất impératorine là hoạt chất chống siêu vi khuẩn HIV
- Chất myristicine, là một chất tác dụng vào hệ thống thấn kinh trung ương chuyển đổi thành chất kích thích, gia tăng khả năng khử độc hệ thống gan bởi hoạt động của men glutathion-S-transferase ( men giai đoạn II ), đặc biệt đối diện với chất gây ra ung thư, ức chế sự thải ra TNF alpha ( tiếng Anh tumor necrosis factor alpha, còn gọi là cachexine hay cachectine ) bởi đại thực bào macrophages và apoptose ( lập trình tế bào tự hủy, đó là do sinh lý di truyền ), ức chế chất sinh ung thư ( carcinogénèse ) bởi benzopyrène, gây ra những tế bào tự hủy apoptosis của một số tế bào khối u.
Chủ trị :

Chủ trị của toàn cây

- Loại bỏ nước, persil có đặc tính lợi tiểu, rất thích hợp để loại bỏ nước dư thừa trong cơ thể.
- Suyễn ,
- Bệnh và nhiễm niếu sinh dục, viêm đường tiểu và bệnh bạch đới khí hư.
- Mất kinh Aménorrhée (không kinh nguyệt),  ít kinh oligo-ménorrhée,
-  Đau bụng kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt. Kích thích điều chỉnh hiệu quả chu kỳ kinh nguyệt.
● Ngoài ra, được biết đến, hiệu quả kích thích tình dục của cây ngò tây, những hạt persil kích thích những tuyến quan hệ tình dục, khơi dậy sự ham muốn tình dục và tăng cường khả năng sinh sản.
● Người ta có thể điều chế sản phẩm dạng bột có thể dùng cho ruột và gan.
● Cũng có thể đấp lên những chổ sưng :
- như tàn nhan,
- mut nhọt chưa mùi.
Các dung dịch tinh dầu dùng cho chứng thấp khớp viêm bàng quang và đầy hơi.
Hiệu quả xấu và rủi ro :
Về an toàn, có khả năng an toàn nói chung, khi được dùng trong cơ thể.
Có những trường hợp cấn chú ý :
- Mang thai : Khả năng nguy hiểm. Với nồng độ cao chống chỉ định chủ trị trong thời gian mang thai bởi vì có thể :
● làm hư thai tiềm năng
● và kích thích tử cung
● và xuất kinh nguyệt, bởi vì chất apiole làm tắc nghẽn máu của xương chậu và chất psychotrope.
- Tinh dầu persil, dùng uống có thể dẫn đến hiệu quả thứ cấp nặng nguyên nhân do chất apiole và thành phần chất myristicine.
- Chống chỉ định đối với những bệnh nhân bị viêm thận hay đau thận.
- Độc tính bao gồm :
● chứng thiếu máu tán huyết ( anémie hémolytique ),
● ban xuất huyết giãm tiểu cầu ( purpura thrombocytopénique ),
● triệu chứng suy thận, gan yếu và đau thận   
- Gan thoái hóa nhiễm mỡ, giãm cân, xuất huyết niêm mạc, xuất huyết ruột, tán huyết hémolyse, hiện diện méthemoglobine ( một protéine chuyển chất của huyết cầu tố hémoglobine  trong nước tiểu, và không nước tiểu ( vô niệu )
Ứng dụng :
Lá persil giàu vitamine A và C ( được ghi nhận 170 mg / 100 g vitamine C, gấp 2 lần nhiều hơn vitamine C ở trái kiwi ).
Ở Đông Âu và Mỹ dùng như gia vị, trong thức ăn cá thịt, súp, sauce ….hoặc dùng trang trí cho món ăn.
Mặt khác người ta còn dùng trong trường hợp đi tiểu khó,
► Bằng phương pháp nấu sắc trái và hạt dùng trong trường hợp :
- đau bụng tả,
- khó tiêu
- và đầy hơi trong ruột.
● Trong y học truyền thống của Do Thái, những hạt dùng trường hợp sạn thận và chứng bất lực.
● Trong dược điển của Pháp, ghi nhận rể và lá được dùng trường hợp đau bụng khi có kinh và chuột rút thời gian có kinh.
● Ở Thổ nhĩ Kỳ dùng để giãm đường huyết glycémie
● Brésil dùng như lợi tiểu.


Nguyễn thanh Vân

dimanche 6 novembre 2011

Rau Tiá Tô - Périlla-Sisho

Périlla-Sisho-Beefsteak Plant
Rau tía tô
Périlla frutescens (L.) Britton
Lamiaceae
Đại cương :
Rau tía tô ngoài những tên trên cón có những tên khác như Ao Shiso, Cây Beefsteak, Ji Soo, Perilla, Purple Perilla, Shiso, Wild basil, Wild red basil, Chinese basil, Purple mint, Rattlesnake weed, Summer coleus.
Tía tô có màu tím, đây là một thứ rau làm thức ăn, hương liệu, dược liệu và dùng cây cảnh nhờ có màu tím lá lớn đẹp.
Tía tô trồng ở Á Châu từ thời cổ đại như ở Nhật Bản vào kỷ nguyên Jōmon ít nhất ở thế kỷ thứ III è.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân : Thân thảo, đứng cao khoảng 1 m, màu tím, thân có 4 cạnh tròn với một rãnh dọc trên mỗi cạnh của thân.
Lá nguyên, mọc đối, những cuống lá mọc tréo như chữ thập. Cuống lá dài 5 cm, có lông mịn, có rãnh hơi sâu. Phiến lá hình xoan, có răng, đầu nhọn 10 cm dài, 8 cm chiều rộng, đôi khi khô cứng hay không. Thường màu xanh ở mặt trên và màu xanh tím hay hoàn toàn màu tím mặt dưới, phần lớn mịn ở mặt trên, lông mịn trên những gân lá ở mặt dưới, với tất cả những tuyến chấm chấm phía dưới ( phải dùng lúp mới thấy rỏ ). Gân lá nổi rỏ và có mùi thơm.  
Phát hoa : mọc ở nách lá, phát hoa thẳng đứng, vô định có nghĩa chồi ngọn có thể mọc mãi, 15 cm chiều cao, trục hoa có lông rậm, lông màu đỏ. Mỗi đốt 2 hoa mọc tréo chữ thập, dưới mỗi hoa có lá hoa gập lại màu đỏ. Lá hoa rộng hình trứng khi mở ra hoàn toàn rộng 3-5 mm dài và rộng, có lông trắng, cuống nhỏ 1-2 mm, có lông và tuyến thơm .
Hoa : Vành hoa màu hồng, cánh hoa chẻ đôi, dài 4 mm, hẹp phía dưới, lông mịn bên ngoài, hoa hình môi. Môi trên 3 thùy, thùy giữa tròn, đơn giản 2 – 2,2 mm rộng, 1 – 1,5 mm dài. Thùy bên tròn nhỏ 1,5 mm rộng, 1 – 1,2 mm dài. Môi dưới chỉ một thùy 2 – 2,3 mm với những vết hồng đậm 2 – 4 bên trong.
Đài hoa 2 môi dạng ống 1,7 mm dài, màu tím đậm, có lông ở bên ngoài, Môi trên 3 thùy 1,5 mm dài, môi dưới 2 thùy đạt đến 2 – 2,2 mm dài .
Nhụy đực 4, giữa ống hoa xen kẽ cánh hoa, chỉ trắng hồng nhạt ở đỉnh ngọn, ống tròn mịn, 2 mm dài. Bao phấn hồng nhạt, mờ dần rồi tím, 2 buồng 0,5 – 7 mm rộng.
Vòi nhụy mịn 2 – 2,4 mm dài, bao gồm từ phía dưới môi trên của vành hoa. Màu trắng nhạt lên đến đỉnh. Bầu noản 4 buồng, 1 mm rộng chung quanh có đỉa mật.
Hoa trổ vào khoảng tháng 7 đến tháng 10.
Sau khi nở từ tháng 7 đến tháng 10, hoa để lại đài hoa trên các cành và các hạt khô dạng đài hình chuông và lúc lắc nên người ta gọi « rắn chuông » do đó mà cây tía tô còn có tên là « cây cỏ dại rắn chuông ». Lá tía tô được hái dùng bất cứ lúc nào và lưu giữ hạt để sử dụng về sau. 
Bộ phận sử dụng :
Lá, hạt
Thành phận hóa học và dược chất :
● Thành phần chánh :
- polyphénol,
- flavonoïdes,
- lutéoline,
- acide rosmarinique,
- chrysoériol,
- apigénine,
- 0,2 % tinh dầu,
- 3 % limonène, linalol,
- β-caryophyllène,
- L-menthol,
- alpha-pinène,
- périllène (2-methyl-5-(3-oxolanyl)-2-pentène),
- élémicine,
- elsholzia-cétone,
- naginata-cétone.
● Một số « mẩu loại tinh dầu » « chimiotypes » độc hại đã được phân lập :
▪ périllaldéhyde (p-mentha-1,8(9)-dièn-7-al) là :
- một chất dị ứng da,
▪ périllène có thể :
- gây phù phổi,
▪ phényl-propanoides (myristicin, safrol, dillapiol, elemicin) là :
- chất độc.
● Hạt tía tô perilla frutescens chứa:
- tinh dầu khoảng 35 %,
- và một trong những tĩ lệ cao nhất acide béo oméga-3 ( ALA ) (acide α-linolénique).
Những acides béo của tinh dầu hạt tía tô chiếm 54 – 64 % và acide linoléique chiếm 14% ,
- một oméga-6 là một acide béo đa không bảo hòa .
Thành phần hóa học trong cây tía tô, đã xác nhận cho những ứng dụng trong « y học thay thế » và những nghiên cứu liên tục đã cho ta thấy rằng cây tía tô rất là hữu ích trong chữa trị :
- bệnh ung thư cũng như các bệnh khác,
- và những rối loạn trong cơ thể.
Các nghiên cứu đã cô lập những chất như :
- Apigénine,
- Acide ascorbique,
- bêta-carotène,
- Acide caféique,
- Citral,
- Dillapiol,
- Elemicin,
- Limonène,
- Lutéoline,
- Myristicine,
- Perillaldehyde,
- Protocatéchique-acide,
- Quercétine,
- Acide rosmarinique
- và còn nữa....
Chất ngọt édulcorant : có nguốn gốc từ cây tía tô như một trong các chất đồng phân aldéhyde, périllartine là một chất làm ngọt mạnh gắp 2000 lần chất đường thông thường.
Đặc tính trị liệu :
Hạt tía tô có chứa lượng cao acide oméga 3 hay acide béo alpha linolénique cần thiết ( ALA ), do hàm lượng lớn ALA hiện diện trong tinh dầu hạt tía tô, người ta nghĩ rằng có thể :
- giảm hạ tĩ lượng cholestérol trong huyết thanh,
- và đường mở.
Theo Đại học Maryland Trung tâm y khoa, nghiên cứu sơ bộ cho thấy ALA có thể giúp ngăn ngừa và điều trị :
- Chứng trầm cảm,
- Đau bụng trong thời gian có kinh nguyệt,
- Giảm nguy cơ « cơn tim mạch gây tử vong »,
- Ngừa ung thư vú,
và  điều trị các chứng bệnh tự miễn nhiểm ( auto-immunes ) như :
- chứng lang-sang ( lupus ),
- và chứng viêm thấp khớp,
ALA cũng có thể giúp điều trị :
- những rối loạn viêm sưng ruột như là bệnh Crohn.
Mặc dù ALA có thể giúp đở trong những điều kiện trên, nhưng đã được ghi nhận rằng những nghiên cứu trên không được thực hiện trực tiếp trên những hạt tía tô périlla.
▪ Chống dị ứng : theo kinh nghiệm truyền thống Á Đông như Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam, nơi đây người thường dùng phối hợp ăn chung với cua, sò, ốc, đây là những thực phẫm gây ra dị ứng.
Từ năm 1977 người ta nghiên cứu chỉ ra rằng tía tô giảm sự sản xuất chất histamine và immunoglobuline E, tức globuline miễn dịch E đây là một điều đáng chú ý nghiên cứu trên cơ thể sinh vật chuột ( Bio. Pharm. Bull, 24(2) :172-175, février 2001 ).
- Cây tía tô rất có hiệu quả cho những người có vấn đề về gan ( thường trong 5 yếu tố cho chế độ ăn kiêng Trung hoa )
- và đặc biệt cho những người nóng nảy tức giận dễ dàng.
- Những người hung hăng bạo lực,
- Những kích động và căng thẳng,
- Nói chung những người ăn nhiều thực phẩm động vật.
▪ Lá  tía tô và hạt :
Dung dịch trích từ lá tía tô và hạt, cả 2 chứa nhiều chất flavones, đây là « những dữ liệu căn bản của những thuốc thiên nhiên » .
- Những flavones là một thành phần hóa chất thực vật có hoạt động chống oxy hóa và giúp đở ngừa những gốc tự do gây ra những thiệt hại cho tế bào và nhiễm thể ADN.
▪ Dầu tía tô và lá, cả hai dường như :
- có tính ngừa khối u tumeur.
▪ Flavone đồng thời liên kết với những nguyên tố kim loại nặng và giúp đở loại bỏ chúng ra khỏi cơ thể.
Ngoài ra :
▪ hạt tía tô périlla có những đặc tính :
- chống cholestérol.
và những chất ly trích từ lá tía tô chứng minh đặc tính :
- chống viêm sưng anti-inflammatoire
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Sử dụng lá và hạt tía tô :
Những thầy thuốc y học cổ truyền Trung hoa và Việt Nam dùng hạt và lá tía tô từ nhiều thế kỷ để chữa trị :
- Chống hen suyễn  antiasthmatique,
- Kháng vi khuẩn antibactérien,
- Chất giải độc antidote,
- Chống vi sinh vật antimicrobiennes,
- Hạ sồt antipyrétiques,
- Sát trùng antiseptique,
- Chống co thắc antispasmodique,
- Chống ho antitussif,
- Mùi thơm aromatique,
- Thuốc tống hơi carminative,
- Làm xuất mồ hôi sudorifique,
- Chất làm mềm  émollient,
- Long đờm expectorant,
- Thuốc bổ bao tử, kiện vị stomachique
- Thuốc bổ tonique.
- Chữa trị nôn mữa,
- Hen suyễn,
- Cảm lạnh,
- Phiền nảo,
- Phòng cúm grippe,
- Đau bụng,
- Táo bón constipation,
- Các chứng dị ứng (đặc biệc là thức ăn hải sản ),
- Say nắng,
- Vặn bắp cơ,
- và dị ứng kết mạc mũi viêm,
▪ Thân  cây tía tô theo truyền thống Trung Quốc :
- khắc phục chứng ốm nghén và có thai dùng liên tục suốt thời gian có thai, mặc dù một số dược thảo khuyên nên tránh dùng khi có thai.
Ngoài ra lá tía tô và hạt còn dùng để :
- ngăn ngừa ngộ độc thức ăn thực phẩm,
▪ Dầu hạt tía tô dùng để ngừa :
-  sự khiếm khuyết học tập liên quan đến tuổi tác.
Tất cả những đặc tính sử dụng trên của y học cổ truyền dựa trên báo cáo kinh nghiệm nhưng không bằng chứng vững chắc trên căn bản khoa học.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Như đã nêu trên phần thành phần hóa học ta thấy,
Một số « mẩu loại tinh dầu » « chimiotypes » độc hại đã được phân lập :
- périllaldéhyde (p-mentha-1,8(9)-dièn-7-al) là một chất dị ứng da ;
- périllène có thể gây phù phổi ;
- phényl-propanoides (myristicin, safrol, dillapiol, elemicin) là chất độc.
Thực phẩm và biến chế :
Rau tía tô rất thông dụng ở Á Châu dùng như rau cải salade, gia vị và rau mùi hương liệu.
- Tía tô có thể dùng chung và đáp ứng trong sự trình bày món ăn như : sushi, sashimi, tempura và nhiều hơn nữa.
Có thể dùng nguyên hay cắt nhuyễn, dùng lạnh hay nướng với thịt thay thế lá lốt ở Việt Nam…..


Nguyễn thanh Vân

jeudi 3 novembre 2011

Bí - Bí rợ - Bí đỏ - Courge

Courge - Bí
Bí rợ
Cucurbita maxima Duch ex Lam.
Bí đỏ
Cucurbita pepo L.
Cucurbitaceae
Đại cương :

Nhóm Courge gọi là nhóm Bí trong đó có những loài khác nhau như :
Cucurbita pepo, tên là Bí đỏ, trong nhóm này tiêu biểu có cây thường gặp courgette dáng tương tự như giống mướp Việt Nam ( Luffa acutangula ( mướp khía ) hay Luffa cylindrica ( mướp hương) , cây bụi không leo như mướp, cùng họ cucurbitaceae nhưng khác giống genre.
Cucurbita maxima tên gọi Bí rợ còn có những tên khác nhau đống nghĩa như : potiron,  rinaumont, courge pépon, citrouille, iroquoise, saint-jean, gourde, congourdette hay courge potiron….
Nguồn gốc :
Trung tâm nguồn gốc của Cucurbita pepo là ở Mexique, nơi đó người ta đã thuần hóa với con người ít nhất 5000 năm.
Một số người đã cho rằng sự thuần hóa này đã diển ra nhiều lần ở Mexique và Hoa Kỳ, bởi vì những dữ kiện tài liệu cổ và cơ cấu phân tử đã cho thấy có sự hiện diện 2 dòng phân loại thuần hóa cho giống cucurbita.
Cây bí rợ Cucurbita maxima đã được đem vào Âu Châu cùng thời gian với những loài khác của giống cucurbita vào thế kỷ thứ XVI.
Cây bí đỏ cucurbita pepo khả năng chịu nhiệt ít hơn Cucurbita moschata Duch ex Lam ( Bí ngô ), và cũng vì lý do này mà dây bí rợ, bí đỏ ít thích ứng với điều kiện ở Phi Châu nhiệt đới. Sự kiện này không làm trở ngại nếu trồng với qui mô nhỏ trong tất cả các nước trên thế giới.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Bí rợ cucurbita maxima thuộc loại cỏ thân thảo, nhất niên với một thân dài trường hay leo nhờ những tua vòi quấn vào những vật tiếp xúc, chia ra nhiều nhánh, thân có 5 cạnh. Toàn bộ cây được bao phủ bởi lớp lông cứng dòn, không gai.
Lá lớn, nguyên, gân lá hình chân vịt, hình thành 5 thùy cạn, phiến to dài đến 30 cm, có lông mềm.
Hoa : Cây đồng chu ( trên 1 cây có cả hoa đực lẫn hoa cái ), hoa thơm.
Hoa đực màu vàng nghệ, vành hình chuông, tiểu nhụy 3, bao phấn dính thành trục cao 2 cm, vàng.
Hoa cái có cọng ra dài sau khi trổ.
Phì quả : rất to, nạt vàng, hạt trắng, dẹp dài 2 cm.
Bí đỏ Cucurbita pepo, trong nhóm có cây courgette tạm đặt tên là «Mướp tây».
Cỏ to, bò không dài, nhiều cây mọc như bụi, thân lá cuống đứng có lông nhám.
Lá gần nhau, to, phiến lá hình tim có thùy sâu dài khoảng 6 – 30 cm, vòi tua chẻ 2-4.
Hoa đực cô độc thơm, cọng dà 3-6 cm vành vàng 5 cm.tiểu nhụy 3, bao phấn 1 cm.
Hoa cái hơi to hơn hoa đực.
Trái tròn dẹp hay thon dài, đặc sắc là có cọng phù ra ở đầu và có cạnh, mọc từ nách lá ở gốc.
Hạt hình xoan dẹp, dài khoảng 25 mm.
Bộ phận sử dụng :
Trái, hạt, lá và hoa
Thành phận hóa học và dược chất :
Trái, phần ăn được cho (100g)
- Nước: 90g
- Chất đạm protides: 1,3g
- Chất béo lipides: 0,2g
- Chất đường glucides: 6g
- Sinh tố Vitamine : B1, B2, B3 (PP), C và tiền vitamine A
- S, P, CI, Na, K, MN, Mg, Fe, Zn, Cu, Ca,
- Một chất đắng cucurbitacine
- Acide oléique,
- Acide palmitique
- Acide stéarique
Thành phần dinh dưỡng của những trái Cucurbita pepo thay đổi ít nhiều tùy theo loại trái và mức độ trưởng thành của cây. Những cây bầu dài trái chứa một hàm lượng nước lớn nhưng có một năng lượng yếu kém về nhiệt lượng calories, trong khi những cây bí mùa đông ( courge d’hiver ) lại chứa ít nước và có giá trị năng lượng và chất dinh dưởng tăng cao ; Cây bí đỏ tương tự như như bí mùa đông.
Nạt trái bí đỏ có màu vàng đến màu đỏ chứa rất nhiều chất vitamine A dưới dạng tiền vitamine A.
Những trái cucurbita pepo, có dạng trang trí, hình dáng đặc biệt đôi khi rất đẹp, có thể có chứa những chất đắng ;
- Những chất cucurbitacines B, D, E, G và I và chất hétéroside của cucurbitacine E đã được ghi nhận.
- Những hạt Bí rất giàu chất dầu ( khoảng 35% ) và 38% chất đạm protéine, 37% đường glucide và những α-tocophérols.
- Tinh dầu bí chứa 47% acide linoléique, 29% acide oléique, 13,5% acide palmitique và 8% acide stéarique.
- Chiết xuất từ hạt bí đã cho ta thấy một hoạt động diệt côn trùng chống lại ruồi muỗi và giảm huyết áp ở gà.
- Chất pépocine, là một ribosome protéine không hoạt động, đã được phân lập từ những trái của cucurbita pepo.
Đặc tính trị liệu :
Qua những thành phần hóa học và dược chất trên, Citrouille và potiron bí rợ có những đặc tính sau :
- Là một thực phẫm dinh dưởng - nutritif,
- Làm mát giải nhiệt - rafraîchissants,
- Tác dụng an thần - sédatifs,
- Thuộc về ngực như ho tức ngực pectoraux,
- Nhuận trường - laxatif; ( chủ yếu ở nhụy đực và lá đài nơi đây tích tự chất nhuận trường )
Theo truyền thống, người ta thu hoặch nhụy đực phơi khô dùng làm thuốc xổ lãi và nhuận trường, cẩn thận nếu dùng quá liều sẽ đưa đến tiêu chảy nặng.
- Lợi tiểu - diurétiques;
- Làm dịu dể chịu - émollients...
Dùng bên trong cơ thể, người ta sử dụng trong trường hợp :
- Viêm sưng đường tiểu - inflammations urinaires,
- Bệnh trĩ - hémorroïdes,
- Suy nhược - asthénies,
- Khó tiêu - dyspepsie,
- Viêm ruột - entérités,
- Suy thận - insuffisances rénales,
- Bệnh tim - affections cardiaques,
- Bệnh tiểu đường - diabète,
- Mất ngủ - insomnies,
- Táo bón - constipation....
Tinh dầu hạt bí rất tích cực trong những trường hợp :
- tuyến tiền liệt sưng phù ( hypertrophie de la prostate ).
- và rất tích cực để chống lại sâu răng ( carie dentaires )
Thực phẩm và biến chế :
Những trái bí, thường thường người ta dùng nấu chín trừ trường hợp « courge vraìe » và courgette non có thể ăn sống. Những hạt có thể rang mặn, dùng làm thức ăn khai vị.
Những hoa bí ăn được và rất ngon thơm ; Trong thời gian mùa hè và mùa thu, người ta dùng ăn như salade
Trong trường hợp dùng hoa để ăn, hoặc luộc hoặc nhồi thịt ….v…v…  người ta phải gở bỏ hoàn toàn tất cả nhụy đực và những lá đài màu xanh có lông chung quanh ở đáy ống hoa, chính những phần này tích tụ những chất nhuận trường, xổ rất mạnh. 


Nguyễn thanh Vân

mardi 25 octobre 2011

Kiwi

Kiwi
Actinidia deliciosa(A.Chev.) C.F.Liang & A.R.Ferguson.
Actinidiaceae
Đại cương :
Không có tên nào đồng nghĩa, nhưng có 2 tên dùng có sự lầm lẫn :
- Actinidia sinensis : đây không phải là chữ đồng nghĩa mà là lỗi chánh tả.
- Actinidia deliciosa : đây là do sự phân loại và một loài riêng khác (đã 15 năm người ta thường lộn 2 loài với nhau )
Actinidia  deliciosa là một cây thuộc họ Actinidiaceae cho ra trái kiwi, da màu nâu có lông rậm nhám. Đến năm 1984 giống actinidia deliciosa được xem như một variété của giống Actinidia chinensis được biết dưới tên Actinidia chinensis var deliciosa.
Ngày nay được xếp thành một loài riêng biệt với actinidia chinensis. Actinidia deliciosa có nguồn gốc ở Trung quốc.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Ở Trung quốc, kiwi đã được biết từ lâu, thu hoặch từ những cây hoang dại, nhưng không được trồng. Những hạt đã được thu hái vào năm 1847 bởi Royal Horticultural Society ( Londres, Royaume Uni ).
Kiwi đã được phổ biến trồng rộng rãi từ thế kỹ thứ 20. Bà Isabel Fraser, giám đốc một trường ở Tân Tây Lan đã đem hạt lấy từ Trung quốc về và được trồng bởi những người làm vườn ở địa phương .
Vì thế tên kiwi được gọi bắt nguồn từ Tân Tây Lan,  vào năm 1958, như con chim kiwi, một biểu tượng của quốc gia New Zealand, nhuộm màu nâu và có lông.
Mô tả thực vật :
Danh từ « actinidia » có nghĩa « tia nhỏ » bởi vì người ta thấy phát xuất từ trung tâm hướng ra ngoài những tia trăng trắng mịn và chữ déliciosa có nghĩa là ngon .
Nếu loài cây « không tự động » thụ phấn thì người ta phải trồng xen kẻ một gốc cây cái và một gốc cây đực. Người ta có thể tính trồng cứ 1 cây đực thì 5 hoặc 6 cây cái. Những loài ong sẽ giúp đem hạt phấn đến thực hiện  thụ phấn ở cây cái .
Lá : thuộc nhóm lá rụng, xanh lá cây. Lá lớn và rộng ( 12 – 20 cm ), mọc xen, bầu dục hình trái tim, bìa lá có răng và gân lá lộ rỏ. Những lá non được bao phủ bởi một lớp lông đỏ, những lá già màu xanh đậm, nhiều lông ở mặt trên, mặt dưới trắng lông dày đặc.
Hoa : hoa nhỏ ( 2,5 đến 5 cm đường kính ), trước hết màu trắng, kế màu vàng. Vành hoa 5 hay 6 cánh hoa và hợp thành nhóm 3 trên thân ở nách lá. Hoa thơm và không mật hoa.
Hoa trổ vào khoảng tháng 6.
Hoa đực : cánh hoa màu trắng kem, nhụy hoa vàng nhỏ hơn, tụ thành nhóm cyme 3 trên thân ở nách lá .
Hoa cái : 3 – 4 cm, mọc đơn độc ở nách lá, nhụy hoa ngắn, phấn hoa vô tính không thụ.
Thụ phấn : Thông thường những hoa phát tán phấn hoa nhờ những côn trùng như những loài ong nhưng trong sự canh tác quy mô, người ta chủ động trong sự thụ phấn, được thực hiện do người thực hiện « nhân môi ». Phấn hoa của những hoa đực được thu hoặch và sự thụ phấn trên cây cái bằng phương pháp phun sương hạt phấn.
Trái : hình bầu dục khoảng 6 cm dài. Lớp da nâu mỏng được bao phủ bởi lớp lông dày đặc. Nạc kiwi xanh nhạt với trung tâm có khoảng 1000 đến 1200 hạt nhỏ,  màu trắng, hiện diện những dòng tia trăng trắng.
Hương vị chua ngọt.
Bộ phận sử dụng :
Trái
Thành phận hóa học và dược chất :
Trái kiwi giàu chất :
- vitamines A và C
Nhưng đồng thời cũng nhiều :
- calcium,
-  magnésium
-  potassium.
Kiwi tuyệt hảo trong giá trị dinh dưỏng :
- Giàu chất flavines,
- Acide quinique
-  vitamines A,
-  B 1
- và B2
Nhất là vitamine C ( khoảng 16000 mg / 100 g )
Những nguyên tố khoáng như :
- calcium,
-  fer,
-  magnésium,
-  phosphore
- và potassium
 *Analyses made at the University of California.
Acide quinique chiếm ưu thế trong những trái non, acide này biến mất khi có sự hình thành acide ascorbic. Khi đun sôi khoảng 2 giờ, hàm lượng acide ascorbic giãm xuống 20 %. Cùng giống số lượng mất đi khi đun sôi, nếu trái cây đông lạnh được xã đông lạnh với nhiệt độ bình thường chung quanh.
Trái kiwi, ngay khi chín, chứa phân hóa tố thủy giải protéine actinidine, được cho là hổ trợ cho sự tiêu hóa. Nó có thể ly trích và làm tinh khiết như bột để ướp mềm thịt.
Chất tanin thấp khoảng 0,95 % trong trái kiwi chín.
Theo một báo cáo mới của Nouvelle Zélande, trái kiwi giàu :
- acide folique,
- potassium,
- chrome
- và vitamine E.
Đặc tính trị liệu :
Theo những cổ văn ghi lại, từ 200 năm trước JC , triều đại nhà Hán đế ( 206 trước JC ), hái trái mihoutao ( kiwi) thường xuyên thực hiện trong rừng để làm thuốc :
Những rể phơi khô được biết có đặc tính :
- Lọc máu,
- Lợi tiểu,
- An thần,
- Giải nhiệt,
- và thuốc an thần.
Trong y học cổ truyền Trung hoa, kiwi được gọi là « Mi Hou Tao gen » hay « Teng Li gen », được ghi đơn thuốc phối hợp với dược thảo khác để chữa trị dạ dày, gan, và bàng quang ;
Trong những đơn thuốc khác cũng chữa trị trường hợp kết thạch và viêm đường tiểu, những ung thư gan, dạ dày, thực quản, ruột, cũng như sử dụng để trị đau khớp xương phong thấp.
Ở Trung quốc, trái cây và dung dịch trích ép từ thân dùng để trục « sạn thận » ( kết thạch ).
Ngày nay do sự nghiên cứu cho thấy rằng ăn trái kiwi có tác dụng làm cho :
- Giảm đáng kể sự tích tụ các tiểu huyết cầu,
- Chống lại sự phóng thích chất collagène trong máu,
- Giảm tỉ lệ máu bị đóng cục, nên giúp khí huyết được lưu thông,
- Tránh ngừa chứng tai biến mạch máu và các bệnh về tim mạch.
Đối với các người mắc bệnh đường ruột, đại tràng , bao tử, kiwi giúp hổ trợ :
- Chức năng tiêu hóa cho cơ thể,
- Giảm thiểu sự táo bón,
- Tăng cường hoạt động của dạ dày.
Nhờ trong kiwi chứa nhiều chất chống oxy hóa nên kiwi có tác dụng bảo vệ cơ thể trước những gốc tự do. Và nhất là với một số lượng lớn chất chống oxy hóa bao gồm chất vitamine C và vitamine E có trong trái kiwi nên chúng có khả năng bảo vệ cơ thể ngừa chống ung thư .
Ngoài ra, trong trái kiwi rất phong phú chất xơ, có hữu hiệu trong việc :
- Kiểm soát lượng đường huiyết,
- Giảm cholestérol,
- Ngừa ung thư kết tràng và
- Giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Ứng dụng :
Những xơ, vỏ thân và vỏ mỏng của trái đã được chế tạo thành bột nhão giấy và một nhựa dính như keo.
Thực phẩm và biến chế :
Trái kiwi nếu được bảo quản ở nhiệt độ thấp ( như nhiệt độ hầm rượu, nơi chứa thức ăn, …) trái cây tươi có thể tiêu thụ được 4 và 6 tháng.
Điều chú ý là kiwi :
- để nơi ẩm trái cây để hư thối, làm tăng sự phân hủy ;
- để gần những trái pomme không tốt bởi vì nó tạo ra éthylène, một kích thích tố thúc đẩy nhanh quá trình trưởng thành của trái. Vỉ thế muốn trái kiwi mau chín người ta chỉ cần mua và để chung với vài trái pomme trước khi ăn liền.
Trái kiwi tươi hay cắt tươi làm đôi, ăn bằng muỗng hay đơn giản gọt vỏ trước khi ăn.
Người ta có thể cắt lát nhỏ, trộn với rau salade, hoặc làm cocktail nước trái cây...v...v...


Nguyễn thanh Vân