Tâm sự

Tâm sự

lundi 23 juillet 2018

Nghệ mùa thu - Autumn Crocus

Meadow Saffron - Autumn Crocus
Nghệ mùa thu
Colchicum autumnale - L.
Colchicaceae - Liliaceae
Đại cương :
Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale (Colchicum autumnale L., họ Colchicaceae là một cây thuốc không thuần hóa, giàu thành phần alcaloïde.
Tên của Cây « automne crocus » ám chỉ thời gian phát hoa vào mùa thu, trong khi những lá và những viên nang capsules xuất hiện bên trên mặt đất trong tháng 4 sau.
Cây vẫn nằm dưới đất trong mùa đông dormance hivernale ( từ tháng 11 đến tháng 3 ) và mùa hè (juillet).
Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale thật sự được đặt tên cho vùng đất Colchis ở cực đông của biển đen mer Noire.
Những mô tả chi tiết và những minh họa của Cây, được biết đến như "Colchicon", đã được ghi chép ở thế kỹ đầu tiên sau J.-C. bởi Dioscoride, người cha của thực vật trong y học Unani Ấn độ.
Suranjan shireen tên gọi Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale cũng được biết dưới tên thông thường :
- crocus d'automne,
- safran sauvage,
- và femme nue.
Trong miền nam Karnataka, nó thường gọi là gowri gedde.
Từ nhiều thế kỷ, Cây này mang tên " giết sói tue-loup" hoặc " giết chó tue-chien". Tên này được xác định bởi độc tính toxicité cao của nó.
Thật vậy, ngay cả thành phần alcaloïde của nó, chất colchicine rất được phổ biến trong dược lý, cây này vẫn không kém chất độc poison, như vậy rất nguy hiểm trong trường hợp nuốt phải.
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale phân bố và lưu trử quang đồng hóa photoassimilates trong một thời gian ngắn từ tháng 4 đến 6.
▪ Môi trường sống và sự phân phối :
◦ Môi trường sống điển hình : những cánh đồng cỏ ở trung tâm Châu Âu médioeuropéennes, những cánh đồng cỏ ngập nước một phần đủ điều kiện sống cho thực vật mésohygrophiles, khí hậu ôn hòa ấm mésothermes, những đồng bằng miền núi.
◦ Phạm vi phân phối : Âu Châu ôn đới.
Cây thích hợp vời những đất nhẹ ( cát ), trung bình (đất mùn ) và nặng (đất sét ) và thích những đất có thoát nước tốt.
Độ pH thích hợp : đất chua acide, trung tính và kiềm (alcalins). Nó có thể mọc trong những nơi bán râm (rừng sáng ) hoặc không bóng râm. Nó thích mọc những nơi đất ẩm ướt.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Địa thực vật, với một thân củ ngầm  sống lâu năm. Nó thể hiện đặc thù có 2 giai đoạn xuất hiện rất khác nhau :
- Cây trên không sống lâu năm kích thước từ 10-40 cm, lá láng không lông.
- với một thân củ ngầm lớn như quả ốc chó với lớp áo bao màu đen nhạt.
Cây colchique Nghệ mùa thu Cochicum autumnale là một Cây thân củ ngầm tăng trưởng nhanh chóng, với một màu xanh lá cây tươi .
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale, trổ hoa vào tháng 9 và kết trái trong tháng 6.
Mỗi năm, một thân ngầm mẹ corme được sản xuất 1 hoặc đôi khi 2 củ thân ngầm con.
Trong khi bộ phận bên trên của thân củ ngầm corme thường nằm trong đất giữa 10 và 20 cm, những rễ phụ trắng mịn mọc sâu đến khoảng 80 cm từ bộ phận bên dưới của thân củ ngầm corme.
▪ Giai đoạn mọc rễ bắt đầu trong tháng 10 và kéo dài đến đầu tháng giêng.
Vào mùa xuân, nhiệt độ cao hơn gây ra sự xuất hiện của lá, sau đó những viên nang capsules.
Việc thu hoạch những hạt thường thực hiện vào tháng 6 ngay trước khi viên nang được khai mở déhiscence des capsules.
, hình mũi dáo, xanh lá cây đậm, láng không lông, thường có một chân dài.
▪ Vào mùa xuân, có những hình mũi dáo, rộng, đầu hơi nhọn, 4 hoặc nhiều hơn xuất hiện bao chung quanh trái, một viên nang lớn hình trứng hình thành trước dưới đất.
Phát hoa, hoa đơn độc ở ngọn cô độc hoặc thành bó bởi thừ 2 đến 5 hoa.
Vào mùa thu, chỉ những hoa xuất hiện, phát sinh ra một bẹ mo hình ống spathe tubuleuse ở mức độ của đất.
Hoa, lưỡng phái hermaphrodite, thụ phấn bằng côn trùng, hay tự thụ phấn.
Trong hầu hết những loài, những hoa có màu tím hoặc hồng, nhưng cũng có màu trắng và bộ phận bên dưới bao hoa luôn luôn dính có dạng hình ống, bao gồm :
- 6 tépales (đài hoa và cánh hoa giống nhau ) gồm 3 cánh hoa màu hồng và 3 đài hoa cùng màu với cánh hoa và cùng ngoại hình.
- tiểu nhụy, 6 xếp thành 2 mức độ khác nhau 3-3, những 3 tiểu nhụy dài gắn trên cao hơn những 3 tiểu nhụy ngắn.
- những vòi nhụy cong cuối cùng vượt quá những tiểu nhụy, trên đầu của chúng mang một nuốm kéo dài vượt ra ngoài quá mức, cong nhiều thành một móc.
Cây trổ hoa trong tháng 9 và tháng 10.
Những và những trái là  độc hại toxiques cho gia cầm bétail.
Trái, viên nang có kích thước  lớn của một nhân hình trứng phồng lên.
Bộ phận sử dụng :
▪ Những hạt được thu hoạch vào đầu mùa hè, những củ tròn vào lúc cuối mùa hè, khi cây đã hoàn toàn chết.
Nó được sấy khô, bảo quản để sử dụng về sau.
Thành phần hóa học và dược chất :
Những thành phần như :
- colchicine,
- colchicoside,
- 3-déméthylcolchicine.
là những thành phần hóa học nơi đây chất Colchicine, alcaloïde chánh của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale L. (Colchicaceae - Liliaceae), là một yếu tố lợi ích trong chữa trị :
- những cơn cấp tính của bệnh thống phong crises aiguës de goutte.
▪ Những và những hoa sấy khô Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale chứa cùng nồng độ của chất colchicine so với những bộ phận tươi.
Tuy nhiên, những hoa sấy khô và những hạt chứa 15 lần lớn hơn so với những .
▪ Một loạt những alcaloïdes khác liên quan đã được phân lập từ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale, bao gồm :
- colchicérine,
- colchamine,
- colchicoside,
- déméthyl-3-colchicine,
- cornigerine,
- và 2-déméthylcolchifoline.
▪ Thành phần colchicine không bị hủy bởi nhiệt độ hoặc đun sôi và rất hoà tan trong nước.
Colchysat là một trích xuất hydro-éthanolique của hoa tươi của Cây Nghệ mùa thu Colchicum autumnale.
Đặc tính trị liệu :
Mặc dù được biết từ ít nhất thời kỳ những người Hy lạp cổ đại, Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale được xem như quá độc hại toxique để sử dụng thuốc y học và chỉ đến ở thế kỷ XVIIIe những nghiên cứu đã được thực hiện để phát hiện rằng có lợi ích trong chữa trị :
- bệnh thống phong goutte.
▪ Trong những nhà dược thảo hiện đại, Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale vẫn chưa được sử dụng để làm giảm :
- đau nhức douleur,
- và viêm thống phong cấp tính inflammation de la goutte aiguë,
- và những bệnh thấp khớp rhumatismes,
mặc dù sự sử dụng thường xuyên được biết như để khuyến khích cho những cưộc tấn công thường xuyên hơn của những đau bệnh.
Thân củ ngầm và những hạt Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale là :
- thuốc giảm đau antalgiques,
- chống bệnh thấp khớp antirhumatismaux,
- tẩy xổ cathartiques,
- và làm ói mữa émétiques.
Nó chủ yếu được sử dụng trong chữa trị những đau bệnh :
- bệnh thống phong goutteuses,
- và bệnh thấp khớp rhumatismales,
thường được kèm theo thuốc :
- lợi tiểu kiềm diurétique alcalin.
▪ Bệnh bạch cầu leucémie đã được chữa trị với sự thành công vời Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale và Cây cũng được sử dụng với một số nhất định thành công để chữa trị :
- hội chứng Bechet syndrome de Bechet,
và một căn bệnh mãn tính được đánh dấu bởi :
- những loét tái phát ulcères récurrents,
- và bệnh bạch cầu leucémie.
Thân củ tròn tươi Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale được sử dụng để làm một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique. Nó được sử dụng trong chữa trị :
- buồn nôn nausée,
- tiêu chảy diarrhée,
- và những bệnh thấp khớp rhumatismes.
▪ Những hạt tổng hợp và tích tự chất colchicine và chất colchicoside.
Những alcaloïdes này được sử dụng trong những thuốc chủ yếu cho những đặc tính của nó :
- chống bệnh thống phong anti-goutte,
- và thư giản bắp cơ relaxant musculaire.
▪ Nó chứa chất colchicine alcaloïde là thuốc :
- chống phân bào antimitotique,
ức chế sự phân bào bloquant la mitose bằng cách :
- ức chế sự tổng hợp ADN,
- và trùng hợp polymérisation chất đạm tubuline thành phần chính của vi ống.
● Sự sử dụng dược phẩm pharmaceutiques.
Thân củ ngầm như bóng đèn của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale chứa chất colchicine, một thuốc lợi ích với một chỉ số chữa trị nhỏ.
Thành phần colchicine được chấp thuận bởi cơ quan FDA Mỹ américaine để chữa trị :
- bệnh thống phong goutte
- và bệnh sốt gia đình địa trung hải fièvre méditerranéenne familiale.
Thành phần colchicine cũng được sử dụng trong thực vật chọn lọc để sản xuất :
- những chủng đa bội souches polyploïdes ( số lượng nhiễm sắc thể trong nhân tế bào lớn hơn ở tế bào bình thường ( lưỡng bội ).
▪ Hiện nay, thành phần colchicine hiện diện trong những dược phẩm chữa trị :
- những cơn thống phong cấp tính gootte aïguë,
như Colchicine hoặc Colchimax ở Pháp, dưới dạng colchicine cristallisée
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale được đánh giá cao cho những đặc tính y học của nó :
◦ Những bộ phận sử dụng là rễ và những hạt của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale, những cái này là thuốc :
- chống bệnh thấp khớp antirhumatismales,
- tẩy xổ cathartiques,
- và làm ói mữa émétiques.
Sự danh tiếng của nó dựa vào rộng rãi trên giá trị của nó trên những than phiền của :
- bệnh thống phong cấp tính aiguës goutteuses,
- và bệnh thấp khớp rhumatismales.
▪ Nó chủ yếu được sử dụng trong sự kết nối với một số nhất định :
- lợi tiểu kiềm diurétiques alcalins;
cũng dưới dạng những viên nang.
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale là một chất :
- chát âcre,
- an thần sédatif,
và hành động trên tất cả cơ quan bài tiết organes sécréteurs, trong đặc biệt :
- những ruột intestins,
- và những thận reins.
▪ Hương vị ngọt, sau đó đắng và chát. Mùi như của cải radis tươi, nhưng mùi này mất đi khi được sấy khô.
Chủ trị : indications
▪ Chỉ định cho Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale
◦ bệnh thống phong khớp xương Goutte articulaire điển hình khóe chân cái gros orteil
◦ buồn nôn của mang thai nausées de la grossesse với sự ghê tởm mùi nấu ăn.
◦ hơi khí trong dạ dày aérogastrie quan trọng và đau nhức.
◦ ngộ độc thực phẩm Intoxications alimentaires với đầy hơi ballonnements và tiêu chảy diarrhée
● Chỉ định chánh của Cây Nghệ mùa thu Colchicum autumnale trong vi lượng đồng căn homéopathie :
◦ khó tiêu dyspepsie
◦ ợ nóng brûlures d’estomac
◦ đầy hơi flatulences
buồn nôn nausées và ói mữa vomissements
◦ viêm ruột entérocolite
◦ lưỡi trắng langue blanche với khát nước dữ dội.
◦ mẫn cảm hypersensibilité với mùi hôi odeurs
◦ bướu thịt da polypes cutanés
● Tình huống kích hoạt của những vấn đề :
◦ lạnh ẩm froid humide
◦ ban đêm nuit
◦ cử động mouvement
◦ va chạm toucher
● Chứng khó tiêu dyspepsies và viêm ruột entérocolites :
▪ Nguồn gốc thường xuyên nhiễm trùng infectieuse, chứng khó tiêu dyspepsie là một tập hợp của những triệu chứng và đau nhức được định vị ở mức độ của dạ dày estomac.
▪ Sự rối loạn chức năng tiêu hóa này là thường :
- những buồn nôn nausées,
- đau nhức bụng douleurs abdominales,
- đầy hơi, trướng bụng ballonnements,
- ói mữa vomissements,
- và hơi khí trong ruột gaz intestinaux.
▪ Bên cạnh nó, viêm ruột entérocolite là một tình trạng viêm đường ruột non inflammation de l’intestin grêle hoặc đại tràng colon.
Nó gây ra những tiêu chảy diarrhées thường đau đớn.
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale có thể làm giảm cho cả hai rối loạn tiêu hóa này troubles digestifs.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Colchicum (suranjan) Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale là một dược thảo quan trọng chữa trị từ nhiều thế kỷ.
▪ Ảnh hưởng của những đặc tính hóa học của đất trên những hàm lượng của nguyên tố khoáng trong hạt và thành phần alcaloïdes của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale.
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale là một thuốc lựa chọn cho :
- bệnh viêm khớp arthrite
trong y học truyền thống Unani Ấn độ.
Ngoài ra sự sử dụng của nó trong :
- những rối loạn cơ xương musculo-squelettiques,
nó cũng được sử dụng trong chữa trị những bệnh khác nhau trong hệ thống y học Unani từ nhiều thập kỷ.
▪ Baron Anton von Storck de Vienne năm 1763  đã chứng minh đặc biệt của cây cho :
- bệnh thống phong goutte
và mở ra thời đại hiện đại của liệu pháp Colchicum.
Sau đó, thành phần colchicine alcaloïde đã được phân lập của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale vào năm 1820 bởi Pelletier và Caventou.
Nghiên cứu :
Sử dụng và dược lý học .
● Chất colchicine ức chế sự phân cắt tế bào bình thường, đặc biệt bằng cách can thiệp với sự tăng trưởng của những vi ống microtubules và sự phân bào mitose trong quá trình phân chia tế bào.
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale cũng có thể can thiệp đế chức năng bình thường của :
- adénosine monophosphate cyclique (AMPc),
- hoặc màng tế bào membrane cellulaire.
● Cơ chế hóa học của thành phần alcaloïdes Colchicine :
▪ Thành phần colchicine không phải là không biết ở thế giới y học, bởi vì nó được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh thống phong goutte,
và  đã nghiên cứu tronng nhiều bệnh khác, bao gồm cả gia đình :
- sốt địa trung hải fièvre méditerranéenne,
- xơ gan cirrhose,
- và hội chứng Sweet,
- bệnh hen suyễn asthme,
- xơ hóa gan fibrose hépatique,
- bệnh Behçet,
- và viêm màng ngoài tim péricardite với tràn dịch épanchement.
Gần đây, những chất allocolchicines (dẫn xuất của colchicine) và chất tương tự khác cho thấy những hiệu quả phấn khởi trong :
- những tế bào ung thư cellules cancéreuses.
Điều này, phần lớn là do khả năng của chất allocolchicine ngăn chận sự phân bào mitose bằng cách ức chế sự trùng hợp polymérisation của chất tubuline một protéine thành phần chủ yếu của những vi ống microtubules gây trở ngại cho sự tiến triển của những tế bào thông qua chu trình tế bào và dẫn đến sự cảm ứng  lập trình tự hủy apoptose.
Sự ức chế của sự hình thành vi ống microtubules này đặc biệt lợi ích trong chữa trị :
- bệnh ung thư cancer
bởi vì những tế bào ung thư cancéreuses tăng sinh nhanh chóng và không thể kiểm soát được.
Chất colchicine là nguyên chất hoạt động chánh tìm thấy trong Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale và hiện diện ở nồng độ khoảng 0,6% của thân củ sống ngầm dưới đất, những nồng độ có thể vượt quá 1% trong những hạt.
● Bệnh thống phong Gout :
Cây và trích xuất của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale được sử dụng để chữa trị :
- bệnh thống phong goutte,
- và những rối loạn tình trạng viêm inflammatoires liên quan.
Nghiên cứu không cho thấy một dữ liệu nào trên động vật hoặc trên lâm sàng liên quan đến sự sử dụng của crocus d'automne Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale cho :
- bệnh thống phong goutte.
Một đặc san của bệnh thống phong goutte đề cập đến sự sử dụng vào năm 1936 của chất colchicine để giảm sự tấn công của bệnh thống phong cấp tính goutteuses aiguës và một báo cáo năm 1961 trên tính hiệu quả và độ an toàn của sự dự phòng prophylaxie hằng ngày với chất colchicine.
● Yếu tố chống ung thư agent anticancéreux :
Bởi vì chất colchicine làm ức chế sự phân bào mitose trong giai đoạn biến kỳ métaphase, người ta nghĩ rằng nó là lợi ích như một yếu tố chống ung thư anticancéreux.
Mặc dù nó đã được chứng minh một hoạt động chống ung thư antinéoplasique trong ống nghiệm in vitro và trong một số mô hình nhất định trong cơ thể sinh vật sống in vivo, độc tính toxicité của thuốc có một sự sử dụng giới hạn ở người.
Hóa trị liệu miễn nhiễm immunochimiothérapie của một ung thư biểu mô carcinome tế bào thận cellules rénales đa kháng sinh đồng thời sử dụng một sự kết hợp của với thuốc vinblastine, tamoxifène, colchicine và 5-flourouracile cho thấy một tỹ lệ phản ứng tổng thể 23,5% với một độc tính giới hạn.
Lồng ghép của một liều thấp của chất colchicine trong những phát đồ hóa trị liệu chimiothérapeutiques có thể giảm những độc tính toxicités tổng thể.
● Viêm gan mãn tính hépatite chronique / xơ gan cirrhose :
◦ Chất colchicine đã được nghiên cứu cho tính hiệu quả của nó trong việc hạn chế sự tiến triển của viêm gan mãn tính hépatite chronique và xơ gan cirrhose;
Tuy nhiên, một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên và kiểm soát chống lại giả dược placebo trên 55 bệnh nhân mắc bệnh xơ gan rượu cirrhose alcoolique không bằng chứng chứng minh nào của một hiệu quả lợi ích của chất colchicine trên sự sống còn hoặc tỹ lệ của những biến chứng.
Nó dường như giảm viêm inflammation, ức chế sự tổng hợp của chất keo collagène và làm suy thoái chất keo collagène, do đó làm chậm lại sự tiến triển của bệnh và xơ hóa fibrose và có thể kéo dài thời gian sống sót.
◦ Một thử nghiệm tiềm năng trong mù đôi  so sánh chất colchicine và chất méthotrexate trong chữa trị xơ gan mật mới phát cirrhose biliaire primitive đã chứng minh một hiệu quả tương đương trong chữa trị bệnh ngứa prurit; tuy nhiên, chỉ thuốc méthotrexate đã cải thiện mô học của gan histologie du foie.
◦ Sự sử dụng kết hợp của chất colchicine với thuốc méthotrexate và acide ursodéoxycholique có thể là lợi ích.
● Xơ phổi Fibrose pulmonaire vô căn idiopathique :
◦ Một kiểm soát, ngẫu nhiên và thử nghiệm tương lai của 26 bệnh nhân được chữa trị bởi chất colchicine hoặc prednisone ( một thuốc tổng hợp tưong tự như cortisone không cho thấy một sự cải thiện nào với một hoặc yếu tố khác.
◦ Một nghiên cứu tương lai, không ngẫu nhiên đồng thời sử dụng chất colchicine và / hoặc chất D-pénicillamine với chất prednisone đã không ngừng tiến triển của xơ phổi vô căn fibrose pulmonaire idiopathique.
◦ Một nghiên cứu hồi tưởng rétrospective so sánh với chất colchicine, dưởng khí oxygène và chất prednisone  không chữa trị không cho thấy một sự khác biệt nào trong sự sinh tồn survie.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Độc tính toxicité :
Những Cây Nghệ mùa thu Colchicum autumnale độc hại chết người toxiques do hàm lượng chất colchicine, và đã bị nhầm lẫn bởi những người cắt cỏ cho thú vật ăn ở Cây ramsons Allium ursinum, chúng giống hệt với nhau.
▪ Những triệu chứng của sự ngộ độc empoisonnement với chất colchicine tương tự như chất arsenic và không thuốc giải độc nào được biết.
Cây này tạo ra một mối đe dọa đặc biệt cho những loài mèo do hàm lượng chất colchicine và thành phần alcaloïdes.
▪ Những và những trái của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale chứa hàm lượng chất độc toxines cao, nhưng tất cả bộ phận của Cây được xem như độc hại toxiques.
Thân củ ngầm, những và những hạt Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale chứa thành phần alcaloïde colchicine độc hại toxique, là một chất độc phân bào poison mitotique (nó can thiệp với sự phân chia của sự giảm của những nhiễm thể chromosomes trong thời gian phân bào méiose).
▪ Những triệu chứng ngộ độc xảy ra trong những 2 đến 6 giờ và bao gồm những cảm giác :
- phỏng cháy brûlure trong miệng và cổ họng,
- ói mữa vomissements,
- co thắt spasmes,
- tiêu chảy  diarrhée ( có máu sang),
- suy tuần hoàn insuffisance circulatoire,
- nhiệt độ cơ thể và huyết áp tension artérielle giảm hạ.
▪ Sau 1 hoặc 2 ngày, tử vong do bởi hệ hô hấp bị tê liệt paralysie respiratoire.
▪ Bệnh nhân vẫn nhận thức cho đến khi kết thúc.
▪ Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale rất độc hại toxique, nó không nên ghi toa cho những phụ nữ mang thai hoặc ở những bệnh nhân mắc bệnh suy thận insuffisance rénale, và chỉ nên sử dụng dưới sự giám sát của một người chuyên môn có khả năng thật sự.
● Triệu chứng đặc trưng của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale
▪ viêm inflammation khóe ngón chân cái gros orteil không hỗ trợ bất kỷ liên hệ nào.
▪ những mùi nấu ăn gây buồn nôn nausée
▪ cảm giác lạnh trong dạ dày estomac
▪ tiêu chảy mùa thu diarrhée automnale
▪ rất kích ứng trong thời gian những đau nhức.
▪ bụng đầy hơi ballonnement abdominal quan trọng đặc biệt :
- đại tràng phải colon droit,
- và dạ dày estomac
▪ những khớp xương articulations ảnh hưởng có màu đỏ và đau nhức.
▪ Những liều vượt quá gây ra một :
- tẩy xổ dữ dội purge violente, …v…v...
Nguyên chất hoạt động được cho là một chất kiềm alcaline, một bản chất tự rất độc venimeuse gọi là Colchinine.
▪ Nó có khả năng gây ra một trầm cảm quá mức dépression excessive và với một liều mạnh, hành động như :
- một chất độc gây kích thích poison irritant.
▪ Dr. Lindley kể lại trường hợp của một người phụ nữ đã bị ngộ độc bởi mầm của Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale, đã bị vứt bỏ ở chợ Covent Garden và bà ta nhầm nhở là những củ hành tây.
● Mang thai Grossesse / Cho con bú Allaitement
Những thông tin liên quan đến sự an toàn và tính hiệu quả trong thời gian mang thai và cho con bú là mâu thuẫn.
Một văn bản thực vật y học liệt kê Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale như một thảo dược :
- gây đột biến mutagène,
- và gây ra quái thai tératogène.
▪ Mặc dù không hiệu quả gây ra đột biến mutagène chưa được báo cáo ở một số ít của những bào thai người fœtus humains tiếp xúc với chất colchicine, những bất thường của tinh trùng sperme đã được ghi nhận ở những người đàn ông chữa trị với chất colchicine.
▪ Những hiệu quả được quan sát là không còn tinh trùng azoospermie và một số bất thường của nhiễm sắc thể chromosomes, bao gồm :
- trisomie 21, nguyên nhân của hội chứng Down.
▪ Chất colchicine được bài tiết trong sữa mẹ lait maternel người.
▪ Học viện nhi khoa American Academy of Pediatrics báo cáo chất colchicine như tương hợp với việc cho con bú allaitement maternel.
▪ Những phụ nữ và đối tác nam của họ có kế hoạch mang thai phải tránh sử dụng Cây Nghệ mùa thu Cochicum autumnale do tiềm năng biến chứng và những dữ liệu có sẵn còn hạn chế để sử dụng ở con người.
● Tác dụng phụ có thể xảy ra và biện pháp phòng ngừa :
▪ Cây rất độc hại toxique :
Liều độc hại toxique của colchicine, nằm khoảng chung quanh 10 mg, uống một liều lớn hơn đến 40 mg luôn luôn dẫn đến tử vong :
- thời gian chờ từ 3 đến 5 giờ, sau đó :
- phỏng cháy miệng brûlures buccales,
- uống nước nhiều polydipsie,
- bài tiết nước bọt quá nhiều hypersalivation,
- co siết lại thanh quản-cổ họng pharyngo-laryngée,
- và sau đó viêm dạ dày ruột xuất huyết gastro-entérite hémorragique,
- mất nước déshydratation,
- kali giảm trong máu hypokaliémie,
- nhiễm acide trao đổi chất biến dưởng acidose métabolique,
sau đó ở trạng thái :
- co giật état de choc,
- suy tim-hô hấp défaillance cardio-respiratoire,
- và đa phủ tạng multiviscérale,
- ly giải tế bào gan cytolyse hépatique,
- đông máu nội mạch lan tỏa coagulation intramusculaire disséminée,
sau đó :
- rối loạn huyết học hématologiques (suy tủy aplasie médullaire),
- nhiễm trùng máu septicémie,
- suy thận insuffisance rénale sau đó tử vong trong vòng một tuần.
◦ Liều tử vong người lớn : 5 g hạt , 50 g dung dịch trong cồn teinture
◦ Liều tử vong trẻ em : 1,2 đến 1,5 g hạt.
Ứng dụng :
● Sử dụng khác :
▪ Nhân giống cây trồng :
Thành phần alcaloïde độc hại toxique «colchicine» là trích xuất của cây này được sử dụng để thay đổi thành phần di truyền composition génétique của những Cây trong mục đích những giống mới cải thiện.
Nó hoạt động bằng cách nhân đôi số lượng nhiễm sắc thể chromosomes.
▪ Những đặc tính sự gián đoạn của những sự phân bào mitoses của chất colchicine được sử dụng trong sự chọn lọc thực vật và những trái lớn hơn :
- nó ngăn chận những tế bào thực vật  phân chia tế bào.
Kết quả, những tế bào đơn bội haploïdes trở thành đa bội polyploïdes và lớn hơn bình thường.

Nguyễn thanh Vân

dimanche 15 juillet 2018

Muối và dầu - Salt and oil

Salt-and-oil
Muối và dầu
Cleistopholis patens (Benth.) Engl. & Diels
Annonaceae
Đại cương :
Cây tên thông thường Anh " muối và dầu " ( từ tên ghanaian ám chỉ đến hương vị của vỏ ).
Tên trong thương mại otu (Sierra Leone, Savill và Fox, 1967).
Nguồn gốc và sự phân phối địa lý :
Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được phân phối rộng rãi từ Sénégal đến Ouganda, và thông qua phía nam đến R.D. du Congo và đến Cabinda (Angola).
Cây Muối và dầu Cleistopholis patens thường hình thành thảm thực vật phát triển cạnh những cửa sông hoặc những vùng nước nằm giữa khu vực nước và đất ( écotone ) Chúng được tạo thành từ những vị trí đặc biệt trong nhiều khoảng thời gian dài….( ripisylve ) và trong những khu rừng đầm lầy, cũng như trong những khu rừng thứ cấp forêt secondaire.
Nó thích những nơi bằng phẳng, bị xáo trộn và ẩm, nhưng người ta cũng có thể tìm thấy trong những rừng thường  xanh forêt sempervirente trên những sườn dốc cao đến 1100 m.
Nó không chịu được lửa.
▪ Một Cây đạt đến 30 m cao, hiện diện từ Sierra Leone đến Ouganda và ở Zaïre; cây thích nắng mặt trời, tăng trưởng nhanh, phổ biến trong những vùng rừng xáo trộn, xâm chiếm nhanh trong những vùng bị bỏ hoang.
Khả năng tăng trưởng của nó rất nhanh, đến 13 m cao và 70 cm chu vi trong vòng 7 năm, được ghi nhận ở Sierra Leone – có thể khai thác để sản xuất bột giấy pulpe hoặc cellulose.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây đại mộc, có kích thước nhỏ đến trung bình đạt đến 20 (–30) m cao, thân không nhánh trên 10 (–20) m, thường thẳng, hình trụ và mảnh gầy, đến 80 (–90) cm đường kinh, đôi khi hơi bị bong ra ở bên dưới gốc, bề mặt vỏ láng, bên ngoài có những vết nứt, màu trắng xám nhạ, vỏ trong có nhiều xơ, có thể tách xé thành dải dài dọc,  màu trắng đến màu cam nâu nhạt, thơm, tán với những nhánh ngang rơi rủ xuống ở ngọn nhánh, những nhánh thường thể hiện thành những chỏm nhỏ và láng không lông.
, mọc cách, lá đơn và nguyên, không lá chét, cuống lá đạt đến 1 cm dài, phiến lá thường hẹp thuôn dài hình ellip, từ (2,5–)10–25(–30) cm × (1,5–)3–6 cm, hình nêm tròn và hơi không đối xứng dưới đáy phiến, mũi nhọn ngắn ở đỉnh,  giống như giấy mịn dai, bóng sáng chói, gân lá hình lông chim có đến 8–24 cặp gân lá bên.
Phát hoa, cụm nhỏ ở nách lá, gồm đến 8 hoa, gần như mịn không lông.
Hoa, lưỡng phái, đều, 3 phần, màu vàng xanh nhạt, cuống hoa từ 1–2,5 cm dài, bao gồm :
- đài hoa rời, hình bầu dục rộng, khoảng 2 mm dài.
- cánh hoa, rời, xếp thành 2 luân sinh :
◦ cánh hoa ngoài 3 hình thuẩn đến hình thuẩn thuôn dài, từ 0,5–1 cm dài,
◦ cánh hoa 3 bên trong ngắn hơn, có lông mịn ngắn trên những cạnh cánh hoa.
- tiểu nhụy, nhiều, khoảng 1 mm dài.
- bầu noãn, nhiều tâm bì khoảng gần 10 tâm bì, với những noãn khoảng 1 mm dài, vòi nhụy nhỏ.
Trái, bao gồm đến 9 nang gần như hình cầu đạt đến từ 1,5–2 cm đường kính, với một cuống dài khoảng 7 mm dài, hơi nén giữa những hạt, có nhiều mụn khi khô, láng không lông, không khai khi trưởng thành, chứa 1-2 hạt.
Hạt, hình cầu đến ellip, đường kính khoảng 1–1,5 cm đường kính, có nhiều mụn.
Bộ phận sử dụng :
Vỏ thân, nhựa vỏ thân, bột nạt của vỏ, tinh dầu vỏ, lá, rễ, và vỏ rễ.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Đặc tính hóa học :
Những alcaloïdes (eupolauridine, onychine và 3-méthoxysampangine) đã được phân lập từ vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens ; những hợp chất này đã được chứng minh có một hoạt tính mạnh chống nấm antifongique chống lại nấm Candida albicans.
Ngoài ra, những trích xuất của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens cho thấy một hoạt động :
- diệt giun trùng anthelminthique
chống lại loài Rhabditis pseudoelongata.
▪ Dầu thiết yếu của những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens chứa :
- (E)-β-ocimène,  như một hợp chất chánh,
vỏ của Cây chứa :
- myrcène,
- p-cymène,
- và germacrène D,
và những trái của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens chứa :
- linalol
cũng như :
- (E)-linalol,
- và (Z)-linaloloxyde.
▪ Đặc tính vật lý :
Lõi bois de cœur Cây Muối và dầu Cleistopholis patens, màu trắng xám nhạt, đôi khi nhuộm màu hồng và đôi khi có sọc không rõ ràng, không phân biệt rõ với dát gỗ aubier.
Sợi gỗ thẳng, hạt gỗ to nhưng đều nhau.
Gỗ bóng.
Gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nhẹ, với một mật độ 290–500 kg/m³ ở 12% độ ẩm, và khá mềm.
◦ Nó sấy khô nhanh chóng, nhưng phải được xếp đúng cách để tránh hư hại, những tỹ lệ co nhót khá cao.
Khi sấy khô, gỗ có độ ỗn định vừa phải trong phục vụ.
◦ Ở độ ẩm 12%,
- tiêu chuẩn bể vỡ là từ 29–38 N/mm²,
- tiêu chuẩn đàn hồi élasticité 6080–8230 N/mm²,
- độ nén ép trục axiale 38 N/mm²,
- cắt cisaillement 11 N/mm²,
- và độ cứng rắn dureté Janka de flanc 1410 N.
Gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens dễ cưa và làm việc. Nó bào phẳng tốt và kết thúc láng mịn.
▪ Nó diển tiến tốt đẹp, nó không bền, bởi vì nó là đối tượng tấn công của những nấm mốc champignons, những mối termites, của những loài Lyctus và của những bọ biển térébrants marins.
Những thử nghiệm cho thấy những đặc tính của nghiền nhuyễn bột nhão pâte vừa phải để sản xuất ra bột giấy.
▪ Đặc tính sinh học :
▪ Những trích xuất méthanol của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens cho thấy một hoạt tính rõ :
- kháng vi khuẩn antimicrobienne.
◦ Phần đoạn stéroïdienne của trích xuất được đánh dấu một hoạt động chống :
- Bacillus subtilis,
-Klebsiella pneumoniae
mạnh hơn rất nhiều so với thuốc pénicilline và chloramphénicol,
◦ Những phân đoạn hétérosidealcaloïde cho thấy một hoạt động đáng kể chống :
- Klebsiella pneumoniae,
◦ và phần đoạn saponine chống :
- Salmonella typhimurium.
▪ Những trích xuất của trái Cây Muối và dầu Cleistopholis patens cho thấy trong ống nghiệm in vitro một hoạt động :
- chống loài trùng chiên mao ký sinh trong bạch huyết leishmania antileishmanienne.
▪ Vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nghiền nát thành bột cho thấy có hiệu quả chống bệnh  nấm ngoài da teigne của những trái khô (Plodia interpunctella), là một loài nấm gây hại ravageur của những sản phẩm thực phẩm dự trữ.
▪ Những dầu thiết yếu của vỏ và của những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đánh dấu một hoạt động rõ ràng trong ống nghiệm in vitro chống loài Plasmodium falciparum.
Những thử nghiệm an toàn không cho thấy hoạt động gây đột biến mutagène chống lại những chủng Salmonella typhimuriumEscherichia coli.
▪ Quản lý trích xuất méthanoliques của vỏ ở những chuột cái cho thấy rõ một sự gia tăng phụ thuộc vào liều của những nồng độ của nhiều kích thích tố hormones, bao gồm :
- progestérone,
- và œstrogène.
▪ Một số oligorhamnosides một phần được acétyl hóa acétylés đã được phân lập từ những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens ; một số nhất định trong số đó cho thấy có một hoạt động mạnh kháng khuẩn antibactérienne chống :
- Staphylococcus aureus đề kháng với méthicilline.
Đặc tính trị liệu :
▪ Những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens là :
- hạ nhiệt fébrifuge,
- và diệt giun sán vermifuge
Một ngâm trong nước đun sôi infusion được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh sốt fièvre
Nhựa Cây màu đỏ nhạt và giống như dầu cọ huile de palme, nó có một hương vị mặn.
▪ Nhựa của vỏ sève de l'écorce Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đập  dập, hoặc nấu sắc décoction của vỏ, được tiêu thụ như để chữa trị :
- bệnh lao tuberculose,
- và những bệnh phế quản đơn giản bronchiques simples.
Vỏ được ngâm trong nước lạnh và dùng uống như thuốc :
- tẩy sổ purgatif,
- và dịu những cơn đau bụng tiêu chảy coliques
Bột nạt pulpe của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nghiền nát, kết hợp với những mảnh nhỏ thân của Cây Chóc Costus, được áp dụng trong thuốc dán đắp cataplasme trên :
- những ung mủ abcès trong mô mềm gần móng tay hoặc móng chân whitlows,
- và những phù nề oedèmes.
Nhựa của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng như thuốc nhỏ giọt mũi instillation nasale để chữa trị :
- những đau đầu maux de tête
▪ Sự sử dụng rộng rãi của vỏ và những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens trong y học địa phương công trạng của việc nghiên cứu để hiện diện của những chất hoạt động .
Tuy nhiên, vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được thử nghiệm cho hành động trên :
- bệnh sốt rét gia cầm paludisme aviaire
không cho thấy một hoạt động nào.
▪ Nhiều bộ phận của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens thường được sử dụng trong y học địa phương.
▪ Nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens dùng trong trường hợp :
- đau dạ dày maux d’estomac,
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh lao tuberculose,
- viêm phế quản bronchite,
- và viêm gan hépatite.
Bột nạt pulpe của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được áp dụng trên :
- chứng thũng trướng sưng phù tuméfactions,
- những phù nề œdèmes,
- và những chứng nhọt sung có mủ ở đầu ngón tay panaris,
nước ép jus của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng trong thuốc nhỏ mũi instillation nasale để chữa trị :
- những đau đầu maux de tête,
và trong ma sát friction chống lại :
- bệnh còi rachitisme ở những trẻ em.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Ouganda, người ta sử dụng vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nghiền nát trong những chế phẩm chống lại :
- bệnh sốt rét paludisme,
- và bệnh sởi rougeole.
▪ Ở Nigeria, người ta dùng vỏ để chữa trị :
- bệnh sốt thương hàn fièvre typhoïde
và những trích xuất vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens trong chữa trị :
- những rối loạn của chu kỳ kinh nguyệt cycle menstruel.
Vỏ của rễ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens phục vụ để :
- diệt giun sán vermifuge.
Ngâm trong nước đun sôi infusion hoặc nấu sắc décoction của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được quy định trong trường hợp :
- viêm gan hépatite,
- bệnh sốt fièvre,
- bệnh nhiễm trùng trypanosoma trypanosomose,
- và viêm khớp dạng thấp khớp arthrite rhumatismale,
- và như diệt giun sán vermifuge.
▪ Rang grillées và nghiền nát broyées, những hạt được áp dụng chống :
- những đau đầu maux de tête.
Hạt, nó phục vụ để làm ngọc trai perles.
Vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được ngâm trong nước lạnh và dùng như :
- tẩy xổ purgatif trong Sierra Leone.
và để giảm :
- những đau bụng tiêu chảy coliques ở Gabon và ở Congo.
Nhựa của vỏ đập dập, hnoặc nấu sắc décoction của vỏ được dùng để dự thảo cho :
- bệnh lao tuberculose,
- và cho những bệnh viêm phế quản đơn giản bronchiques simples trong Congo
▪ Ở Ghana, ngâm trong nước sôi infusion Cây Muối và dầu Cleistopholis patens, đôi khi kết hợp với sả citronnelle, đu đủ papaye hoặc thảo dược khác, được sử dụng cho :
- viêm gan hépatite nhiễm trùng infectieuse,
- và công trạng một điều tra thâm cứu hơn.
▪ Những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens đã được sử dụng như :
- diệt giun sán vermifuge, trong nhiều vùng lãnh thổ.
và như :
- diệt giun sán vermifuge,
- và hạ nhiệt fébrifuge, ở Gabon.
▪ Trong Côte-d'Ivoire, một nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đưa vào trong một chữa trị nói chung :
- những nước rửa eaux de rinçage,
- những tắm hơi bains de vapeur,
- và ma sát tại chỗ frottements topiques
trong sử dụng những liên quan đến :
-  những biến dạng phía sau hình thành bướu, thường do sự sụp xuống của đốt xương sống  bossus ( hunchback ),
và cho :
- những trẻ em bệnh còi enfants rachitiques
trong khi nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens là một thuốc nhỏ mũi instillation nasale cho :
- những đau đầu maux de tête.
▪ Những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được nhai với cola và ngâm trong nước đun sôi infusion dùng trong chữa trị :
- bệnh sốt fièvre
trong Sierra Leone và ở Gabon.
▪ Trong Haute-Côte-d'Ivoire, một nước nấu sắc décoction của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đưa ra trong uống và cũng như trong nước rửa cho :
- bệnh ngủ maladie du sommeil.
Nghiên cứu :
● Biến đổi hóa học của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens (Benth.) Engl. và Diels, dầu lá tử Côte d'Ivoire.
Ouattara ZA1, Boti JB, KB Attioua, Ahibo AC, J Casanova, Tomi F, Bighelli A.
Thành phần hóa học của 48 mẫu dầu của lá phân lập của những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens (Benth.) Engl. et Diels, riêng lẽ thu thập được trong 4 khu rừng Côte d’Ivoire đã được nghiên cứu bởi GC-FID (xác định của những chỉ số lưu giữ), GC / MS và C-RMN.
Những thành phần chánh được xác định là :
- β-pinène (traces-59,1%),
- sabinène (traces -54,2%),
- (E) -β-caryophyllène (0,3-39,3%),
- linalol (0,1-38,5%),
- (E) -β -ocimène (0,1-33,2%),
- germacrène D (0,0-33,1%),
- α-pinène (0,1-32,3%),
- và germacrène B (0-21,2%).
48 thành phần của dầu đã được đưa vào những phân tích của sự phân loại hệ thống và những thành phần chánh, điều này cho phép phân biệt ra thành 3 nhóm trong những phẩu vật của dầu thu được.
▪ Thành phần trong dầu của nhóm chánh ( nhóm I, 33 mẫu ) chiếm ưu thế bởi :
- (E) -β-caryophyllène,
- và linalol.
▪ Những dầu của nhóm II (8 mẫu ) chứa những chất chánh :
- β-pinène,
- và α-pinène,
▪ trong khi của nhóm III (7 mẫu ) chiếm ưu thế bởi :
- sabinène,
- limonène,
- và β-phellandrène.
Ngoài ra, những thánh phần của những tinh dầu của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens ở Côde d’Ivoire khác với tinh dầu có nguồn gốc ở nigérianecamerounaise.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không biết, cần bổ sung.
Cẫn thận khi dùng, tham vấn với những người chuyên môn lo về sức khỏe trước khi sử dụng làm thuốc chữa bệnh.
Ứng dụng :
● Sử dụng y học :
▪ Một nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens đưọc uống, được sử dụng trong lau rửa, những tắm hơi nước bains de vapeur và ma sát tại chổ friction topique như chữa trị cho :
-  những biến dạng phía sau hình thành bướu, thường do sự sựp xuống của đốt xương sống  bossus ( hunchback ),
- và những trẻ em bệnh còi enfants rachitiques
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion Cây Muối và dầu Cleistopholis patens đôi khi được kết hợp với sả citronnelle (Cymbopogon spp.), đu đủ papaye (Carica papaya) hoặc với thảo dược khác và được sử dụng trong chữa trị :
- viêm gan hépatite nhiễm trùng infectieuse.
Một nước nấu sắc décoction của Cây Mỏ quạ Cleistopholis patens, được uống và cũng được sử dụng như lau rửa trong chữa trị :
- bệnh ngủ maladie du sommeil
● Sử dụng khác :
Vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens rất xơ và dễ dàng tách rời khỏi gỗ.
Vỏ trong cho một nguyên liệu giống như ren có một sức mạnh đáng chú ý và chế biến thành những tấm thảm trên đó người ta trải những hạt cacao để phơi khô.
▪ Những dây thừng và những tấm thảm được chế tạo từ những vỏ trong suốt quá trình cung cấp của Cây.
Nó được sử dụng cho những băng trên trán bandeaux frontaux và những dây đeo lưng được sử dụng bởi những dân tộc địa phương khi mang những giỏ cây cọ paniers de palme.
Vỏ Cây Mỏ quạ Cleistopholis patens  đôi khi được sử dụng để chế tạo những vách tường murs, những vách ngăn và những giầy dép sandales.
▪ Những hạt được sử dụng như những hạt trai perles
▪ Gỗ có màu sáng của một kết cấu len, hạt thẳng, mềm, nhẹ, không bền, nó có thể dễ dàng cắt và hoàn tất suôn sẻ.
Nhựalõi gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens  cả hai đều phát sáng.
Gỗ thường có những đặc tính tương tự với balsa (Ochroma sp.). và phải phù hợp với cùng một sử dụng tương tự.
▪ Những thân Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng để thả nổi những Cây nặng trong những dòng sông.  
Gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng như một phao, để làm những cái trống, những xuống máy canots ……và được cho là phù hợp với ngành mộc.
Hiện tại, nó dường như không có một sự sử dụng thương mại nào của gỗ, mặc dù nó có giá trị lợi ích như một ván ép.
Khả năng tăng trưởng của nó rất nhanh, có thể cho phép khai thác nó để sản xuất bột nhão pâte hoặc cellulose
▪ Ở Ghana, vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens trước đây được sử dụng để chế tạo những giầy dép sandales.
Vỏnhựa cây bois de sève Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nhựa phù to.
Người ta nói rằng vỏ chảy ra nước khi nó được cắt và tên Bassa (phóng thích ) có nghĩa là « Cây phun nước » trong ám chỉ điều này.
▪ Nhựa có màu đỏ nhạt giống như dầu cọ huile de palme và có hương vị mặn, nơi đây nó còn có tên Akan (Ghana).
Thực phẩm và biến chế :
Không thấy đề cập ??.

Nguyễn thanh Vân

vendredi 6 juillet 2018

Mận Ấn - Indian plum

Indian plum
Mận Ấn
Oemleria cerasiformis - (Torr.&A.Gray.)Greene.
Rosaceae
Đại cương :
Danh pháp :
Giống được đặt tên theo Augustus Gottlieb Oemler (1773-1852), một nhà tự nhiên người Đức ở Savannah, Géorgie, là người đầu tiên thu thập mẫu vật loài này.
◦ Tên loài Cerasiformis có nghĩa có hình dạng của trái Anh đào cerise.
◦ Tên giống cũng được biết dưới tên Osmaronia cerasiformis hoặc Nuttallia cerasiformis.
- Osm- là gốc tiếng Hy lạp grecque có nghĩa " mùi malodorante".
- Aronia là giống những trái chokeberries.
Tên thông thường khác bao gồm :
- Osoberry, prune d'Orégon, prune de Squaw, pêche indienne, cerise d'oiseau, và Skunkbush.
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis, là một Cây bụi thường được biết như osoberry hoặc prune indienne, là một loài duy nhất của giống Oemleria.
Cây có nguồn gốc từ bờ biển Thái Bình Dương Pacifique và những không gian phân bố từ Bắc Mỹ Amérique du Nord, từ Colombie-Britannique đến Canada đến địa hạt Santa Barbara, trong Californie, nó là một trong những cây đầu tiên trổ hoa và phát hoa vào đầu mùa xuân.
Nó đạt đến độ cao từ 1,5-5 m và có những hình mũi dáo từ 5 đến 12 cm dài.
▪ Môi trường sống :
Thường tìm thấy với một tầng chiếm ưu thế từ Douglas-Fir, Western Redcedar hoặc Cottonwood. Tìm thấy trong những rừng mở, khô và ẩm, những suối nước nóng bên lề đường, người ta tìm thấy ở  độ cao thấp.
Nếu Cây mọc trong những nơi có ánh sáng mặt trời đầy đủ, nó phát triển những tàn lá rậm rạp hơn và có hoa và trái nhiều hơn.
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis có nguồn gốc và thường tìm thấy ở những độ cao thấp hơn từ cực Tây Nam của Colombie-Britannique đến thung lủng Willamette của Oregon và những chân đồi môi trường chung quanh.  Tiếp tục đi về phía nam, nó trở nên ít phổ biến hơn trong những dãy bờ biển của Californie đến địa hạt Santa Barbara và sườn phía tây của những dãy núi của Sierra Nevada đến địa hạt Tulare trong Californie.
Nó mọc trong những vùng USDA 8 đến 9, trong những vùng với độ nước mưa hàng năm trung bình từ 36 đến 300 mm.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây, bụi với lá rụng, trung bình đến lớn, thẳng, thường với nhiều thân và có một sự tăng trưởng ngang. Cây tăng trưởng nhanh nhưng thời gian sống tương đối ngắn, đạt đến 5 m cao ở những điều kiện tối ưu, khi mọc nơi có ánh nắng mặt trời đầy đủ và trong những điều kiện ánh sáng yếu, nó có xu hướng nghiêng về phía những vùng có bóng râm, hơi phân nhánh, thân cong, vỏ đắng, màu nâu tía.
Những nhánh mọc ra từ hệ thống rễ trung tâm và không phát triển từ thân cây như đã trông thấy ở những thực vật khác. Những nhánh chằng chịt, rễ chạm vào đất dễ dàng và tách biệt, vì vậy những Cây lớn thường được bao quanh bởi những dòng vô tính di truyền clones génétiques.
, mọc cách, lá đơn, nguyên không răng, dợn sóng, rụng sớm, hình ellip thuôn dài, những phiến lá từ 5 đến 12 cm dài, không răng, màu xanh lá cây nhạt và láng ở mặt trên, nhạt hơn và thường có ít lông ở mặt dưới. Vào mùa xuân, lá tươi có mùi và có thể có hương vị như dưa leo.
Những lá có màu xanh lá cây sáng và trở nên màu sậm hơn khi trở nên già, màu sắc của lá biến đổi thành một màu vàng trong nắng đầy đủ vào tháng 8 nhưng nó còn gắn vào những nhánh cành cho đến đầu mùa thu.
Phát hoa, lỏng lẻo, rủ xuống, có lá hoa, hợp thành nhóm từ 5 đến 10 cm dài, ở đỉnh của nhánh nhánh nhỏ ở nách lá.
Hoa, đơn tính biệt chu, có nghĩa những hoa đực và hoa cái tìm thấy trên những cây khác nhau. Như vậy nó không tự thụ phấn, phải nhờ đến tác nhân bởi những côn trùng để thực hiện sự thụ phấn. Những hoa xuất hiện rất sớm vào cuối mùa đông trước lá và có mùi hôi như nước tiểu con mèo, và có đường kính khoảng 1 cm.
Hoa màu xanh lá cây trắng, có dạng hình chuông  với :
- đài hoa, kích thước khoảng từ 6 đến 7 mm dài, với 5 thùy, những thùy gần bằng nhau. 
- vành hoa màu trắng xanh nhạt, hình dạng cái chén, khoảng 1 cm đường kính, cánh hoa 5, hình trứng, khoảng từ 5-6 mm dài, tỏa ra ( ngắn hơn, hẹp hơn và thẳng đứng ở những hoa cái).
- tiểu nhụy, 15 tiểu nhụy và đo được khoảng 1 cm dài.
- Bầu noãn, ( cây cái ) thường 5 tâm bì, hay hơn.
Trái, thịt, có cấu trúc của trái mận nhỏ, hình trứng, khoảng 1,3 cm dài, lúc đầu có màu cam của trái đào pêche, sau đó trưởng thành có màu xanh đen, có vị đắng
Bộ phận sử dụng :
Thân cây, vỏ, lá, trái.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ chất đạm protein  0,8g
▪ chất béo  0,07g
▪ chất xơ thực phẩm fiber  0,6g
▪ carbohydrates  17g
▪ đường sucre  5,4 - 10,5g
▪ đường giảm reducing sugars  0,4g - 6,2g
▪ calcium Ca  25,6mg
▪ phosphorus P  26,8mg
▪ sắt Iron          0,76 - 1,8g
▪ β-Carotene  0,021mg
▪ thiamine  0,02 - 0,024 mg
▪ riboflavin  0,02 -0,038mg
▪ niacin  0,7 - 0,873mg
▪ citric Acid  0,2 - 1,1mg
▪ ascorbic Acid  65,8 - 76mg
Đặc tính trị liệu :
Vỏ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis là :
- nhuận trường nhẹ légèrement laxative.
▪ Một nước nấu sắc décoction đã được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh lao tuberculose.
▪ Một thuốc dán đắp cataplasme của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được đốt cháy nghiền nát, pha trộn với dầu huile, được sử dụng để chữa trị :
- những bộ phận đau nhức của cơ thể douloureuses du corps.
● Lợi ích cho sức khỏe của sự tiêu dùng Mận Ấn :
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis thường được sử dụng bởi những người dân bản địa Amérique trong thực phẩm của họ.
Vỏ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được sử dụng trong trà thé được xem như một phương thuốc chống lại :
- bệnh lao tuberculose,
và một thuốc để :
- thải sạch (đi cầu ) đường ruột évacuation des intestins.
Những nhánh được nhai bởi vì người ta nghĩ rằng nó có tính :
- sát trùng nhẹ antiseptiques doux,
- và kích thích tình dục aphrodisiaques.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis ăn được bởi con người nhưng có một hương vị đắng ngay cả khi trưởng thành chín maturité.
▪ Những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis có thể được tiêu thụ sống hoặc chín và tốt cho :
- bệnh sốt fièvre.
Nó chứa những thành phần dinh dưởng cao nutriments và một chất xơ thực phẩm fibre alimentaire hành động như :
- một chất chống oxy hóa antioxydant cho cơ thể.
▪ Những Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được luộc chín và được tiêu thụ để chữa trị :
- bệnh tiểu đường diabète.
Nó chữa lành những bệnh :
- nhiễm trùng thận infections rénales,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- ho toux,
- những vết thương loét plaies,
- và những bệnh khác.
▪ Thêm trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis vào trong chế độ ăn uống có thể là một quyết định khôn ngoan chất xơ fibre tìm thấy sự phong phú trong những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis giúp :
- giảm cholestérol,
bằng cách giữ những bệnh tim mạch maladies cardiaques ở thế kẹt không phát triển.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis cũng giúp :
- giảm cơn đói faim,
- và  làm cho người ta cảm thấy no,
do đó duy trì chức năng của ống tiêu hóa tube digestif hoạt động được suôn sẽ bằng cách tránh :
- táo bón constipation,
- và những vấn đề tiêu hóa problèmes digestifs.
▪ Một vitamine quan trọng được biết dưới tên vitamine K cũng được tìm thấy trong trái này và nó giúp phần lớn trong sự xây dựng :
- xương vững chắc os solides
và cũng trong :
- sự đông máu coagulation du sang trong cơ thể.
▪ Ngoài vitamine K, trái này giàu thành phần nguyên tố khoáng potassium K cho phép :
- chức năng tốt của những xương os
và cũng cho phép kiểm soát :
- huyết áp động mạch pression artérielle
trong trường hợp tiêu dùng quá nhiều muối sodium.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis này, như tất cả những trái cây khác sấy khô, là không nghi ngờ :
- giàu chất đường sucre,
- và có một giá trị năng lượng calorique cao,
nhưng nó luôn luôn được đánh giá với  sự điều độ bởi những người theo đuổi một chế độ ăn uống hoặc bởi những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường diabétique nhờ những lợi ích độc đáo của nó.
Tất cả mọi tiêu dùng trong một tĩ lệ là luôn luôn lợi ích cho cơ thể .
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Sự sử dụng bởi con người :
▪ Những bộ lạc ở bờ biển Thái bình dương đã được sử dụng những trái, những cànhvỏ của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis như một nguồn thực phẩm, cũng như cho trà thé và những thuốc.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis có nhiều biến đổi, với những nơi có nhiều ánh nắng sản xuất nhiều hơn, cũng như những trái lớn hơn và ngọt hơn.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được tiêu dùng trong một số lượng tươi nhỏ, nấu chín hoặc sấy khô bởi người dân bản địa Mỹ Amérindiens.
Hương vị của những trái chưa chín là đắng và là se thắt astringente, nhưng trở nên ngon miệng hơn khi nó trưởng thành chín mùi.
Những người dân bản địa cũng đã sừ dụng những nhánh cànhvỏ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis cho dùng thuốc khác nhau.
Những trái osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis là ăn được và giống như những trái mận prunes nhỏ màu xanh đậm khi trưởng thành chín .
▪ Những người dân bản địa ở Châu Mỹ Amériques, bao gồm những trái osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis trong chế độ ăn uống của họ, làm trà thé của vỏ Cây, và nhai những cành của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis  để sử dụng như :
- một chất gây tê nhẹ anesthésique doux,
- và kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Sự sử dụng bởi những động vật faune:
Những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được thu hút bởi những loài chim oiseaux như là những loài chim waxwings de cèdre và cũng được tiêu dùng bởi những loài hữu nhủ mammifères.
Những hoa được thụ phấn bởi loài chim ruồi colibris, những loài bướm papillons, những loài ong bản đỉa và những loài côn trùng khác.
▪ Sự sử dụng lịch sử và hiện đại :
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được xem như một điềm chỉ của mùa xuân, bởi vì đây là một cây bụi đầu tiên có lá rụng trổ hoa.
Cho lý do này, những loài chim ruồi colibris, những loài ong và những loài bướm được tính trên mật hoa của nó vào cuối mùa đông.
▪ Những cộng đồng của những dân tộc đầu tiên đã được sử dụng và tiếp tục sử dụng Cây bụi Osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis cho nhiều lý do y học.
Vỏ Osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được sử dụng để chữa trị :
- bệnh lao tuberculose,
- và như thuốc nhuận trường nhẹ laxatif doux.
Nó được nhai và pha trộn với dầu và áp dụng vào :
- những vết thương loét plaies.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Phản ứng phụ :
▪ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis không có như là những phản ứng phụ nhưng tiêu thụ quá nhiều có thể dẫn đến những hiệu quả không mong muốn.
▪ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis chứa một số lượng đủ oxalates, và khi tiêu thụ nhiều hơn chúng sẽ trở nên dầy đặc nhiều và cản trở sự hấp thu của nguyên tố khoáng calcium Ca của cơ thể chúng ta.
Nơi đây kết quả của sự hình thành của những kết thạch thận ( sạn thận )  calculs rénaux hoặc bàng quang vessie với những lắng đọng của nguyên tố calcium Ca.
Nó cũng chứa một số lượng nhỏ chất cyanure d'hydrogène mà ăn quá nhiều có thể gây ra :
- những rối loạn đường hô hấp troubles respiratoires.
Tốt nhất nên kềm chế sự tiêu dùng quá mức và nó được đề nghị dùng vnới một số lượng nhỏ để giữ gìn một sức khỏe tốt .
Ứng dụng :
▪ Sự sử dụng của những Cây Mận Ấn pruneaux indiens
Những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis là một trái rất phổ biến, ngoài những trái của nó ngon tuyệt, Cây này cung cấp rất nhiều trên thế giới.
Bắt đầu bởi nhu cầu cơ bản của con người, gỗ của Cây cực kỳ bền mạnh với một cấu trúc với hạt mịn.
Thân của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis rất ngắn và mọc lên đến kích thước 5 cm đường kính, điều này có thể cản trở kích thước của sản phẩm chế tạo bằng cách sử dụng cùng tương tự.
Bằng cách này, tất cả những sản phẩm chế tạo được làm từ thân của Cây này thường có kích thước nhỏ.
▪ Một số lớn sản phẩm như là : cung, những muỗng, những lược, những kim đan..v…v… được chế tạo từ thân của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis này.
Gỗ cũng được tạo ra một cơ bản phù hợp cho những điêu khắc chi tiết đã cho cấu trúc hạt mịn nhỏ của nó.
Thực phẩm và biến chế :
Trái, dùng sống hoặc nấu chín.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis giống như một trái mận nhỏ petite prune nhưng rất đắng với một hương vị hạnh nhân amande.
Trái hoàn toàn chín mùi mất đi một phần đắng của nó.
Trái chỉ có một lớp mỏng nạt thịt.
▪ Những trái có thể được sấy khô và bảo quản để sử dụng cho mùa đông.
▪ Một số thận trọng được đề nghị trên tính độc của trái toxicité.


Nguyễn thanh Vân