Tâm sự

Tâm sự

samedi 19 mars 2016

Phú vĩ nhám - Húng - Korean mint

Korean mint
Húng Đại Hàn
Phú vĩ nhám
Agastache rugosa - (Fisch.&C.A.Mey.)Kuntze.
Lamiaceae
Đại cương :
Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa (giống Agastache) là những Cây thân thảo, sống lâu năm, thuộc họ Lamiaceae (Labiatea), giống Húng menthe này bao gồm khoảng 30 loài, trong đó nhiều loài được trồng như một cây cảnh, một cây cho mùi thơm, hoặc dùng làm gia vị.
Bên cạnh phương diện trang trí bởi những hoa xinh đẹp của nó, nó còn được dùng như một loại hương liệu trong nấu ăn ở Bắc Mỹ và Châu Á.
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa có nguồn gốc ở Tàu và được lan rộng sang Nhật Bản và Đại Hàn, Lào và Nga sô, sau đó du nhập vào trong Âu Châu Bắc Mỹ Amérique du Nord,
▪ Agastache chịu đựng hầu hết những đất như acide, trung tính và kiềm, với một sự ưa trhích những nơi ánh sáng đầy đủ, giàu chất dinh dường và ẩm, cần thiết ở những nơi đất thoáng. Cây sống trong những vùng núi, trong đặc biệt bởi những nơi có dòng nước và trong những thung lủng ở khắp nơi trong Nhật Bản nơi có ánh nắng nhiều, nhiều hay ít trong những cánh đồng có đá với những độ cao 1500 m so với mực nước biển.
"Agastache" đi từ tiếng Hy lạp  "agatos" có nghĩa là « đáng ngưỡng mộ admirable ».
Theo Giáo sư Phạm hoàng Hộ, Cây được gọi tên là Phú vĩ nhám, tìm gặp ở Sapa và Nghệ Tỉnh và còn được gọi là Húng Đại Hàn do từ Korean mint hay Korean menthe.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân thẳng, là một cây sống lâu năm hoặc 2 năm, tăng trưởng khá nhanh đạt đến 0,5-1,5 m cao với 7-8 mm đưòng kính, có lông mịn ở phần bên trên, phân nhánh, bên dưới láng.
, giảm dần dần hướng bên trên, cuống lá 1,5-3,5 cm, phiến lá bó thành chuổi hình trứng thuôn dài 4,5-11 x 3-6,5 cm, mặt trên hơi láng, mặt dưới có lông, có tuyến, bên dưới lá có hình trái tim hoặc hiếm khi có hình cái nêm, bìa phiến có răng, nhọn.
Phát hoa, gié hoa chắc đặc, hình trụ, 2,5-12 x 1,8-2,5 cm, phát hoa hình mác thẳng, dưới 5 x 1-2 mm bên dưới, 2-3 mm đỉnh ngọn, cuống gié 3 mm.
Hoa, lưỡng phái ( trong hoa có cả 2 cơ quan đực và cái ). Thụ phấn bởi những con ong.
- đài hoa, ít nhiều màu tím hoặc màu đỏ tím, hình ống chóp nhọn 8-12 mm, có lông tuyến màu vàng,  vành miệng họng ống hơi xiên, răng tam giác mũi dáo, 3 răng sau 2,2 mm, 2 răng trước hơi ngắn hơn.
- vành hoa màu xanh tím, 8 mm, có lông ở bên ngoài, bên dưới ống 1,2 mm rộng; hơi nhô ra ngoài, từ từ mở giản ra với 3 mm rộng ở họng miệng hoa, môi trên thẳng, hình chử V, thùy giữa rộng hơn môi dưới 2 x 3,5 mm, toả rộng ra, bìa dợn sóng, thùy bên hình bán nguyệt, đỉnh có lông mịn.
- Bầu noãn, đỉnh có lông mịn. 
Trái, là những bế quả màu nâu, hình trứng chữ nhật, 1,8 x 1,1 mm, mặt lưng có rãnh. 
Bộ phận sử dụng :
Thân, lá.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Những hợp chất hóa học hiện diện trong Cây Phú nhám Agastache rugosa gồm có :
▪ estragole, trong Cây ,
▪ p-anisaldéhyde, trong Cây ,
▪ 4-méthoxycinnamaldéhyde, trong nhánh non,
▪ pachypodium, trong lá,
▪ methyl chavicol (60,01 à 88,43%),
▪ d-limonène
▪ caryophyllene
▪ acide Hexadecanoic
▪ acide linoléique
▪ octahydro-7-méthyl-méthylène-4- (1-méthyléthyl) -1H-cyclopenta [1,3] cyclopropane [1,2] benzène.
● Cây Phú vi nhám Agastache rugosa có đặc tính :
- kháng khuẩn Antibactérien,
- chống nấm Antifongique,
- hạ sốt Antipyrétique,
- chất mùi thơm Aromatique,
- chống ung thư Anti-cancéreux,
- thuốc tống hơi Carminative,
- làm đổ mồ hôi Diaphorétique,
- giải nhiệt Fébrifuge,
- chất làm lạnh Réfrigérant,
- và những đặc tính thuộc dạ dày stomachiques,
và những đặc tính khác.
● Những thành phần hóa học hiện diện trong rễ :
Rễ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa, có :
- acide maslinique,
- acide oléanolique,
- acide rosmarinique,
- 3-O-acétyl oléanolique aldéhyde,
- acacétine,
- tilian,
- agastache,
- daucosterol,
- β-sitostérol,
- và déhydro agastol.
▪ Agastaquinone là một quinone diterpénoïde tìm thấy trong rễ Cây Phú vi nhám Agastache rugosa này.
▪ Những dầu thiết yếu trong Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa, bao gồm :
- estragole,
- méthyl chavicol,
- d-limonène,
- caryophyllène,
- và acide hexadécanoïque.
Lignanes trong Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa
- agastinol,
- và agastenol.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa thường được sử dụng trong những tiệm thuốc Tàu , nơi đây nó được xem như một trong 50 thảo dược nền tàng.
Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được sử dụng rộng rãi trong những tiệm thuốc thảo dược Tàu. Nó được ghi nhận ngày đầu tiên được sử dụng khoảng 500 năm sau J.-C.
Cây Húng Đại hàn Agastache được kết hợp với những cơ quan như :
- phổi poumons,
- lá lách rate,
- và dạ dày estomac
và được phân loại như có một bản chất :
- ấm áp chaleureuse,
- và vị chát goût âcre,
- và mùi hương thơm aromatique.
▪ Được xem như một thảo dược “ làm nóng ấm ”, nó được sử dụng trong những tình hưống nơi có “ độ ẩm ” như trong hệ thống tiêu hóa système digestif,
điều này dẫn đến cho những điều kiện :
- một tiêu hóa kém mauvaise digestion,
- và giảm sinh khí vitalité.
▪ Những và những thân Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa là :
- kháng khuẩn antibactériens,
- chống nấm antifongiques,
- chất mùi thơm aromatique,
- thuốc tống hơi carminative,
- làùm đổ mồ hôi diaphorétique,
- giải nhiệt fébrifuge
- và những bệnh thuộc dạ dày stomachique.
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được sử dụng bên trong cơ thể để :
- cải thiện khẩu vị bữa ăn améliorer l'appétit,
- và tăng cường hệ thống tiêu hóa système digestif,
▪ nó làm giảm những triệu chứng, như là :
- đầy hơi ballonnements,
- khó tiêu indigestion,
- buồn nôn nausées,
- và ói mữa vomissements.
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa cũng là một thành phần của công thức cải thiện sự cân bằng của hệ tiêu hóa digestif bằng cách giúp :
- hấp thu chất dinh dưởng absorption des nutriments,
- và chức năng đường ruột fonction intestinale.
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa cũng được sử dụng để chữa trị :
- nước tiểu đậm urine foncée,
- và một cảm giác nặng nề sensation de lourdeur,  ở những cánh tay và những chân .
  Agastache Foeniculum có một vị của cam thảo réglisse mạnh ( tiêu biểu danh pháp tiếng Anh, anis hysope).
Những có thể được nghiền nát trong một trà để chữa trị :
- ho toux,
- sốt fièvre
- và cảm lạnh rhume.
▪ Mặc dù những thử nghiệm khoa học khắc khe của những yêu cầu chữa lành bệnh cho Agastache là hiếm, một nghiên cứu trong năm 1999 được thực hiện tại Đại học Quốc gia của Séoul tại Đại Hàn Corée cho thấy rằng trong những thí nghiệm trong ống nghiệm in vitro của một trích xuất của rễ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa đã ức chế một cách đáng kể hành động của một số nhất định chất đạm protéines liên quan đến sự sinh sản của siêu vi khuẩn VIH virus VIH.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Theo truyền thống, Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa đã kết hợp để chữa trị nhiều tập hợp khác nhau của những triệu chứng. Nó đã từ lâu được sử dụng để chữa trị :
- bệnh cúm dạ dày grippe de l'estomac,
- đau dạ dày maux d'estomac,
- buồn nôn nausées,
- ói mữa vomissements,
- tiêu chảy diarrhée,
- đày hơi bụng ballonnements abdominaux,
- và những đau bụng douleurs abdominales.
▪ Trong Tàu và nó là một trong những 50 thảo dược cơ bản được sử dụng trong y học truyền thống Tàu. Những sản phẩm hóa học được phân lập từ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa có những đặc tính :
- kháng khuẩn antibactériennes.
những trích xuất cho thấy một hoạt động :
- chống nấm antifongique trong những thí nghiệm trong ống nghiệm in vitro. 
Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa có thể có những đặc tính :
- chống gây xơ vữa anti-athérogènes.
▪ Trong nhà thuốc thảo dược Tàu, Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa cũng được sử dụng để chữa trị :
- bệnh cúm mùa hè grippe d'été,
hoặc mùa hè với những cảm lạnh rhumes kèm theo sốt nhẹ fièvre basse,
- cảm giác sung mản trong ngực plénitude dans la poitrine,
- và đau đầu maux de tête.
▪ Những thổ dân bản địa Bắc Mỹ Amérique du Nord đã mượn đặc tính khử trùng antiseptiques của nó và sử dụng để chữa trị :
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs.
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được sử dụng như là một phương thuốc dân gian cho :
- ung thư cancer,
Những trích xuất của cây Phú vì nhám cho thấy một hoạt động :
- chống ung thư anticancéreuse.
Ngoài công dụng chữa trị của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa, cón có những loại khác tương tự cũng có những hiệu quả chữa trị như :
▪ Những Agastache nepetoides được sử dụng bởi những dân Amérindiens để chữa trị :
- những phát chẫn phun mủ của da nguyên nhân bởi những cỏ độc “ herbe à puce ”
Toxicodendron radicans.
Agastache mexicana được trồng ở Mexique và được sử dụng để chữa trị :
- những rối loạn dạ dày ruột gastro-intestinaux,
- thần kinh nerveux,
- và những bệnh tim mạch cardio-vasculaires.
Nghiên cứu :
● Những thành phần phénoliques :
Trong dẫn xuất đặc biệt là acide caféique, acide rosmarinique và nhiều flavonoïdes glycosylés là những chất chuyển hóa métabolites nhiều nhất thành phần phénoliques không dễ bay hơi trong những loài khác nhau của giống Agastache.
Hàm lượng của 2 :
-  flavonoïdes,
- và acides phénoliques,
phụ thuộc vào cơ quan của cây và giai đoạn cá thể phát sinh ontogénétique, và cũng vào yếu tố bên ngoài như là :
- sự căng thẳng sinh học stress biotiques,
- và không sinh học abiotiques,
- và những điều kiện môi trường.
● Flavonoïdes :
Một trong những loại điển hình của flavones được báo cáo trong  Agastache là :
- acacétine (5,7- dihydroxy-4'-methoxyflavone),
- glycosides - tilianin (acacétine 7-O-β-D-glucopyranoside)
hiện diện trong những bộ phận trên không và những rễ của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa và Cây Agastache mexicana (Itokawavà al 1981;. Zou và Cong 1991; Tuan và al 2012;.. Hernandez-Abreu và al 2013).
Thành phần hợp chất này hình như hiện diện ở Agastache mexicana nhiều hơn ở Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa.
Cây Phú vi nhám Agastache rugosa chứa số lượng thấp hơn nhiều cùa tilianin, đạt tới 6,33 pg / g D.W. trong những hoa và còn ít hơn trong những cơ quan khác ( 2,18 pg / g trong những lá,  0,49 pg / g trong những thân, và 0,14 pg / g trong những rễ ) (Tuan và al. 2012).
Glycosides khác hơn tilianin cũng đã thu được từ những bộ phận trên không của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa :
- linarin (7-O-rutinoside de acacétine),
- và agastachoside (6 "-O-acétyl-7-β-D-glucopyranosyloxy-5-hydroxy-4 ' -methoxyflavone) (Zakharova và al., 1980).
● terpénoïdes và stérols không dễ bay hơi :
Rễ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa, nhiều diterpenoids mới đã được phân lập và xác định, như :
- một agastaquinone, màu đỏ, cũng không abietanoid (Lee và al., 1995),
và abietanoids khác :
- oxydés agastol,
- dehydro agastol,
- iso agastol ( Han 1987, Zou và Cong 1991),
- agastanone,
- và methylagastanol (Han, 1987; Lee và al 1994)..
Rễ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa cũng chứa nhiều :
- triterpénoïdes pentacycliques carboxy hóa carboxylés,
và hydroxy hóa hydroxylés của oléanane loại :
- (acide maslinique,
- acide oléanolique,
- 3-O-acétyl aldéhyde oléanolique),
ursane loại :
- (acide corosolic)
- những stérols β-sitostérol,
- và daucosterol (Han 1987; Zou và Cong 1991;. Estrada-Reyes và al 2004).
▪ Dầu hạt của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được nghiên cứu thành phần trong acide béo bao gồm 91% acides béo không bảo hòa insaturés, trong đó :
- 52% là C18 :3 (acide linolénique),
- 27,5% là C18: 2 (acide linoléique),
và 11,5% là acide béo đơn bảo hòa monoinsaturé :
- C18 : 1 (acide oléique) ( Zakharov và al., 1988).
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa phát hiện chứ một số lượng lớn của mỗi caroténoïde 499,2 so với 260,9 pg / g β-carotène và 277,1 so với 189,7 pg / g của lutéine (Chae và al., 2013).
● Hoạt động sinh học Bioactivité của những loài cá thể như là Cây thuốc :
Trong số 3 loài thảo dược quan trọng nhất, Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa là đối tượng chánh của hầu hết của những dữ liệu hoạt động sinh học bioactivité được công bố.
Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa là loài duy nhất có nguồn gốc từ Đông Nam Á, và nó là một thảo dược với cơ bản thực vật quan trọng trong y học truyền thống Tàu, Đại Hàn và Nhật Bản. Như vậy nó đã được nghiên cứu thường xuyên cho những hoạt động dược lý khác nhau pharmacologiques cho cả hai trong những mô hình trong ống nghiệm in vitro và trong cơ thể động vật in vivo.
Dầu thiết yếu của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được sử dụng chống lại :
- sốt fièvre,
- đau đầu maux de tête,
- đau dạ dày maux d'estomac,
- buồn nôn ốm nghén nausées matinales ( kết hợp với Scutellaria )
- và những rối loạn dạ dày - ruột khác gastro-intestinaux (Dung và al., 1996; Lee và al 2004;. Hou và Jin 2005).
● Hoạt động chống siêu vi khuẩn antimicrobienne :
Hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne là một trong số những đặc tính gặp thường xuyên nhất của dầu thiết yếu trích từ những thảo dược khác nhau.
Cây Agastache không là ngoại lệ. Tuy nhiên, sức mạnh của hoạt động kháng khuẩn antibactérienne và chống nấm antifongique là vừa phải ở tất cả những loài khảo sát nghiên cứu.
Estragole phân lập từ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa là hiệu quả nhất chống lại những nấm gây bệnh champignons pathogènes cho con người như một thành phần hợp chất tinh khiết hơn là như một dầu thô.
Hoạt động chống nấm antifongique của những estragole đã được chứng minh chống lại những nấm :
- Aspergillus Niger,
- Aspergillus flavus,
- Trichoderma viride,
- Candida albicans,
- Candida utilis,
- Candida tropicalis,
- Cryptococcus neoformans,
- Mucoides Trichophyton,
- Trichophyton tonsurans
- và Blastoschizomyces capitatus (Shin 2004, Shin và Kang 2003 ).
Mặc dù những giá trị của nó hầu như không đáng chú ý, những tương tác thú vị đã được chứng minh giữa dầu thiết yếu Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa và estragole nguyên chất và 2 tài liệu tham khảo của những kháng sinh antibiotiques diệt khuẩn fongicides :
- những kétoconazole,
- và amphotéricine B.
▪ Chỉ số FIC với kétoconazole là 0,19 cho estragole và 0,16 cho dầu thiết yếu Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa chống lại Blastoschizomyces capitatus và 0,28 đến 0,50 chống lại nấm Candida sp. ( Điều này chỉ định rõ ràng một tương tác hiệp đồng interaction synergique).
Mặt khác, thuốc amphotéricine B và estragole là đối kháng antagonistes chống lại nấm  Candida sp. (Shin và Pyun 2004).
● Hoạt động kháng virus antivirale :
▪ 4 méthoxycinnamaldéhyde của dầu thiết yếu Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa đã được ghi nhận để giải thích một hoạt động chống virus antivirale chống lại :
- những virus hợp bào hô hấp respiratoire syncytial con người (Wang và al., 2009).
Hợp chất này ức chế có hiệu quả chống lại ảnh hưởng bệnh lý tế bào cytopathique của virus hợp bào hô hấp respiratoire syncytial trong dòng tế bào của ung thư carcinome thanh quản người larynx humain (CI50 de 0,055 ug / ml và một chỉ số chọn lọc 898,2).
Nó có khả năng ức chế giữa siêu vi khuẩn virale bằng cách can thiệp interférant với sự định hình virus fixation virale (IC50 của 0,06 ug / ml) và quốc tế hoá intériorisation (IC50 của 0,01 ug / ml).
Ngoài ra, 4-méthoxycinnamaldéhyde 0,1 pg / ml có một tĩ lệ bảo vệ tế bào cytoprotecteur tăng cao (90%), trong khi cùng một liều của ribavirine ( một tiền chất thuốc promédicament được sử dụng như chất thay thế để kiểm soát ) đã thấy không có một hoạt động nào của loại hình này.
Tuy nhiên, chúng ta phải ghi chú rằng hóa chất 4-méthoxycinnamaldéhyde sử dụng trong nghiên cứu này phải được mua ở những công ty hóa chất như là một chất tiêu chuẩn và không thu hoạch từ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa.
● Những đặc tính chống gây đột biến anti-mutagènes và gây độc tế bào cytotoxiques :
Dầu thiết yếu trích từ những hoa của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa đã được ghi nhận để giải thích hoạt động chống gây đột biến antimutagène một cách phụ thuộc vào liều khi được thử nghiệm trong những tế bào buồng trứng  AS52 của chuột đồng hamster tàu.
Dòng tế bào AS52 là một thiết kế đặc biệt biến đổi gen, tính đột biến cao hypermutante thực hiện trong ống nghiệm của hệ thống để thử nghiệm đột biến liên quan đến sự căng thẳng oxy hóa stress oxydatif.
Dầu thô đã hoạt động nhiều hơn (14, 68 và 75% của sự ức chế tính đột biến gen mutagénicité với những nồng độ 0,2, 0,6 và 1,0 g / l, tương ứng ) mà 1 trong những 3 thành phần hợp chất riêng lẻ ( estragole -11, 16 và 38%, limonène 21, 30 và 43%, anisaldéhyde 8, 49 và 63%).
Một điều thú vị, thành phần ít phong phú của dầu anisaldéhyde ( anisic-aldèhyde ) là mạnh hơn hai hợp chất chính estragollimonène (Kim và al., 2001a).
Trong cùng một nghiên cứu, dầu tương đối ít gây độc tế bào cytotoxiques cho những cấy nuôi tế bào gan người hépatiques, và bị ức chế cho đến dưới 12% của tĩ lệ tăng trưởng của những tế bào không được điều trị.
Mặt khác, một sự ức chế quan trọng của sự tăng trưởng của dòng tế bào ung thư cancer đã được quan sát, cũng gia tăng nhanh chóng của sự tăng sinh prolifération của những tế bào T và B gây ra bởi dầu thô, không thu được bởi một trong 3 thành phần riêng lẻ. Nó không thể kết luận từ những kết quả này, dù cho một sức mạnh tổng hợp tồn tại giữa 3 thành phần hợp chất của dầu hoặc nếu những hiệu quả quan sát được là do những thành phần nhỏ, tích cực hơn.
Một hiệu quả gây độc tế bào cytotoxique đối với nhiều dòng tế bào ung thư cancer ( phổi poumon, buồng trứng ovaire, khối u ác tính mélanome, hệ thống thần kinh trung ương SNC và ung thư ruột kết cancer du côlon) cũng đã được chứng minh bởi agastaquinone, một diterpénoïde không dễ bay hơi từ những rễ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa (Lee và al. 1995).
● Hoạt động chống oxy hóa antioxydante :
Với tầm quan trọng của Agastache sp. trong thực vật liệu pháp truyền thống phytothérapie traditionnelle và kinh tế thực vật học botanique économique trong những vùng khác nhau, người ta có thể chờ đợi ít nhiều tài liệu mô tả một hành động chống oxy hóa antioxydante một lần rất thịnh hành. Một cách khác ngạc nhiên, trái với những cây thực phẩm khác và thảo dược có liên quan, ít được công bố đề tài này.
Trong một trong số hiếm được nghiên cứu trong ống nghiệm in vivo đã được công bố cho đến nay, một chế phẩm của y học truyền thống Tàu có chứa dầu thiết yếu Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa đã có hiệu quả đáng chú ý để giảm những triệu chứng của sự căng thẳng nhiệt stress thermique.
Ở những con heo porc giữ ở nhiệt độ 40 ° C, chữa trị với cơ bản dược thảo đã giảm mức độ của malonyldialdéhyde và phục hồi hoạt động phân hóa tố superoxyde dismutases SOD và glutathion peroxydase GPx ở mức độ kiểm soát.
Trong một thí nghiệm cấy nuôi tế bào liên quan đến những thành phần riêng lẻ của chế phẩm của y học truyền thống Tàu MTC, dầu thiết yếu của thảo dược Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa là một trong số những yếu tố hiệu quả nhất (ở 100 và 200 pg / ml) trong sự cải thiện tình trạng chống oxy hóa antioxydant sau một căng thẳng nhiệt stress thermique, nhưng những khác biệt không có ý nghĩa (Guo và al., 2011).
● Hoạt động thần kinh Neurological :
Trong tương tự, (R) - (+) - pulegone của dầu thiết yếu của A. rugosa (. Syn A. formosana) Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa ( Đồng nghĩa Agastache formosana ) cũng đã cho thấy hoạt động chống dẫn truyền cảm giác đau anti-nociceptive đối với nhiệt độ và đau đớn gây ra bởi chất hóa học chimiquement ở những chuột, cũng như hệ thống thần kinh trung ương SNC- buồn CNC-déprimant  và hiệu quả chống co giật anticonvulsivants ( Sousa và al., 2011).
Người ta không biết những cơ chế tế bào của hoạt động này, nhưng một số nhất định có cấu trúc giống với chất menthol ( một monoterpène được sử dụng rộng rãi nhắm nhiều mục tiêu trung gian  trong những thụ thể của cảm giác đau đớn, bao gồm kappa-opioïde) có thể hướng dẫn nghiên cứu thâm cứu hơn trên pulegone và dầu thiết yếu Agastache (Kamata và al., 2013).
● Hiệu quả tim mạch cardiovasculaires và chống viêm anti-inflammatoires :
Tilianin thường được xem như một thành phần hợp chất hoạt động sinh học bioactif đa số, trong đặc biệt, 2 trong những loài phổ biến nhất là Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa và Agastache mexicana. Một số nhất định nghiên cứu đã được thực hiện bằng cách sử dụng tilianin được cô lập, trong khi ở những người khác, nó là dấu hiệu hóa chất thực vật phytochimique trong những trích xuất khác hoặc những phần đoạn.
Cả hai tilianin và trích xuất của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa có một hiệu quả tích cực trên giai đoạn đầu của xơ vữa động mạch sinh lý bệnh học athérosclérose physiopathologie (Hong và al., 2001).
Trong những thí nghiệm với những chuột trên chế độ ăn uống giàu thành phần cholestérol, thêm vào 1% trích xuất méthanol Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa, giảm những tĩ lệ của tổng số cholestérol ( cholestérol total ) của huyết tương plasma ( từ 1065 mg / dl đến 986 mg / dl ).
Hàm lượng cholestérol của VLDL quá thấp ( VLDL cholestérol lipoprotéin ở mật độ rất thấp  Very low density lipoprotein ), nhưng sự thay đổi không có ý nghĩa thống kê statistiquement significative (Hong và al., 2001).
Chữa trị với tilianin (0,05% trong thực phẩm ) đưa đến sự giảm ( tới 56,6%) của những vùng tổn thương trong những xoang động mạch chủ sinus de l'aorte của chuột mỡ máu cao hyperlipidémiques.
Tuy nhiên kết quả cho thấy không có sự khác biệt nào đáng kể giữa chữa trị tilianin và chế độ ăn uống giàu cholestérol cho những nhóm thử nghiệm về :
- tổng số Cholestérol (total),
- và HDL ( cholestérol tốt ).
Ngoài ra hàm lượng đường mỡ triglycérides là thấp hơn sau khi bổ sung tilianin trong những nhóm thử nghiệm của động vật, mặc dù những kết quả không có ý nghĩa thống kê statistiquement significatives (Nam và al., 2005).
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Độc tính toxicité :
Bio Med cental BMC Complement Alternative Medecine. 15 décembre năm 2014. Phân tích thành phần hợp chất dễ bay hơi từ những lá, những gié hoa, và mật hoa của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa. Những lựa chọn thức ăn của những con ong được ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, như là mùi hương của hoa.
Thành phần của những hợp chất dễ bay hơi ảnh hưởng trên hoạt động sinh học biologique của những thực vật có mùi thơm và sản xuất mật miel từ bản thân nó.
Trong nghiên cứu này, Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa đã được đánh giá trong khuôn khổ của một dự án để lựa chọn những loài hứa hẹn nhất của thảo dược để sản xuất mật ong hoạt động sinh học bioactif.
Khoảng không gian đầu vi chiết trích trong giai đoạn chất rắn Headspace microextraction en phase solide HS-SPME / GC-MS đã được tối ưu hóa để xác định những thành phần hoạt động sinh học dễ bay hơi trong những , những gié hoa, và cho lần đầu tiên, mật hoa của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa.
- Chavicol de méthyle (= estragole) là thành phần dễ bay hơi của “ Khoảng không gian đầu ” Headspace chiếm ưu thế trong những hoa với mật hoa nectar, gié hoa épis de fleurs và lá, với tổng số của 97,16%, 96,74% và 94,35%, tương ứng.
Những kết quả gần đây chỉ ra rằng HS-SPME / GC-MS có thể là một dụng cụ lợi ích để truy tìm của nồng độ estragole trong những sản phẩm với cơ bản thảo dược :
Gần đây, estragole đã bị nghi ngờ là chất :
- gây ung thư cancérigène,
- và gây độc yếu tố di truyền gêne génotoxique,
theo Ủy ban liên minh Châu Âu Union européenne trên những thuốc thảo dược.
Nghên cứu khác là cần thiết thâm cứu hơn về sự đóng góp hằng ngày trong tất cà sự an toàn của Agastache như trà hoặc mật ong miel, cũng như sự sử dụng tại chỗ.
Ứng dụng :
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được kết hợp với Cây Bán chỉ liên Scutellaria (skullcap) để chữa trị :
- những ốm nghén nausées matinales
ở những đàn bà mang thai.
▪ Những Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa cũng được sử dụng trong chữa trị :
- tắc nghẽn phổi congestion pulmonaire,
- tiêu chảy diarrhée,
- và đau đầu maux de tête.
Ngâm trong nước đun sôi infusion của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được sử dụng trong chữa trị :
- những đau ngực douleurs d'angine.
▪ Một dung dịch dưởng da lotion chứa Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa được áp dụng bên ngoài cơ thể để chữa trị :
- những bệnh nhiễm nấm infections fongiques.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Những lá non, dùng sống hay nấu chín  
▪ Một hương vị cây hồi anis như nồng mạnh, nó thường được sử dụng như một hương liệu aromatisant.
▪ hoặc như thêm vào salade saladier. Người ta tìm thấy một chút nguyên liệu thô và quá mạnh để sự dụng như salade.
▪ Những Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa có thể được sử dụng như thay thế trà thé.
▪ Người ta có thể thực hiện một trà tisane đơn giản với vài lá hoặc trong pha trộn với trà xanh.
thé vert.
▪ Những Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa tiêu thụ sống crus hoặc chín cuites chủ yếu trong nấu ăn Á Châu.
▪ Người ta có thể sử dụng những hoa của Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa để trang trí những món ăn và để có hương vị anis..
• Người ta có thể sử dụng hoa tươi trên những món salades trái cây salades de fruits, nhưng cũng trên những mì ngay vào lúc phục vụ để ăn .
Hạt có thể ăn được.
Hạt Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa không phải chắc chắn là độc hại toxique, nhưng nó rất nhỏ và sự sử dụng rất là mỏng manh.
● Nấu ăn với agastache :
▪ Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa có một vị gợi nhớ hương vị bạc hà menthe với một chút cam thảo réglisse, nhưng ít mạnh hơn. Cây này sử dụng chủ yếu để thay thế rau menthe trong nấu ăn, trong những salades và rau sống crudités, những thịt trắng viandes blanches, những rau cải hấp hơi nước cuits à la vapeur, những bánh gateaux như bánh Anh cake anglais và những thức uống mát khi mà người ta muốn có được một nước hoa ít mạnh hơn và tinh tế hơn.
▪ Trong Corée, nó gọi là (방아 , bangannip), và được sử dụng cho crêpe coréenne và ragoût, cụ thể hơn cho bosintang ( là một món ăn truyền thống Hàn quốc với nguyên liệu gồm chó và rau ) và Chu-eo-tang ( là một món ăn phổ biến trong nông dân Hàn Quốc đang sinh sống tại Namwon ). Chu-eo-tang là một soupe hoặc một ragoût nấu chín với loche boueux chinois. Nó được gọi là (chinois: 藿香; pinyin: xiāng huò).
• Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa trổ hoa trong suốt mùa hè ( tháng 6 juin đến tháng 10 octobre) và những con ong rất vui mừng bởi vì nó cho một hương vị hồi với mật ong anisé au miel.
• Những hoa Cây Phú vĩ nhám Agastache rugosa khô đã mất đi hương vị nhưng vẫn giữ được màu sắc của nó .

Nguyễn thanh Vân

mardi 15 mars 2016

Rễ sưng màng phổi - Pleurésie root

Butterfly Weed - Pleurésie root
Rễ sưng màng phổi
Ngô thi hoa ống
Asclepias tuberosa L.
Asclepiadaceae
Đại cương :
Giống Asclepias gồm có khoảng 80 loài hầu hết có nguồn gốc ở Bắc Mỹ Amérique du Nord, một số ít là bản địa trong Nam Mỹ và Châu Phi và được tìm thấy ở Ontario, Canada đến Minnesota và đi xuyên qua lục địa Hoa Kỳ , ngoại trừ vùng Tây Bắc Thái Bình dương Pacifique Nord-Ouest.
Nó được tìm thấy chủ yếu trong vùng Tây Nam và miền Trung Tây của Hoa Kỳ États-Unis.
Nó thích nắng mặt trời đầy đủ và những đất lẫn đá sỏi và cát của những cánh đồng mở, khô, hai bên đường và những khu vực có cây cỏ.
Những người làm vườn thích Cây này để cho những hoa đẹp đủ màu từ màu cam vàng đến màu đỏ nhạt rất quyến rủ cho những loài ong bướm.
Cũng là nguồn thực phẩm cho những ấu trùng của những loài bướm.
Cây được phổ biến và biết đến nhiều nhất là do đặc tính của rễ dùng làm dược liệu để chữa bệnh xưng màng phổi Pleurésie mà do đó có tên là « rễ viêm màng phổi Pleurésie root »
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân mọc hướng lên, đôi khi gần như phủ xuống, phát triển mạnh, thẳng, tròn và những thân có lông, cao khoảng từ 1 đến 3 pieds ( 1 pied =30,48 cm ), với những nhánh tỏa rộng bên trên, có lông ( phân nhánh duy nhất trong cụm hoa ).
Vỏ cây ngắn và mỏng manh để vỡ. Gỗ màu vàng với những tia tủy trắng lớn.
Những rễ của Cây sưng màng phổi pleurésie, lớn, nạt thịt, màu trắng bên trong và màu nâu nhạt ở mặt ngoài, có dạng con thoi và phân nhánh với 1 vòng vành nút thắt.
, có lông, bìa lá trơn và hình mũi mác, mọc xen dần dần theo vòng xoắn trên tất cả thân cây, không cuống hoặc cuống ngắn khoảng 1 – 2 mm, tù ở gốc thuôn dài từ 2 đến 4 pouces ( 1 pouce = 2,54 cm ), có lông đặc biệt ở dưới những gân lá, ít lông ở mặt trên.
Không giống với những thành viên khác của họ Asclépiadaceae, Asclepias tuberosa có ít hoặc không có nhựa sữa trắng latex.
Phát hoa, tán, những nhánh xưất phát từ đầu ngọn có hình tán phẳng với một số lớn hoa màu vàng đậm hoặc màu đỏ cam sậm.
Hoa lưỡng phái, có cả 2 cơ quan sinh dục đực và cái trong 1 hoa và thụ phấn bởi những con ong, những côn trùng và những con bướm.
- Đài hoa, 5 rời nhau, có thùy dài khoảng 2 đến 3 mm,  
- Vành hoa, 5 cánh, màu cam tươi hoặc ít hơn thường màu vàng, những thùy từ 6-8 mm dài, mũ vàng, hàn dính ở đáy hinh mũi dáo thuôn dài hình muỗng, cong hướng về phía dưới.
- Nhụy đực, hợp với vòi nhụy trong gynostemium là cột hợp bởi cơ quan sinh dục đực và cái, bao phấn 5 cạnh, trong số lượng 5 đôi rời nhau, cuộn lại có dạng cái mui xe trên có sừng nhọn đính ở đáy mui xe.
- Bầu noãn 2 tâm bì rời, mỗi tâm bì chứa nhiều hạt.
Trái, 2 nang, khai ở lưng, nhiều hạt hình bầu dục kết thúc ở đầu nhiều chất sợi lông mượt theo gió phát tán đi xa..
Bộ phận sử dụng :
Rễ.
Rễ được thu hoạch vào mùa thu và có thể được sử dụng tươi hoặc klhô.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Cây sưng màng phổi pleurésie Asclépiade tubéreuse có chứa nhiều nguyên chất hoạt động :
- œstrogènes,
- và ocytociques,
với những hétérosides trong đó có :
- asclépiadine,
- và hétérosides cardiotoniques dẫn xuất của cardénolide
bao gồm những génine chính là :
- coroglaucigénine ( như trong Coronille)
và những thành phần :
- coroglaucigénine,
một nguyên chất đắng amer là :
- asclépione,
Những thành phần khác như :
- résine,
- và những dầu thiết yếu huiles essentielles,
- tinh bột amidon,
- và chất nhầy mucilage,
- chất tanins,
- và những flavonoïdes.
● Những rễ của Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse đã được tìm thấy có chứa :
những glucosides :
- ikemagenin,
- lineolon,
- pleurogenin,
- ascandroside,
- cardénolide,
- uzarigénine,
- coroglaucigénine
- và corotoxigenin.1,2,3
Đặc tính trị liệu :
Rễ của Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse này có thể là một trong những Cây đáng tin cậy và giúp :
- thư giản toát mồ hôi diaphorétiques,
- và có thể sử dụng trong tất cả dược liệu.
▪ Nó nhanh chóng lan rộng vừa phải với chính nó, nhưng duy trì ảnh hưởng với sự bền bỉ đáng kể.
Hành động chủ yếu của nó trên :
- những tuyến mồ hôi glandes sudoripares,
đồng thời nó làm thư giản :
- những mao mạch capillaires,
- và làm dịu tim cœur,
- và những động mạch artères.
▪ Nó cũng gây một cảm tưởng tác dụng trên :
- những mô huyết thanh tissus séreux,
trong đặc biệt :
- màng phổi plèvre,
- và phúc mạc péritoine;
- màng nhày của phổi muqueuses des poumons,
- và ruột intestins
cũng ảnh hưởng và hành động chung của nó cho một sự giảm nhẹ đặc biệt và có giá trị cho :
- động mạch cấp tính artérielle aiguë,
- và một sự phấn khích thần kinh excitations nerveuses.
Rễ Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse có vị đắng amère, thảo dược bổ tonique được hấp dẫn bởi những hương vị, làm gia tăng :
- đổ mồ hôi transpiration,
- giảm những co thắt spasmes,
- và hành động như long đờm expectorant.
Rễ là :
- chống co thắt antispasmodique,
- thuốc tống hơi carminative,
- thuốc tẩy nhẹ légèrement cathartique,
- làm đổ mồ hôi sudorifique,
- lợi tiểu diurétique,
- long đờm expectorant,
- thuốc bổ tonique
- và giãn mạch vasodilatateur.
Rễ rất được phổ biến như một thảo dược để chữa trị một loạt :
- những bệnh phổi maladies pulmonaires,
nó được cho là đặc biệt có lợi ích như  là :
- long đờm expectorant.
▪ Nó chưa bao giờ được nghiên cứu bởi khoa học và biện minh bởi một cuộc điều tra thâm cứu hơn .
▪ Nó cũng được sử dụng bên trong cơ thể với một lợi ích lớn trong chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- những bệnh thấp khớp rhumatismes, …v…v..
Sử dụng với tất cả thận trọng lý do tính độc toxicité của nó.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse được sử dụng rộng rãi trong những Tiểu bang miền nam Hoa Kỳ États du Sud trong những trường hợp, cũng trong sự tiêu thụ, với liều dùng 20 hạt, với 1 drachme (đơn vị đo lường cổ Hy lạp ) tương đương với 4,36 gr trong một bột hay dưới dạng nước nấu sắc décoction.
▪ Nó cũng được sử dụng với một lợi ích lớn trong :
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie
- và bệnh thấp khớp rhumatisme cấp tính và mãn tính.
- trong những tình trạng thương hàn thấp typhoïde,
- và trong chứng chóc lở eczéma.
▪ Nó đã được sử dụng nhiều bởi những thổ dân bản địa của Bắc Mỹ Indiens d'Amérique du Nord và dành được một sự nổi tiếng của sự chữa lành bệnh tất cả giữa những người định cư da trắng trước đó .
▪ Sự sử dụng chánh của nó trong những nhà thảo dược hiện nay herboristerie là để gjiảm :
- đau nhức douleur,
- và viêm sưng màng phổi inflammation de la pleurésie.
▪ Người ta nghĩ rằng, thuốc này có thể được sử dụng trong những hồ sơ bệnh như :
- đau bụng tiêu chảy colique,
- đầy hơi flatulente
- và khó tiêu indigestion,
nhưng trong những điều kiện này, nó hiếm khi được sử dụng .
▪ Với liều mạnh, nó hành động như :
- làm nôn émétique,
- và xổ purgatif.
▪ Từ những ngày đầu tiên Asclepias được xem như một thảo dược có giá trị. Nó là một trong những phương thuốc bản địa mỹ, và cho đến ngày nay đã chính thức trong dược điển Hoa Kỳ pharmacopée américaine.
▪ Nó có một hành động cụ thể trên :
- những phổi poumons,
- giúp long đờm expectoration,
- làm dịu bớt viêm inflammation
và trong thực hành một hiệu quả bổ nhẹ, chung trên những hệ thống, điều này đưa đến cho nó có một giá trị trong tất cả :
- những bệnh đường hô hấp affections respiratoires.
Nó được sử dụng rất lớn trong :
- chứng sưng màng phổi pleurésie,
- giảm nhẹ cơn đau douleur,
- và giảm khó khăn hít thở respirer,
và cũng  được đề nghị trong :
- chứng viêm nước phổi catarrhe pulmonaire.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Bộ phận độc hại toxiques
Mặc dù không có những báo cáo cụ thể đã được nhìn thấy cho loài này, nếu không phải tất cả những thành viên trong giống Asclepias này có chứa :
- một trích xuất nhựa khô résinoïdes độc hại toxiques,
- những alcaloïdes,
- và những glucosides cardiotoniques.
Nó thường được tránh xa bởi những động vật ăn cỏ.
● Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse là độc hại toxique nếu nó được tiêu thụ với một số lượng lớn.
Một liều rất mạnh có thể gây ra :
- tiêu chảy diarrhée,
- và ói mữa vomissements.
● Tiềm năng tác dụng phụ của rễ Cây sưng màng phổi pleurésie racine :
Tầm quan trọng là luôn luôn phải thông báo với những người chuyên gia chăm sóc sức khỏe của tất cả những thuốc, những vitamies hoặc những thảo dược mà bệnh nhân đang dùng.
Rễ Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse có một lịch sử dài của sự sử dụng như :
- một chất dinh dưởng  nourriture,
- những thuốc médicaments,
- và những quần áo vêtements;
Sử dụng trong những liều quy định, rễ Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse nói chung thường không có phản ứng phụ effets indésirables.
Sự tiêu dùng quá mức có thể gây ra :
- những chuột rút đường ruột crampes intestinales,
- buồn nôn nausées,
- ói mữa vomissements,
- và tiêu chảy diarrhée.
Rễ Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse phải tránh dùng đối với những phụ nữ mang thai bỡi vì nó có thể làm :
- co thắt tử cung contractions utérines.
▪ Nó chống chỉ định trong thời gian cho con bú hoặc ở những trẻ sơ sinh do :
- số lượng nhỏ của glycosides tim cardiaques.
- nhựa sữa trắng latex rất độc hại toxique.
- và kích ứng da irritation  custanées đã được nhận thấy.
▪ Nó phải được sử dụng với tất cả sự thận trọng ở những bệnh nhân mắc phải :
- bệnh tim mạch cardio-vasculaires,
- hoặc đang dùng những glycosides tim cardiaques.
Ứng dụng :
● Ứng dụng y học :
▪ Một thuốc dán đắp cataplasme của những  rễ Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse sấy khô và nghiền thành bột được sử dụng trong chữa trị :
- sưng phồng gonflements,
- những vết bầm tím ecchymoses,
- những vết thương loét plaies,
- những loét ulcères,
- và không vững vàng què quặt boiterie …v..v...
● Phương cách chế biến :
▪ Một tách nước trà thé, ngâm trong nước nóng infusion (1 đến 30) uống trong mỗi giờ, sẽ :
- thúc đẩy mạnh toát ra mồ hôi transpiration libre,
- và ức chế khạc ra đờm expectoration supprimé.
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion có thể chế biến bằng cách lấy 1 muỗng cà phê bột trong 1 tách nước sôi.
▪ Nước nấu sắc décoction được uống với những liều từ 2 đến 3 onces dung dịch. ( 1 once = 56,7 gr )
▪ Liều của trích xuất lỏng là 1/2 đến 1 drachm; của hạt Asclepin, 1 đến 4 hạt .
▪ Nó được sử dụng kết hợp với Đương quy Angelica và Sassafras để chữa trị làm :
- xuất mồ hôi trong khi sốt transpiration dans la fièvre,
- và viêm màng phổi pleurésie,
và cũng để cho :
- sự lưu thông máu circulation du sang.
▪ Hơn chục loài khác có những đặc tính tương tự.
● Những sử dụng khác :
▪ Một sơ fibre có phẩm chất tốt thu được từ vỏ Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse và được sử dụng trong chế tạo ra những sợi dây, vải …v…v..
▪ Nó được dễ dàng thu hoạch vào cuối mùa thu sau khi Cây đã chết bằng cách đơn giảm kéo những sợi ra phơi khô.
▪ Những tơ to xấu soie của hạt được sử dụng để làm những nguyên liệu nhồi làm gối ….hoặc pha trộn với những nguyên liệu sợi khác để làm vải.
▪ Nó được thay thế bông gòn, được sử dụng trong những áo phao cấp cứu gilet de sauvetage hoặc như một vật liệu nhồi bourrage.
▪ Rất không thấm nước. Những tơ xấu cũng được sử dụng để làm sạch hết những chất thải dầu trên biển. Cây sưng màng phổi Pleurésie Asclépiade tubéreuse là một nguồn có tiềm năng chất nhựa sữa trắng latex, được sử dụng để chế tạo ra cao su.
▪ Loài này là một thành viên duy nhất của giống Asclépias không có nhựa sữa trắng latex trong nhựa của nó.
▪ Những vỏ của hạt có chứa một dầu và một sáp cire, là một tiềm năng quan trọng.
Đèn cầy được chế tạo từ tơ thô của hạt. Hạt có chứa đến 21% loại dầu bán khô semi-séchage.

Nguyễn thanh Vân

samedi 12 mars 2016

Quăng - Bamanpati - Ba jiao feng

Bamanpati
Ba jiao feng
Quăng Tàu
Alangium chinense (Lour.) Harms
Alangiaceae
Đại cương :
Danh pháp đồng nghĩa :
Alangium begoniifolium (Roxb.) Baill. (1876).
Cây Quăng Alangium chinense được sản xuất từ Cameroun cho đến Ethiopie, Kenya và Tanzanie, và miền nam Zimbabwe và Mozambique.
Nó cũng được phân phối rộng rãi ở Châu Á nhiệt đới từ Inde đến Tàu, Japon, Thaïlande, Việt Nam, Philippines và Indonésie.
Những cây bản địa là những cây có kích thước lớn và chỉ sống ở Hồng Kông.
Hầu hết những cây này chỉ có ở Hồng Kông, nó kết hợp với môi trường tự nhiên của nguồn gốc bản địa, nó là một trong những thành viên của hệ thống môi trường và của chuổi thực phẩm và nó có thể duy trì sự cân bằng và tình trạng ổn  định với những thành viên khác của hệ thống môi trường écosystème
Alangium chinense là một loài tăng trưởng nhanh của những loài đi tiên phong chánh được tìm thấy trong những thế đất bị xáo trộn và những khu rừng của vùng núi cho đến 2000 m cao so với mực nước biển trong Phi Châu và đến 3000 m trong dãy Himalaya.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Tiểu mộc, kích thước trung bình đến 24 m cao, đường kính ngang ngực khoảng 30 cm, bề mặt vỏ láng và màu xám, những nhánh màu nâu tím, láng nhưng có lông phún dầy, màu sét khi còn non, mang những nốt trắng thưa thớt.
, mọc cách, lá nguyên, không lá kèm, có phiến hẹp, hình ellip bầu dục rộng, dài 4-19 cm x 2,5-2,5 cm, chót có đuôi,  đáy hình nêm tròn hơi bất xứng, có lông sét đầy mặt dưới, cuống lá 1-2 cm, có lông sét, gân lá 5-7 phát xuất từ đáy lá, những gân nối với nhau bởi nhiều gân nhỏ song song vuông góc với gân chánh.
Phát hoa, tụ tán ở nách lá, có lông phún, từ 1 đến 4 nhánh, 3 đến 23 hoa, không lông, cuống phát hoa dài đến 2 cm, lá bắc hình tam gíác, và những nhánh dài 2,5 cm.
Hoa, lưỡng phái, đều, 5-8 phần, màu trắng kem hoặc vàng, mùi thơm nhẹ, nụ hoa hình ống và thường phồng lên ở đáy như cái bình, cuống hoa dài 3-5,5 mm.
- đài hoa, hình trụ ống hoặc có dạng như cái quặng, 7 thùy, 1,5 mm dài, bao phủ bởi những lông thô
- cánh hoa, dài 6 mm, có lông ở chót, dạng cái lưỡi từ 8 đến 13,5 mm x 1 – 1,5 mm, có lông mịn bên ngoài, bên trong láng, cuốn ra bên ngoài khi nở ra. .
- tiểu nhụy cùng một số lượng với cánh hoa khoảng 5-6 tiểu nhụy, 5-9 mm dài, có lông ở đáy, , bao phấn hẹp thẳng ôm lấy vòi nhụy.
- Bầu noãn hạ, 3 buồng, vòi nhụy hình ống, 7-10 mm dài, có lông, nuốm hơi có thùy.
Trái quả nhân cứng dài 1 cm, hình cầu,  8-10 mm x 4-9 mm tròn, thon ở đỉnh ngọn, màu tím nhạt, đài hoa còn tồn tại khi trưởng thành.
Hạt, chất lòng trắng trứng albumineuse.
Bộ phận sử dụng :
Nguyên Cây, thân, chồi lá, rễ.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Đặc tính vật lý của Cây :
Lõi, cây Quăng có màu sắc thay đổi từ trắng đến màu xám và những sắc thái của màu nâu, nó không phân biệt rỏ với dác Cây.
Những hạt thẳng .
Gỗ Cây Quăng Alangium chinense mềm và có trọng lượng riêng đặc biệt (0% độ ẩm humidité) là khoảng 0,49.
▪ Tĩ trọng của gỗ Cây Quăng Alangium chinense của Á Châu thay đổi rộng rãi từ 440 đến 4100 kg / m³ ở độ ẩm 15%, nó khô ngoài không khí tốt không, hoạt động tốt, uốn cong dễ dàng và có một kết quả cuối cùng tốt đẹp.
Gỗ Cây Quăng Alangium chinense không bền và không được sử dụng cho những mục đích  bên ngoài, trong đặc biệt là khi tiếp xúc với đất .
● Thành phần hóa học :
  Những căn hành Cây Quăng Alangium chinense chứa :
- venoterpine,
- dl-anabasine.
▪ Những Cây Quăng Alangium chinense chứa :
- β-amyrin acetate,
- β-sitosterol,
- 18-cineole,
- β-thujene,
- eugenol methyl ether,
- α-terpineol,
- α-pinene,
- triacontanol.
▪ Từ những phần đoạn tan trong nước của những sấy khô của Cây Quăng Alangium chinense,  3 thành phần glycosides mới được tìm thấy  :
- alcool benzylique β-D-glucopyranosyl- (1 → 2) - [β-D-xylopyranosyl- (1 → 6)] - β-D-glucopyranoside,
- 2'-O-β-D-glucopyranosylsalicin,
- và  2'-O-β-D-glucopyranosyl-6'-O-β-D-xylopyranosylsalicin
đã được phân lập cùng với 7 glycosides được biết.
Những cấu trúc của những thành phần hợp chất mới đã được xác định bởi phương tiện quang phổ spectroscopiques và những phương tiện hóa học chimiques.
( Glycosides của benzyl và salicyl rượu từ Alangium chinense
Itoh A, Tanahashi T, Nagakura N, Inoue K, Kuwajima H, Wu HX)
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Quăng Alangium chinense này được phổ biến trong sử dụng ở những tiệm thảo dược ở Tàu, nơi đây nó được xem như 1 trong 50 thảo dược cơ bản.
▪ Những rễ và những thân Cây Quăng Alangium chinense là :
- một thuốc bổ máu tonique du sang,
- thuốc tống hơi  carminatives,
- và ngừa thai contraception.
▪ Cây Quăng Alangium chinense được sử dụng trong chữa trị :
- những bệnh thấp khớp rhumatismes,
- tê (ở đầu ngón tay hoặc chân ) engourdissements,
- những tổn thương do chấn thương lésions traumatiques,
-  những vết thương loét plaies,
- những vết rắn cắn morsures de serpent .
▪ Một nước nấu sắc décoction của những chồi lá được cho là :
- một thuốc bổ tonique .
▪ Một bột nhão pâte của rễ Cây Quăng Alangium chinense được áp dụng ở những vùng chung quanh xương bị trật khớp os disloqués để giúp chỉnh khớp trở lại bình thường.
Chồi nẩy mầm, vỏ rễ, và nguyên cây của Cây Quăng Alangium chinense tất cả đều được sử dụng trong y học.
▪ Thành phần anabasin alcaloïde được phân lập từ rễ của Cây Quăng Alangium chinense,  tác dụng đáng kể trên :
- thần kinh cơ neuromusculaire
gây ra hiệu quả ngăn chận trên hoành cách mạc phrénique của chuột bị cô lập, chuẫn bị cho :
- một màng chắn thần kinh nerveuses-diaphragme,
và cũng cho thấy có một hiệu quả :
- khử cực dépolarisation
trên cơ bắp sartorius của ếch bị cô lập..( cơ sarcorius là một cơ bắp dài nhất của người hoặc ếch, chạy dọc theo chiều dài của dùi …)
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong y học với căn bản thảo dược của Hồ nam Hunan, Tàu. Cây Quăng Alangium chinense được sử dụng cho :
- những vết rắn cắn morsures de serpent,
- sự tuần hoàn circulation,
- ngừa thai contraception,
- cầm máu hémostase,
- tê engourdissement,
- thuốc độc poison,
- những bệnh thấp khớp rhumatismes,
- và những vết thương blessures.
Rễ, vỏ, và những nhánh lá Cây Quăng Alangium chinense được sử dụng trong y học truyền thống Phi Châu.
Bột của rễ Cây Quăng Alangium chinense được sử dụng để chữa trị :
- những đau đầu maux de tête.
Rễ Cây Quăng Alangium chinense nấu sắc décoction được sử dụng để chữa trị :
- đau dạ dày douleur d'estomac,
- và như tẩy xổ purgatif.
Một nước nấu sắc décoction của cành lá Cây Quăng Alangium chinense, uống để chữa trị :
- bệnh tâm thần maladie mentale.
▪ Trong RD Congo, ngâm vỏ Cây Quăng Alangium chinense được sử dụng để chữa trị :
- những bệnh ngoài da maladies de la peau,
- và bệnh tượng bì hay da voi elephantiasis.
Nghiên cứu :
 Trong nghiên cứu, trích xuất trong nước và thành phần anabasine của Cây Quăng Alangium chinense có thể :
- thư giản détendre một cách đáng kể cơ của thỏ, chó, chuột rat và chuột souris.
▪ .Thành phần anabasine được phân lập từ Cây Quăng Alangium chinense, với tiêm nhanh vào tĩnh mạch  intraveineuse, có thể :
- nhanh chóng gia tăng huyết áp pression sanguine,
- và gây ra một  rối loạn nhịp tim arythmie cardiaque của mèo .
▪ .Thành phần anabasine có thể ức chế:
- trung tâm hô hấp centre respiratoire của thân não tronc cérébral,
và với một liều lớn của anabasine sẽ gây ra :
- một suy  hô hấp dépression respiratoire,
- hoặc làm ngưng arrêter.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Lưu ý :
- Dùng uống không nên lạm dụng quá mức.
- Không sử dụng cho những người già và tàn tật.
Ứng dụng :
● Những sử dụng khác :
▪ Trong Phi Châu Afrique, gỗ Cây Quăng Alangium chinense được sử dụng cho những điêu khắc và những bao kiếm và bao dao.
Nó cũng được sử dụng trong những đồ trang sức ở tay.
▪ Gỗ Cây Quăng Alangium chinense được sử dụng ở Châu Á trong xây cất đà nhà, sàn nhà, những vật dụng nội thất, đồ mộc, …v…v..
▪ Cây Quăng Alangium chinense được trồng trong những hàng rào sống và dọc theo ranh giới nông trại.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Những hoa sản xuất mật, thu thập mật bởi những con ong
▪ Trong những con nhọng RD Congo được nuôi bằng những lá, và được thu hoạch để làm thức ăn sau khi chiên hoặc luộc chín.

Nguyễn thanh Vân