Tâm sự

Tâm sự

lundi 9 janvier 2012

Rau Sam - Pourpier-Purslane

Pourpier – Purslane
Rau sam
Portulaca oleracea L.
Portulacaceae
Đại cương :
Trong vùng có mùa đông lạnh, một cây sống hằng năm mọc vào mùa hè và mùa thu và những vùng nhiệt đới như Việt Nam ….
Cây rau sam được xem như cây có hại cho thực vật bởi vì rau sam mọc rất nhanh và phủ trên mặt đất mặt vườn.
Hiện nay, rau sam được tìm thấy chung khắp nơi những nước vùng nhiệt đới và phần lớn những nước vùng ôn đới.
Có rất nhiều loài của giống Portulaca, một số loài dùng để trang trí, những cây có hoa màu hoa cà, màu tím, hồng và những màu khác, khác hơn màu của rau sam Portulaca oleracea, nhiều cây có vị đắng ( người ta gọi là quinine nhỏ ).
Tên thông thường của rau sam khác nhau tùy địa phương : Purslane, garden purslane, pigweed, ma chi xian ( Chine ) munyeroo, portulaca, pusley, rau sam ( Viet nam ).
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc và sự phân phối : Rau sam mọc khắp nơi vùng nhiệt đới và phần lớn vùng ôn đới. Thường thấy ở Việt Nam, Trung Quốc ……
Mô tả thực vật :
Cỏ nhất niên nằm, phân nhánh, trải ra khoảng 10 – 30 cm, thân mập thịt, thân và lá thường đỏ nhạt, phiến xoan ngược, chót tròn dài 1 – 2 cm, lá  bẹ là những lông dài mau rụng.
hình bầu dục, thuôn dài, mập, không cuống.
Phát hoa chùm.
Hoa cô độc, hoặc thành nhóm không cuống, mọc ở nách lá, và ở trên cùng của các nhánh, lưỡng tính, nở lúc trời nắng,
Hoa gồm đài hoa 2 không đều nhau, cánh hoa 4 – 6, rời hay hơi dính nhau ở đáy, dể rụng, màu cam hay vàng,tiểu nhụy 7 – 12 bao chung quanh vòi nhụy 3 – 5 , nuốm dài.
Trái: hạp quả tròn, hình trứng, mở ra chung quanh như nấp, có 2 tiền diệp còn lại.
Hột nhiều, nhỏ và đen.
Thời gian trổ hoa từ tháng 6 đến tháng 11.
Môi trường đất hoang, chịu nhiệt.
Đứng về phương diện sinh môi học, rau sam được xem như một điềm chỉ viên môi trường sinh học, cho biết đặc tính của đất nơi rau sam mọc:
- Đất không thoáng thiếu khí ( thường do đất bị nén cứng ),
- Thiếu calcium,
- Khả năng lưu giử pouvoir de fixation ( nước và chất dinh dưởng  ) kém yếu, nên đất rất khô vào mùa hè.
Một số người xem rau sam là cỏ dại lý do là mô hình phát triển và tăng trưởng của nó.
Cây rau sam là một cây mọng nước, ngon ngọt ( chứa hơn 90% nước ).
Bộ phận sử dụng :
Toàn cây
Thành phận hóa học và dược chất :
Rau sam giàu chất :
- Vitamine C : 10 à 20 mg cho 100g lá tươi,
Acides béo cần thiết :
- Acide alpha linolénique,
- Oméga 3
Rau sam còn chứa :
- carbohydrates,
- lipides,
- glycosides,
- stérole,
- triterpènes
Thành phần của phénoliques của cây gồm :
- scopoletine,
- bergaptène,
- isopimpinelline,
- acide lonchocarpique,
- robustine,
- génistéine,
- fumarique,
- và acide acétique.
Tinh dầu bay hơi của rau sam đã được nghiên cứu chứa :
- chất chánh linalol,
- và 15-tétraméthyl-2-hexadécén-ol.
Rau sam chứa lượng cao caroténoides, bao gồm :
- bêta-carotène,
- calcium,
- magnésium,
- potassium,
- acide folique,
- và lithium cũng hiện diện.
Acide amine trong lá loài Portulaca oleracea gồm :
- phénilalanine,
- alanine,
- tyrosine,
- aspartate.
Thí dụ : 100 g lá và thân rau sam thông thường có thể chứa 300 à 400 mg acide alpha linolénique.
Những hạt (nhỏ nhưng rất nhiều) có chứa nhiều hơn (80 à 170 mg/g) :
- acide alpha linolénique hiện diện 60% những acide béo của lá và 40% của hạt.
Acide béo trong hạt có phần tăng ( thí dụ như acide acide linolénique, acide palmitique ) cũng được đánh giá cao.
Rau sam là nguồn vitamine A, B, C và E chứa trong cây.
- carotène (22 - 33 mg/g lá tươi), vitamine A và vitamines của nhóm B.
Rau sam chứa nhiều acide oxalique ( nguyên nhân một phần của bệnh thống phong goutte do các vị chua của lá ).
- Rau sam cũng giàu chất « truyền thần kinh neurotransmetteur ) (noradrénaline = norépinephrine), một phân hóa tố tự nhiên, trong liều lượng tác động, làm co mạch máu và có thể tăng huyết áp động mạch.
- Cuối cùng rau sam là nguồn của các hợp chất phénoliques, phổ biến trong giới thực vật, và là một chất chống oxy hóa thiên nhiên :
- flavonoïdes,
- acides phénol.
Người ta ghi nhận, sự hiện diện một lượng nhỏ alcaloïde ít hoạt đông  .
Những chất chống oxy hóa như glutathion và alpha-tocophérol cũng được tìm thấy trong rau sam.
Cây rau sam bao gồm thành phần những chất nhầy mucilage.
Chất gomme đã được tìm thấy trong rau sam, có thể xem như một chuyển hóa nhủ tương thực phẫm.
Chất phân hóa tố  phosphoénolpyruvate carboxylase, được trích từ lá đã được ghi nhận.
Được biết thành phần hóa học của rau sam, được đánh giá ở các giai đoạn tăng trưởng khác nhau.
Giá trị dinh dưởng :
 Rau sam là một thực phẫm ít năng lượng, cung cấp ít calo. Lá là một loại rau rất giàu nguyên tố vi lượng oligo-éléments như :
- potassium,
-  magnésium
- và dồi dào nguyên tố calcium.


Rau sam giàu chất vitamine C, như framboise tươi, ít hơn chanh tươi nhưng nhiều hơn pomme.
Nồng độ những vitamine khác của nhóm B cũng quan trọng hơn hầu hết những trái cây khác.
Rau sam chứa :
- β-carotène nồng độ 2,1 – 3,0 mg/100g.
Một phân tích được thực hiện ở Bồ đào Nha, trên rau sam hoang, có độ ẩm thấp nhất những lá ( 91-92%) và nông độ lipide cao hơn (0,37-0,44 %), những rau sam trồng thì lượng nước cao hơn. Người ta tìm được trong rau sam có khoảng 27 acides béo nhưng có 4 acides béo chánh yếu được đứa ra dưới đây : :
 Acide α-linolénique là acide béo nhiều nhất và là acide béo cần thiết mà không thể tổng hợp bởi cơ thể và phải được cung cấp bởi thức ăn. Acide này đóng một vai trò trong sự tăng trưởng và phòng bệnh.
Acide béo quan trọng thứ nữa là :
Acide bảo hòa, được thành lập bởi một chuổi 16 carbones :
- là acide palmitique
- và acide linolénique,
Một acide không bảo hòa oméga 6.
Một số acides hữu cơ cũng đã được phát hiện như :
- acide oxalique trong lá,
- acide citrique trong thân cây.
Những acides aconitique, malique, fumarique cững được tìm thấy.
Những hợp chất phénolique gồm những acides chlorogénique :
- acide 3-caféylquinique
- và acide 5-caféylquinique.
Hợp chất phénolique ở lá giàu hơn so với thân.
Đặc tính trị liệu :
Rau sam được biết nhiều ở Trung Quốc, theo y học cổ truyền Trung hoa, rau sam có tên là Ma chi Xian được sử dụng :
- đau bụng,
- tiêu chảy,
- và bệnh lỵ.
- điều trị bệnh nhiễm trùng,
- xuất huyết đường sinh dục và đường tiểu,
- cũng như bệnh lỵ.
Những rau sam tươi cũng được dùng bên ngoài nơi vết thương ( côn trùng, rắn rết cắn ), trên da để giảm đau.
Ăn rau sam có thể giảm đáng kể :
- bệnh lỡ miệng còn gọi là « đài sang phẳng - lichen plan ».
Hạt rau sam dùng chữa trị những vấn đề :
- đường hô hấp
- và giun đường ruột.
Trong thời Trung cổ, người ta đã ứng dụng trong y học và những hạt được trộn chung với bột mì.
Dung dịch ép dùng bào chế dạng cao sệt, dùng bên ngoài chữa những bệnh ngoài da.
Lá rau sam có thể sử dụng  trong súp, salade, hoặc nấu chín như rau dền épina rất nhiều vitamine C.
Rau sam giàu chất acide béo oméga 3, những acide có lợi cho :
- những chứng bệnh tim bẩm sinh
- và một vài ung thư nhất định
Hiệu quả xấu và rủi ro : :
Không độc chất.

Nguyễn thanh Vân

samedi 7 janvier 2012

Cẩm quỳ hoang - Mauve sauvage

Mauve sauvage
Cẩm Quỳ hoang
Malva sylvestris L
Malvaceae

Đại cương :
Cẩm quỳ màu hoa cà lá tròn ( Malva rotundifolia ) hay cẩm quỳ lá nhỏ, những cẩm quỳ này có cùng đặc tính trị liệu với nhau.
Cẩm quỳ lá lớn, còn gọi là mauve sylvestre hay cẩm quỳ rừng, ( malva sylvestris ) là một dược thảo thuộc họ bụp Malvaceae.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Cẩm quỳ lá lớn có nguồn gốc ở Tây Âu, Bắc Phi và Châu Á lan rộng sang thế giới anglophone ( nói tiếng Anh ).
Mô tả thực vật :
Cẩm quỳ lá lớn là một cây sống hằng năm có một rể cái, mập thịt, màu trắng nhạt.
Thân, khoảng 30-80 cm, hình trụ phân nhánh, có lông, mọc thẳng.
mọc xen, hình dạng lá có phần giống cây « thường xuân đất », có cuống dài, hình tròn, có 5-7 thùy cạn không sâu và có răng cưa.
Hoa, màu hồng tím, trổ vào tháng 5 đến tháng 8, cuống hoa dài, hoa có gân sậm hơn màu của cánh hoa, lưỡng tính, tập trung thành nhóm cụm hoa chung quanh một trục chánh ở giữa, rất thông thường.
Hạt : viên nang
Bộ phận sử dụng :
Lá, hoa và rể.
Thành phận hóa học và dược chất :
- glucosides flavoniques,
- mucilages,
- tanins.
- anthocyanoside malvine (hoa)
Đặc tính trị liệu :
- Làm mềm émolliente,
- Nhuận trường laxative,
- Thuốc ho béchique,
- làm du calmante,
Hiệu quả chánh của cẩm quỳ là :
- làm mềm émollient,
- khử trùng désinfectant.
Người ta dùng để :
- viêm họng,
- loét miệng,
- viêm phế quản,
- khàn tiếng,
- và viêm thanh quản,
- làm dịu adoucissante,
- thông mũi décongestionnante,
- thoát những độc chất,
- nhuận trường,
- thuộc ngực (đau ngực),
- chống viêm sưng,
Trong những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên chuột, đã chứng minh hoạt động kích thích sự miễn dịch của dung dịch ly trích từ rể.
Theo y học truyền thống, người ta dùng cẩm quỳ chánh yếu do tác dụng an thần trong :
- chứng bệnh thuộc phế quản,
- trong điều trị táo bón
- và chứng viêm đại trường co thắc.
Chủ trị :
- Suyễn Asthme,
- Loét Aphtes,
- Táo bón Constipation,
- Ho và những bệnh phế quản.
- Viêm cổ họng và miệng.
- Viêm hệ thống tiêu hóa và ruột.
- Bệnh về da ( dùng bên ngoàio cơ thể ).
- Phỏng  
- Côn trùng chích .
- Giảm đau những bệnh :
- Da mẫn cảm,
- và bị kích thích ngứa.
- cảm cúm rhume,
- viêm phế quản,
- trẻ em mọc răng,
- Khí quản viêm
- Thanh quản viêm,
- Khan giọng,
- Táo bón,
- Tiêu chảy,
- Âm đạo viêm,
- và những bệnh về đường tiểu.
Thích hợp cho trẻ em và người già.
Hiệu quả xấu và rủi ro :
Không độc chất ở cây cẩm quỳ ( cho đến ngày nay chưa thấy có sự cảnh báo ), kể cả sự sử dụng lâu dài.
Ứng dụng :
Dùng như trà thảo mộc chữa trị táo bón và viêm đại tràng :
Ngâm trong nước sôi 2 hay 3 muỗng canh bông cẩm quỳ khô trong 1 lít nước sôi, trong 10 phút, lọc và uống 2 hay 4 tách trong ngày.
Dùng như trà chữa trị ho và bệnh phế quản :
Ngâm 2 muỗng canh hoa và lá trong 1 lít nước đun sôi, trong 10 phút, lọc và uống 3 tách trong ngày.
Dùng ngoài cơ thể :
Phương cách nấu sắc 6 đến 7 muỗng canh hoa và lá xấy khô trong1 lít nước sôi. Đun sôi trong 2 phút, đoạn để ngâm trong 10 phút.
Sử dụng thẳng trên da bị bệnh ( những bệnh da ) hay dùng để súc miệng  ( bệnh về miệng và cổ họng ). Lập lại nhiều lần trong ngày.
- hay một nhúm hoa hay lá trong 1 tách, nước không nên đun sôi, dùng 4 – 6 lần trong ngày.
- rữa chống viêm âm đạo,
- Phương cách nấu sắc rể  hay lá : dùng ngoài cơ thể trường hợp bệnh thống phong gootte, những chứng viêm sưng khác.
- dung dịch nước ép tưoi, dùng đối với những vết côn trùng mouches, ong  ( guêpes) chích.
Theo dân gian thì, uống nước ép thường xuyên sẽ bảo vệ ngừa bệnh nhiễm.
Thực phẩm và biến chế :
Những đọt non có thể sử dụng trong salade hay hấp hơi nước chín như rau cải légume .
Những lá non của những cây non ăn như salade hay nấu chín.
Ngoài ra người ta còn dùng những lá hay chồi non như salade, nấu canh ( soup ), nấu như rau dền épinards.

Nguyễn thanh Vân

mardi 3 janvier 2012

Cây dùa - Cocotier

Le Cocotier
Dừa
Cocos nucifera L.
Arecaceae
Đại cương :
Cây dừa ( Cocos nucifera ) là một loài « cọ hay palmiers » của bộ tộc Cocoeae, được mô tả của nhà thực vật học Carl Linné. Đây là loài duy nhất của giống Cocos. Trái gọi là dừa (noix de coco).
Loại cọ palmier này hiện diện trong tất cả các vùng nhiệt đới ẩm ướt. Chủ yếu được trồng dọc theo bờ biển, vẫn còn hạn chế rất nhiều.
Ở Ấn Độ, dừa được trồng lên đến 1000 m cao độ. Tuổi thọ của cây vượt quá 1 thế kỷ. Đời sống hữu ích của cây ước chừng 50 năm và 80 năm, nhưng có một cây dừa quá tuổi hơn mà vẫn còn mang đầy trái.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Lịch sử của cây dừa từ nhiều thiên niên kỷ đến nay vẫn còn bí ẩn. Hiện chưa rỏ nguồn gốc khu vực nào cây dừa xuất hiện đầu tiên. Từ Thái bình dương hay Viễn Đông, cây dừa đã lan rộng trong vùng Ấn độ dương đến Phi Châu. Sự hiện diện cây dừa ở Mỹ là do 2 hướng mới đây, cả phía đông lẫn phía tây.
Mô tả thực vật :
Cây dùa bao gồm thân hoặc gốc, đại mộc, thân cô độc, đường kính khoảng 20-30 cm. Trên cùng là một tàng lớn của lá. Thân không phải là một thân thực sự mà là một thân giả do vỏ lá đan với nhau, vắng mặt các cơ cấu tăng trưởng độ dày, phần dưới đôi khi phù to như bóng đèn để làm tăng sức đề kháng chịu đựng vững chắc bao gồm cả những cơn gió lốc. Mặt ngoài thân đặc biệt láng, có những vết do bẹ lá rụng để lại những vết xẹo trên thân.
Có 2 loại thân :
- loại dừa cao lớn, khoảng cách giữa 2 vết xẹo trên 5 cm,
- loại dừa lùn, khoảng cách xẹo khoảng 2,5 cm.
Dưới đất thân,thân có dạng hình chóp ngược, được gọi là « rể củ », mang rất nhiều rể nhỏ mịn, hàng ngàn sợi rất rậm rạp dày đẳc có thể tới 4-5 m chiều sâu.
có khoảng 30 lá, dài đến 5-6 m, mỗi lá thông thường phát triển một bẹ gọi là « mo », nên khi lá rụng để lại một vết trên thân và nhiều lá phụ láng, có một gân chánh to.
Một chồi nụ duy nhất phát triển ra những lá và những hoa. Những chồi nụ này hoạt động liên tục không ngừng cho đến khi cây chết.
Trong gốc mỗi lá bên trong « mo bẹ » thường có một cụm hoa, phát triển thành một buồng cho ra trái dừa. Khi buồng lớn, mo mở ra và cụm hoa phát triển ra ngoài.
Buồng đồng chu, hoa đực và hoa cái cùng trên một cây. Hoa đực ở trên, hoa cái ở dưới đáy nhánh.
Hoa đực có nhụy cái lép, hơn nữa hình dạng của hoa đực giống như hạt gạo.
Hoa cái, phía dưới cụm hoa, dạng hình cầu 2-3 cm đường kính, số lượng khoảng 20 – 30 trái, nhưng có thể đạt đến hàng trăm.
Quả nhân cứng to, với phôi nhủ ( cái dừa và nước ) to, mầm (mọng) nhỏ.

 Trái.

 Theo thực vật học, trái dừa là một quả có nhân cứng, không phải là hột thật sự. Như những trái khác, trái dừa có 3 lớp : ngoại quả bì, trung quả bì và nội quả bì. 

- Ngoại quả bìtrung quả bì tạo nên vỏ dừa.

- Trung quả bì còn gọi là xơ dừa có dạng sợi hợp lại có nhiều công dụng cho dân gian và thương mại. Lớp trong cứng gọi là :

- Nội quả bì còn gọi tên là « sọ dừa », có 3 lỗ để bào tử nẩy mầm chui ra, lỗ này dể thấy khi lớp xơ dùa được lột bỏ,

Một trái dùa kích thước bình thường cân nặng 1,44 kg.

Hạt.

Vỏ nội quả bì hay sọ dừa là một hạt duy nhất. Khi hạt nẩy mầm, một rể nhỏ của phôi embryon đẩy ra xuyên qua một trong 3 lỗ mắt của sọ. Lớp ngoài của hạt, lớp da, dính bên trong của sọ. Trong một trái dừa chín, nội nhũ gọi là « cơm dừa » dính bên trong của lớp vỏ mỏng màu hơi nâu bên ngoài cơm dừa.
Nội nhũ hay cơm dừa là phần ăn được màu trắng. Mặc dù cơm dừa chứa ít chất béo hơn những hạt có dầu như hạt hạnh nhân…điều cần lưu ý số lượng cao nhất của chuổi chất béo bảo hòa, khoảng 90% chất béo trong cơm dừa là bảo hòa, một tỷ lệ cao hơn chất béo trong mỡ, bơ, mỡ động vật.
Đã có sự tranh luận vể phần chất béo bảo hòa trong dừa là tốt hơn những hình thức chất béo bảo hòa khác. Giống như phần lớn những « cái » (thịt) của những hạt, cơm dừa chứa ít đường và nhiều chất đạm protéine hơn của những trái cây thông thường như chuối, táo pommes, và trái cam. Cơm dừa tương đối cao những khoáng chất như sắt Fe, phosphore P, kẽm Zn.
Nội phôi nhũ bao chung quanh khoảng không gian bên trong rỗng, chứa đầy không khí, và thường là một dung dịch nước gọi là « nước dừa » ( lait de coco ). Trái dừa chưa trưởng thành còn non có nhiều khả năng chứa nhiều nước dừa và ít cơm dừa. Người ta thường bán trái dừa vạt một phần chóp để có thể uống nước dừa.
Dừa còn non để uống nước dừa gọi là « dừa dán cháo » hay « dừa non nạo », có cơm dừa mỏng mềm, nước quả dừa non nạo là chất lỏng của nội phôi nhũ, có vị ngọt nhẹ với cảm giác dể chịu khi mới hái còn tươi.
Tùy theo kích thước trái dừa, chứa khoảng 300-100ml nước dừa.
Cơm dừa trong trái dừa non xanh mềm hơn và nhiều chất nhờn dính hơn là cơm dừa chín, đôi khi gọi cơm dừa non là thạch dừa.
Khi trái dừa thật già, lớp vỏ ngoài trở nên màu nâu, vài tháng sau, trái dừa sẽ rơi xuống và khô dần dần. Tại thời điểm này nội phôi nhũ đã dày cứng, trong khi nước dừa có vị ngọt thanh, cơm dừa này người ta còn gọi « dừa cứng cạy ».
Bộ phận sử dụng :
Trái, thân, lá 
Thành phận hóa học và dược chất :
Ngoại quà bì, vỏ dừa bao quanh sọ dừa có màu xanh, có rất nhiều chất tanin, thành phần gồm :
- 93,5% nước ,
- 2% đường glucose,
- 4% chất đường lévulose,
Thành phần vi lượng (vết) :
- inuline,
- đạm chất protéines
- và số lượng ít muối khoáng (potassium).
Một chất lỏng bình thường vô trùng, gần như đẳng trương isotonique ( có thể thay thế dung dịch sinh học, dịch truyền vào tĩnh mạch ),
Trái dừa chín già, cơm dừa tươi, thành phần trung bình chứa :
- 40 à 50% nước,
- 4% chất đạm proteines,
- 30 à 40% chất béo lipides,
- 4% đường glucides,
- 10%  cellulose,
- thành phần muối khoáng,
- thành phần vitamines C và B với lượng nhỏ ( vi lượng ).
Trái (cho 100 g)
- nước : 46 g
- Chất đạm : 4 g
- Chất béo : 35 g
- Đường :10g
- Cellulose : 3,5 g
- Muối khoáng : S, P, Cl, Na, K, Mg, Ca, Fe, Zn, Cu, Mn
- Vitamine : A, Bl, B2, B3 (PP), C et E.
Trái dừa là nguồn thực phẩm căn bản tốt cho những nước vùng nhiệt đới. Cây dứa được gọi tên là « vua những cây » hay « cây cho những gì cần để sống », và công dụng thật sự có nhiều.
Cơm dừa trắng, hay cơm dừa cứng cạy và nước dừa, hay cơm dừa dán cháo là :
- Một chất dinh dưởng và làm tươi mát.
- Chất sinh tố vitamine ít,
- nhưng lượng muối khoáng rất tốt.
Người ta cũng dùng dầu dừa nấu ra từ hạt và có thành phần như sau :
Hạt :
- nước : 3,5 96
- đạm protides: 7,8 96
- chất béo lipides: 66 96
- chất trích không đạm Nitro N : 14 96
- chất xơ fibre : 5,9 96
- K, Na, Mg, vôi, Fe, Cl
- acides : sulfurique, silicique, phosphorique.
Thành phần dầu dừa :
Acides :
- caprylique : 9,4 96
- caprique : 70 96
- laurique : 45,3 96
- myristique : 18,1  96
- palmitique : 1 1,5  96
- stéarique : 5 96
- oléique : 5,1 96
Điểm đông đặc (point de solidication) : de 26 à 30°.
Chỉ số :
- iode : 24,6
- Khúc xạ : 1,45 (à 40°)
- Savon hóa – không savon hóa: < 0,5 %.

Dầu dừa
Lấy từ cùi dừa hay cơm dùa là nội nhũ của trái dừa.
Chứa khoảng 62 đến 65 % dầu và chỉ 6% nước.
Dầu được thu hoặch từ cơm dừa rất giàu acides béo bảo hòa, có đặc tính rắn đặc ở nhiệt độ của môi trường chung quanh.
Đặc tính trị liệu :
Nước dừa non này là một dung dịch vô trùng, gần với dung dịch điện giải sản xuất bởi phòng thí nghiệm. Đây là loại được sử dụng trong thời chiến tranh thế kỷ 20 ở vùng nhiệt đới, tại các đảo Salomon, Bác sỉ của Polynesia thuộc Pháp, dùng nước dừa non để làm ẩm vết phỏng lớn trên đảo Tubuai, nạn nhân đã được cứu sống.
Với lượng nhỏ, nước dừa là :
- rất dể tiêu hóa,
- và kèm theo tất cả các loại thực đơn : rau, cá, thịt, salade trái cây, bánh.
Bụng đói và lượng nước dừa :
- là một chất nhuận trường nhẹ
- là chất tẩy sổ cho một số người và chỉ dùng một lần.
Người ta có thể bào chế dầu dừa tại nhà. Cái dừa được nầu sắc với nước, dung dịch được tách riêng nước dầu bởi trọng lượng ( nước nặng ở dưới dầu nhẹ nổi lên trên ) và sau đó có thể tinh chế với lửa nhỏ.  
Đây là một chất tẩy sổ rất hiệu quả : dầu của ½ trái dừa dùng phân lượng 1 phần cho trẻ em nhỏ và trẻ em lớn cho đến 2 phần cho người lớn.
- Pha mùi cho tinh chất hoa hay nước hoa,
- làm mềm da,
- làm dịu ban đỏ érythème,
- làm mướt tóc.
Nước dừa là :
- một chất hổ trợ tốt cho lợi tiểu,
- có thể tăng lợi tiểu gắp đôi mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến ion.
Vỏ ngoài xanh của dừa nghiền nát, ngâm nước, vắt, cho một chất lỏng rất giàu chất tanin được dùng như :
- chống xuất huyết,
- chống nhiễm trùng ( vết thương do san hô chẳng hạn …vùng đảo),
- chống tiêu chảy.
Vỏ cứng nội quả bì cờn gọi sọ dừa dùng làm than thực vật « charbon végétal » phẩm chất rất tốt :
- hấp thụ những hơi khí độc trong ruột,
- và một vài chất độc vi khuẩn hiện diện trong hệ thống tiêu hóa.
Rể dừa nghiền nát :
- Phương cách nấu sắc, kéo dài ( thêm vào một nắm rể non trong một lít nước) cho một chất lỏng ( co thắc ) :
- làm dịu những rối loạn bệnh kiết lỵ nghiêm trọng ( phân có máu ).
- và những rối loạn tiêu hóa thứ cấp do sự nhiễm độc bởi thịt của cá, khá phổ biến trong vùng nhiệt đới.
- Phương cách ngâm trong nước sôi dùng làm thuốc lợi tiểu.
Và nếu người ta cắt ngang qua cuống của cụm hoa cây dừa, một nước nhựa ngọt chảy ra ( một vài loại có thể cho đến 17% đường ), mà người ta có thể nầu và chế biến thành sirop, hay để lên men để biến chế ruợu dừa có cồn alcool.
Ứng dụng :
Dầu dừa
Dầu dừa giàu acides béo. người ta có thể dùng trực tiếp. Dầu dừa đã đi vào sản xuất kỷ nghệ : loại dầu thực vậtbơ thực vật margarines. Dầu dừa cũng được sử dụng rộng rải trong sản xuất xà phòng ( làm tăng chất tạo bọt ), chất tẩy rửa, nhựa plastiques và những mỹ phẩm. Dùng với một phân lượng nhỏ trên tóc, nó có khả năng điều hòa lại sự sống của chân tóc và bóng láng tóc
Ở Ấn Độ, dầu dừa dùng để thoa da đầu để mà da đầu dày chắc và bảo vệ tóc.

Nước dừa và sửa dừa :

 Trái dừa tươi vạt miệng để uống nước,
Nước dừa là nước tươi tinh khiết mà cây tích tụ lưu giữ trong trái để có thể rút ra những nguyên tố cần thiết để tăng trưởng.
- Cây dừa thường mọc ở cạnh bờ biển, lượng nước dưới đất cung cấp cho cây rất mặn đối với những chồi non, chỉ có nước của bản thân mới bảo đảm sự sinh tồn của cây. Nước này được tiêu thụ bởi những rể mầm của cây trong suốt thời gian nảy mầm.


Nguyễn thanh Vân

dimanche 1 janvier 2012

Dây trầu - Bétel

Bétel
Dây Trầu
Piper betle L.
Piperaceae
Đại cương :
Tên thông dụng gọi là Tiêu trầu.
Dây trầu ( piper betle ) là một loại dây leo thuộc họ piperaceae, trong đó có lá hình trái tim, có đặc tính chữa bệnh như một chất kích thích nhẹ. Trầu có thể đạt đến độ cao khoảng 1 m.
Trầu có nguồn gốc ở Malaisia và hiện nay phát triển mạnh ở Ấn Độ và Nam Dương.
Lá trầu được tiêu thụ phần lớn ở Châu Á và những nơi khác trên thế giới bởi một số người nhập cư Á châu. Trầu phối hợp có hay không thuốc lá, trong thành phần tác dụng kích thích hay phấn kích, hiệu quả có hại cho sức khỏe.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Có nguồn gốc vùng nhiệt đới (Ấn Độ, Nam Dương, Mả Lai, Phi luật Tân, Tích lan, Việt Nam, Trung quốc, Đài Loan… ), được trồng ở Châu Á nhiệt đới, Châu Phi nhiệt đới, Madagascar ).
Mô tả thực vật :
Cỏ thường niên, leo nhờ rể mấu, lá rộng hơn ở tiêu, thường màu lục tươi hay vàng.
Lá hình trứng, thuôn hoặc trái xoan, lá rộng 7-15 cm, rộng khoảng 5-11 cm, có tuyến, phần dưới lá tròn, đỉnh nhọn.
Cuống lá có lông 20-50 cm.
Hoa biệt chu, đơn phái, họp thành gié.
Hoa đực và hoa cái ở 2 cây khác nhau, gié đối diện với lá,
- Gié đực mảnh, lá hoa không đính vào trục, tiểu nhụy 2.
- Gié cái to đến 1 cm, dài 5 cm hay hơn, nhiều vảy, nướm 3-5.
Phì quả cao 3-4 cm
Làm tiết mật, vú ngưng tiết sữa, ở Iran lá xem như làm tăng trí nhớ.
Bộ phận sử dụng :
Trồng để lấy lá nhai với vôi và cau và thuốc lá.
Thành phận hóa học và dược chất :
Những lá trầu chứa :
- Chavicol,
- Allylpyrocathecol,
- và cadinene.
Những thành phần hoạt chất tinh dầu lá trầu, được ly trích từ những lá :
- Nhóm chánh của allylbenzène .
- Mặc dù đã tập trung vào chavibetol (bétel-phénol; 3-hydroxy-4-methoxyallylbenzene), cho hương vị hun khói.
Đồng thời còn chứa :
- chavicol (p-allyl-phénol; 4-allyl-phénol),
- estragole (p-allyl-anisole; 4 - méthoxy-allylbenzène),
- eugénol (allylguaiacol; 4-hydroxy-3-méthoxy-allylbenzène; 2-méthoxy-4-allyl-phénol),
- méthyleugénol (éther méthylique d'eugénol; 3,4-diméthoxy-allylbenzène),
- và hydroxycatechol (2 ,4-dihydroxy-allylbenzène).
Nhiều terpènes và những terpénoïdes cũng đã hiện diện trong tinh dầu trầu.
Có 2 monoterpènes :
-  p- cymène
- và terpinène ,
Và 2 monoterpenoids :
- và carvacrol .
Ngoài ra, có 2 sesquiterpènes :
Những chất này có đặc tính kích thích vào :
- chức năng của nảo bộ
- làm khỏe hơn
Việc tiêu thụ trầu+cau+vôi ( gọi là chique ) chịu nguyên nhân gây ung thư mô biểu bì niêm mạc xoang miệng.
Đặc tính trị liệu :
Lá tươi hay khô dùng để cuốn bộc lấy nhân hạt cau và hầu như lúc nào cũng nhai trầu+cau+vôi ( chique de bétel ). Dùng với nhân hạt cau và vôi, cho một hương vị cay nồng, gây nên hiệu quả kích thích và phấn kích nhẹ.
Lá trầu chứa những alcaloïdes khác nhau kích thích hệ thần kinh trung ương.
Những lá trầu có chứa một sắc tố, nhuộm đỏ nước bọt và răng màu đen.
Tinh dầu trích từ lá trầu có đặc tính kháng sinh antibiotique và chống oxy hóa.Người ta thêm tinh dầu này vào dầu thực vật để ngăn chận trở mùi, trở ôi.
Cây trầu được coi như một dược thảo. Dung dịch ly trích từ lá trầu dùng trong trường hợp :
- Viêm màng nhày niêm mạc,
- Viêm da,
- Nhiễm trùng đường ruột,
- Viêm phế quản.
Tại Nam Dương, người ta nhai trấu cau vôi để bảo vệ tốt, chắc răng và nướu răng.
Ở Ấn Độ, lá trầu dùng, theo y học truyền thống Ayurvédic, người ta nhai trầu+cau+vôi, là một đơn thuốc trị hơi thở hôi.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Nhai trầu+cau+vôi đã được chứng minh có hiệu quả không tốt có hại cho nướu răng. Nhân hạt cau có thể là nguyên nhân cho răng, miệng, môi và phân trở thành màu đỏ. Phản ứng vật liệu trong khi nhai có thể đốtlàm khô miệng.
Những nghiên cứu trên dân số Á châu đã liên kết những điều kiện tiền ung thư miệng và thực quản khi sử dụng « trầu cau » ( xơ hóa dưới niêm mạc miệng ).
Có thể có những nguy cơ cao về :
- bệnh ung thư gan,
- miệng,
- dạ dầy,
- tiền liệt tuyến,
- cổ tử cung,
- và phổi do sự dùng thường xuyên nhai trầu cao.
Trong những nghiên cứu tại Papua New Guinea, các nhà khoa học đã tìm thấy ung thư ác tính trong miệng của những tế bào niêm mạc, thường gặp nhất ở Papue New Guinea, và được ghi nhận bệnh ung thư miệng thường tập trung ở các góc miệng và má, tương ứng với vị trí nhai trầu cau với vôi trong 77% của 169 trường hợp.
Bột vôi tôi, phết trên lá trầu làm cho độ kiềm Ph tăng lên đến 10, nơi đây những loài phản ứng oxigène được phát sinh ra từ thành phần của trầu cau. Những nhà khoa học cho rằng đây là cơ chế có thể có những chất sinh ung thư của khối ung bướu.
Trong nghiên cứu tiến hành ở Đài Loan, các nhà khoa học đã tìm thấy nhai trầu làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và đưa đến tử vong.
Trong một nghiên cứu khác, các báo cáo khoa học được ghi nhận đến mức nguy cơ  của ung thư của chique ( trầu+cau+vôi ) có hay không có thuốc lá. Ngoài ung thư miệng, những gia tăng đáng kể đã được quan sát ở những người nhai trầu còn thấy :
- ung thư thực quản,
- ung thư phổi,
- ung thư tụy tạng,
- ung thư thanh quản,
- ung thư phổi,
- và ung thư tất cả những cơ quan liên hệ.
Nhai trầu cao và hút thuốc cũng như những chất khác kết hợp, có sự hợp đồng tương tác chịu trách nhiệm phân nửa của tất cả các trường hợp gây ra tủ vong.
Do kết quả quan sát của nhai trầu và thuốc lá kết hợp, các nhà khoa học phỏng đoán đời sống bị rút ngắn khoảng gần 6 năm.
Ứng dụng :
Lá trầu dùng như :
- Chất kích thích stimulant,
- xác trùng antiseptique,
- và một hơi thở tươi mát.
Trầu cũng được dùng như trà, ngâm trong nước sôi, để chữa trị :
- chứng khó tiêu,
Bào chế như thuốc mỡ, hoặc dùng xông hơi,
- hít vào để chống lại chứng đau đầu,
- điều trị chống táo bón,
- thuốc thông mũi,
- giúp kích thích tuyến vú tạo sữa cho con bú.
Trong y hoc truyền thống ayurvédique, sử dụng trầu như một chất kích thích tình dục. Nhai trầu được ghi lại trong Kama Sutra.
Ở Malaisia, trầu được dùng để chữa trị bệnh :
- đau đầu,
- viêm khớp,
- phong thấp.
Ở Thái Lan và Trung Hoa, trầu là một đơn thuốc để trị đau răng.
Nam Dương, trầu ngâm trong nước sôi như trà để uống và dùng như thuốc kháng sinh.
Ở Ấn Độ và Việt Nam, lá trầu nhai với vôi ( oxyde de calcium ) với nhân hạt cau, trong một tổng hợp được chuẩn bị mà người ta gọi nôm na là « têm trầu » hay « ăn trầu ». Vôi hoạt động như một chất xúc tác  và cau chứa alcaloïde arécoline, thúc đẩy bài tiết nước bọt, nước bọt qua quá trình nhai phản ứng hóa học giữa 3 vật liệu trầu+cau+vôi  hòa với nước bọt, nước bọt nhuộm màu đỏ. Nhiều địa phương như Việt Nam người ta thêm vào hỗn hợp thuốc lá, còn gọi là thuốc xỉa, đôi khi quét quanh miệng và để bên mép.
Ở Papouasie-Nouvelle Guinée, lá trầu được sửa soạn với một thanh moutarde bằng bột nhúng vào vôi và hoạt động như một chất kích thích ngăn chận cơn đói, giảm sự căng thẳng, tăng cảm giác.
Phần lớn những gia đình có vườn đất thường trồng trầu. Vôi phải mua và vôi được biến chế từ các loài san hô
Lịch sữ trầu cau:
Chique ( trầu+cau+vôi), được sử dụng và tiêu thụ theo nhiều phương cách khác nhau trên thế giới :
- Lá trầu với nhân hạt cau và vôi tôi.
- Lá trầu với nhân hạt cau với vôi tôi và thuốc lá
- Lá trầu với thuốc lá, không nhân hạt cau.
- Lá trầu với nhân hạt cau với gia vị khác hay thành phần gia vị, không thuốc lá.
- Lá trầu với nhân hạt cau với thuốc lá va với gia vị hay thành phần gia vị.
- Riêng ở Việt Nam, ngoài lá trầu, cau, vôi còn thêm thuốc xỉa ở mép miệng để có thể lau răng và miệng, sau khi quét miệng người dùng để bên mép ( thường thấy ở đàn bà )
Theo các nhà khảo cổ học, bằng chứng cho thấy nhai lá trầu cau, từ thời rất xa xưa. Thời ấy người ta không biết 23 chất kích thích khác nhau đã để chung nhau. Trong phần lớn các nước, trộn lẫn cả hai làm một có giá trị tượng trưng cho nghi lễ và chung thủy gắn bó với nhau.
Tại Ấn Độ, trầu cau đóng một vai trò quan trọng trong nền văn hóa Ấn Độ, đặc biệt ở những người dân theo đạo hindous. Nhiều nghi lễ truyền thống đã chi phối cuộc sống người hidou và trầu cau là một trong những vật chi phối đó.
Thí dụ : khi người ta trả tiền cho một người tu sỉ người ta để tiền trong một chiếc lá trầu chẳng hạn…..
Trầu cau cũng đóng một vai trò trong nền văn hóa việt nam và được xem như một phong tục cổ truyền.
Ỏ Việt Nam người ta thường nói « miếng trầu bắt đầu câu chuyện », đề cập đến thực hành của những người nhai trầu trong những dịp gặp gở hay để « phá vở lớp băng đá » trong những tình huống khó xử.
Lá trầu và trái cau được dùng trong truyền thống cưới hỏi, trong nghi thức cưới hỏi miếng trầu cau không thể thiếu và trầu cau tượng trưng cho cặp vợ chồng kết hôn lý tưởng chung thủy với nhau.
Người ta cũng không quên câu chuyện đời xưa từ thời vua Hùng « sự tích trầu cau » Tình duyên của ba người Anh em và Chị dâu thương yêu gắn bó, tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết, cho nên trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bắt đầu mối lương duyên, và khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đã trở nên tục cố hữu của dân tộc Việt Nam. Và từ trầu cao đồng nghĩa với hôn nhân.


Nguyễn thanh Vân