Tâm sự

Tâm sự

mercredi 20 juillet 2011

Cây hoa hướng dương - Tournesol

Tournesol
Hoa hướng dương
Helianthus annuus L.
Asteraceae
Đại cương :
Hướng dương Helianthus annuus) là một loài thực vật chỉ sống một năm thuộc họ Asteraceae với bông hoa lớn (inflorescence). Thân cây hướng dương có thể cao tới 3 mét, với đường kính bông hoa là 100cm. Hoa hướng dương là loài hoa biểu tượng của Kansas và là một trong các loài hoa biểu tượng của thành phố Kitakyushu, Nhật.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Cây hướng dương có nguồn gốc ở Mỹ. Người ta nghĩ rằng lúc đầu đi từ phía Tây Bắc Mỹ ( miền tây Canada và États-Unis, trung và miền nam Mỹ, miền bắc Mexico ). Nhưng sự phát hiện năm 2010 dấu vết địa khai của hoa tương tự họ Cúc asteraceae, rất xưa vì ngày được định khoảng 50 triệu năm, về phía tây bắc Patagonia.
Được trồng bởi thổ dân người Amérindiens, du nhập vào Âu Châu do ngưòi Tây ban Nha vào thế kỷ thứ XVI ème. Phát triển sang Russie. Ngày nay Cây hướng dương đã được lan truyền khắp hoàn cầu.
Giống Hélianthus bao gồm khoảng 50 loài, tất cả có nguồn gốc từ Bắc Mỹ.
Mô tả thực vật :
Cây nhất niên, thân cứng, ít phân nhánh, có thể đạt tới 4 m chiều cao.
Lá đơn, giống hình trái tim, mọc xen, ngoại trừ lá phía dưới đôi khi mọc đối, cuống lá dài hay ngắn và thô nhám khi chạm vào.
Phát hoa : Những giống hướng dương ( tournesols ) trổ hoa vào tháng 7 và tháng 8.
Màu hoa : Hoa có thể biến đổi những màu khác nhau : vàng, cam, màu đồng, đỏ sậm, đỏ xám, trung tâm luôn luôn sậm màu.
Hoa đầu, đế hoa nạt, có khuynh hướng xoay ngược khi trổ hoa, rộng khoảng 30 cm. Bao quanh bởi một tổng bao, lá hoa hình bầu dục đầu nhọn.
Hoa phía ngoài hình lưỡi, xếp một vòng thường thường màu vàng, da cam gọi là hoa tỏa tia, hoa này không có khả năng sinh sản.
Những hoa giữa hình ống màu vàng nhạt hoặc màu đỏ đậm gọi chiếc hoa dạng đĩa.
Việc bố trí hoa ống trung tâm hay hạt, trên đế hoa vẻ ra một sơ đồ những đường xoắn theo quy tắc diệp tự học ( phyllotaxie ) và quay ngược chiều kim đồng hồ. Số lượng hoa mỗi vòng xoắn theo từng loại và không thay đổi và những con số liên tiếp theo « dây Fibonacci » thí dụ như 34/55 tức 34 vòng xoắn theo một hướng 55 vòng theo hướng kia hay 55/89…..
Cây hướng dương phải được hướng nhật động trước khi trổ hoa. Điều này ảnh hưởng tới sự tăng trường của thân cây phụ thuộc vào sự chiếu sáng. Cho phép lá phơi suốt ngày trong ánh nắng mặt trời tối ưu.
Bắt đầu trổ hoa, hoa định vị cố định theo hướng Đông / Đông Nam.
Hoa hướng dương có đặc tính quang hướng động thuận, có khuynh hướng xoay về hướng ánh sáng mặt trời. Nên về phương diện cảnh quan, những nhà trồng trọt cần thiết để định hướng, nếu không hoa sẽ quay hết về phía sau khi hoa ở vị trí hướng nam.
Trái : bế quả đỉnh ngọn có 2 vảy ở cạnh.
Rể : rể cái xoay vặn.
Bộ phận sử dụng :
Lá, hoa, thân, cành, rể, hạt đều được sử dụng để trị bệnh hay dinh dưởng.
Thành phận hóa học và dược chất :
Hoạt chất chánh :
- Flavonglycosides,
- Anthocyanides,
- Xanthophylles,
- Sapogénine,
- Acide linoléique,
- Caroténoïdes,
- Lécithine
- Vitamine E [lượng cao]
- Fibres
- Potassium
- Phosphore
- Protéines
Dầu hướng dương được đánh giá cho sự cân bằng những acide béo :
- Chỉ chứa 12 % acide béo bảo hòa.
- Nhiều acide béo đơn mono hay đa poly không bảo hòa.
- Acide oléique,
- acide palmitique
- và nhất là acide lonoléique, đây là một acide béo thiết yếu.
● Theo những nhà dinh dưởng học, dầu này có phẩm chất rất tốt cho chế độ ăn uống,
Thí dụ như  chống lại chứng tiểu đường.
- Đồng thời cũng là nguồn vitamine E.
- Dấu tournesole là một trong thành phần của margarines.
- Dầu cũng dùng để chế biến ra savon và sáp đèn.
- Người ta thường thêm kèm dầu tournesole vào trong thức ăn.
Chi tiết thành phần dầu hướng dương hay dầu tournesole :
Đặc tính trị liệu :
- Hạ sốt
- Tạo sẹo lành vết thương.
- Chống viêm sưng Anti-inflammatoire
- Lợi tiểu
- Long đờm
- Nhuận trường
- Ngăn ngừa những chứng bệnh về tim-mạch.
Một vài nghiên cứu để đánh giá hiệu quả sự tiêu thụ hạt tournesol trên sức khỏe.
Cũng nên lưu ý là 80% năng lượng của hạt tournesol đi từ những chất béo lipide.
Những hoạt chất trong cây và đặc tính trị liệu :
► Acides béo không bảo hòa : Những chất béo không bảo hòa ( polyinsaturés và monoinsaturés ) đã được biết là có hiệu quả tích cực trên chất béo lipide ( cholestérol ) trong máu, khi mà chúng thay thế những chất béo bảo hòa và những chất béo trans ( một phần của acide béo không bảo hòa, có nghĩa gồm ít nhất một đôi nối carbon- carbon ) trong thực phẩm. Nó giảm rủi ro những bệnh vành động mạch ( coronariennes ).
► Acides béo đa-không bảo hòa ( polyinsaturés ). Những hạt và dầu tournesol « theo quy ước » có chứa đặc biệt cao những acides poly-insaturés ( khoảng 65 % trên tổng số lipide ), như vậy xem như toàn thể dưới dạng acide linoléique. Cuối cùng là chất acide béo oméga-6 rất quan trọng, nghĩa là không thể tạo ra bởi cơ thể.
Acide linoléique được phổ biến trong thực phẩm hiện đại và những hạt tournesol là một trong những thực phẩm rất giàu ( tỷ lệ 60 ml chứa 12 gr ).
Nhìn chung, những acide béo đa-không bảo hòa ( polyinsaturés ) có tác dụng giảm lượng cholestérol trong máu, đặc biệt là cholestérol LDL ( cholestérol xấu ).
Khi acide này thay thế acide bảo hòa trong thực phẫm, giúp giảm nguy cơ bệnh vành động mạch ( coronariennes ).Trái với, acide oléique của acide béo đơn không bảo hòa ( monoinsaturés ), một chế độ ăn uống giàu chất acide linoléique làm cho chất cholestérol LDL ( cholestérol xấu ) nhạy cảm hơn với sự oxy hóa, một yếu tố gây nên sự rủi ro sơ vữa động mạch ( athérosclérose )  
► Acides béo đơn không bảo hòa ( monoinsaturés ) :
Khoảng 20 % những chất béo của hạt và dầu tournesol « theo quy ước » dưới dạng acide béo đơn không bảo hòa ( dưới dạng acide oléique ). Nói chung, một chế độ ăn uống giàu chất acide béo đơn không bảo hòa liên quan đến sự giãm nguy cơ bệnh vể tim mạch ( maladies cardiôvasculaires ).Những acide béo đơn không bảo hòa có khả năng giãm tĩ lượng cholestérol toàn phần ( cholestérol total ) và cholestérol-LDL ( chpestérol xấu ) trong máu, khi được thay thế những acides béo bảo hòa trong thực phẩm. Hơn nữa, nó có thể tăng tĩ lượng cholestérol HDL ( cholestérol tốt ) khi nó thay thế một phần những chất glucide trong thực phẫm.
● Antioxydants. Những chất chống oxy hóa là những chất bảo vệ những tế bào của cơ thể không bị hư hại bởi những gốc tự do.
Dầu hướng dương có tiềm năng chống lại sự oxy hóa đáng kể. Thật vậy, trong thí nghiệm cho ta thấy khả năng chống sưự oxy hóa cửa dầu hướng dương tương tự như khả năng chống oxy hóa của dầu olive nguyên chất và khoảng 5 lần cao hơn so với dầu olive truyền thống.
● Alpha-tocophérol (vitamine E)
Là hợp chất chủ yếu chống sự oxy hóa của dầu hướng dương, mặc dù loại khác của tocophérols và những hợp chất phénoliques hiện diệnvới lượng ít hơn.
Hạt hướng dương cũng chứa lượng cao vitamine E.
Lượng vitamine này thay đổi giữa loại dầu này và dầu khác. Sự thay đổi tùy theo điều kiện hạt giống, đất đai, phương pháp canh tác và phương pháp ly trích….
Đây có lẽ là hàm lượng vitamine E cho phép dầu hướng dương duy trì khả năng chống oxy hóa cao khi nó bị đun ở vào nhiệt độ cao.
● Phytostérols.
Thành phần có trong thực vật, có cấu trúc liên quan đến cholestérol. Thí nghiệm cho thấy dùng mỗi ngày 2 g phytostérol giảm nồng độ 10 % cholestérol LDL trong máu.
Phytostérol được tìm thấy trong chất béo của hoa hướng dương và được hấp dẫn đối với sức khỏe tim mạch.
Chất dinh dưởng quan trọng :
Phosphore :
Những hạt hướng dương rang khô là một nguồn rất tốt của phosphore.
- Phosphore là khoáng chất thứ hai được thành lập sau calcium.
- Nó giữ một vai trò cần thiết trong sự hình thành và duy trì sức khỏe cho xương và cho răng. - Khoáng này còn tham gia khác trong sự tăng trưởng và sự tái sinh những mô và giúp duy trì bình thường độ pH của máu.
- Phosphore là một trong những thành phần cấu tạo màng tế bào.
● Manganèse.
Những hạt hướng dương rang xấy khô là nguồn manganèse tuyệt hảo.
- Khoáng manganèse hoạt động như « đồng yếu tố » của nhiều phân hóa tố tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi khoảng 12 quy trình biến dưởng khác nhau .
● Cuivre.
Hạt hướng dương rang khô, nguồn rất tốt cho đồng.
- Là một cấu trúc của nhiều phân hóa tố.
- Đồng rất cần thiết cho sự hình thành của hồng huyết cầu và chất đệm nhờn ( collagène ) ở mô liên kết,
- Là một protéin được sử dụng trong cấu trúc và sửa chữa mô.
- Rất nhiều chất kích tố chứa chất đồng góp phần trong việc phòng thủ và chống lại những gốc tự do trong cơ thể.
● Acide pantothénique..
Hạt hướng dương rang là nguồn tốt cho acide pantothénique. Còn gọi là vitamine B5.
- Acide pantothénique là một phần của cô đồng diếu tố coenzyme, yếu tố quyết định cho phép ta sử dụng đầy đủ năng lượng lấy từ những thực phẩm tiêu dùng.
- Acide pantophénique cũng tham gia vào nhiều giai đoạn sản xuất những phân hóa tố stéroïdiennes, những chất dẫn truyền ( là một hóa chất dẫn truyền những tín hiệu giữa tế bào với nhau hay khác, đây là ngôn ngữ của hệ thần kinh ) và hồng huyết cầu .
● Vitamine E.
Những hạt và dầu hướng dương là nguồn tuyệt hảo vitamine E, chủ yếu dưới dạng alpha-tocophénol.
- Là chất chống oxy hóa lớn nhất,
- Vitamine E bảo vệ màng chung quanh những tế bào của cơ thể, đặc biệt những hồng huyết cầu và bạch huyết cầu ( tế bào của hệ thống miễn nhiễm système immunitaire ).
● Fer.
Những hạt rang khô, là nguồn nguyên tố Sắt Fe
- Cần thiết cho đàn ông và đàn bà, Sự cần nguyên tố Sắt nhiều hơn ở đàn bà.
- Mỗi tế bào trong cơ thể đều chứa Fe. Nguyên tố khoáng này cần thiết để chuyển vận oxygène và thành lập hồng huyết cầu trong máu.
- Fe cũng giữ vai trò tạo ra tế bào mới, kích thích tố và chất dẫn truyền tín hiệu.
- Fe được ghi nhận chứa trong thực phẫm có nguồn gốc thực vật ( như hạt hướng dương ) ít được hập thu bởi cơ thể hơn Fe trong thực phẫm có nguồn gốc động vật. Việc hấp thu ở thực vật luôn luôn được khuyến khích khi tiêu thụ với một vài chất dinh dưởng nhất định như vitamine C
● Zinc.
Những hạt rang khô, nguồn kẽm tốt. Kẽm :
- Tham gia nhất là vào những phản ứng của hệ miễn nhiễm,
- Sản xuất vật liệu di truyền, tiếp nhận hương vị, làm lành hóa sẹo vết thương, phát triển bào thai.
- Kẽm cũng tương tác với kích thích tố giới tính và  tuyến giáp trạng.
- Trong tuyến tụy tạng, tham gia để chế tạo, dự trữ  và phóng thích insuline
● Vitamine B6.
Hạt hướng dương rang khô nguồn vitamine B6, còn gọi là pyridoxine, vitamine B6 thành phần của cô đồng diếu tố coenzyme
- Tham dự vào biến dưởng protéine và acide béo cũng như sản xuất chất chuyển truyền tín hiệu thần kinh.
- Đồng thời góp phần vào việc sản xuất tế bào hồng huyết cầu và chuyên chở dưởng khí oxygène.
- Pyridoxine cũng cần thiết trong việc chuyển hóa glycogène thành glucose và
- Hoàn hảo chức năng của hệ thống miễn dịch.
Cuối cùng giữ vai trò trong sự thành hình một vài thành phần những tế bào thần kinh.
● Folate.
Hạt hướng dương rang khô, nguồn folate, còn gọi là vitamine B9,
- Tham dự vào sự thành lập tất cả tế bào trong cơ thể, như thể hồng huyết cầu.
- Vitamine này giữ vai trò thiết yếu trong việc sản xuất vật liệu di truyền ADN, ARN ), trong chức năng của hệ thần kinh và hệ miễn nhiễm, cũng như trong việc chữa lành hóa sẹo vết thương và loét.
- Thành lập tế bào mới, tiêu thụ lượng đầy đủ thích hợp là điều quan trọng trong thời kỳ tăng trưởng và để phát triển bào thai.
● Magnésium.
Hạt hướng dương rang khô là nguồn khoáng magnésium.
- Magnésium tham gia phát triển xương, cấu tạo những protéines, hoạt động những kích thích tố, co thắc bấp cơ, sức khỏe răng và hiệu năng của hệ miễn nhiễm.
- Magnésium giữ vai trò trong sự biến dưởng năng lượng và trong sự chuyển truyền tín hiệu thần kinh
● Vitamine B1.
Hạt hướng dương rang khô, nguồn Vitamine B1, gọi là thiamine,
- Là một phần quan trọng của cô đồng diếu tố coenzyme cần thiết cho sự sản xuất năng lượng, chủ yếu từ những glucides tiêu thụ.
- Góp phần vào sự truyền dẫn tín hiệu thần kinh và thúc đẩy tăng trưởng bình thường.
● Vitamine B2.
Hạt hướng dương rang khô, nguồn vitamine B2, còn gọi là riboflavine.
- Cũng như vitamine B1, vit B2 giữ vai trò biến dưởng năng lượng cho tất cả tế bào.
- Ngoài ra , góp phần vào sự phát triển và sửa chữa phục hồi những mô, sản xuất kích thích tố và tạo hồng huyết cầu .
●Vitamine B3.
Hạt hướng dương rang khô nguồn vitamine B3. Cũng được gọi là niacine
- Vitamine B3 tham gia nhiều phản ứng biến dưởng sản xuất năng lượng từ glucide, lipides, protéine và alcool mà ngưòi ta tiêu thụ.
- Vit B3 còn hợp tác trong quá trình thành lập ADN, cho phép tăng trưởng và phát triển bình thường.
Ứng dụng :
- Sốt
- Ho
- Đau dạ dày
- Viêm sưng đường tiểu
- Kiết lỵ
- Đau khớp
- Bị thương
- Da khô Peaux sèches
Theo y học dân gian Việt Nam :
Từ lá, hoa, thân, cành, rễ của cây hướng dương đều được nhân dân ta ứng dụng, chế thành các vị thuốc quý trị nhiều bệnh thông dụng.
Lá hướng dương: dùng 20-40g lá hướng dương, sắc uống để chữa sốt và ức chế tụ khuẩn vàng.
Dùng 30g lá hướng dương khô hoặc 60g lá hướng dương tươi, 30g thổ ngưu tất sắc nước uống thay trà để chữa chứng cao huyết áp.
Lõi thân và cành cây hướng dương: dùng 15-30 g lõi thân và cành cây hướng dương giã nát hãm nước sôi, thêm đường trắng uống trong ngày để chữa ho gà.
Dùng khoảng 1 mét lõi thân cây hướng dương cắt khúc, sắc nước uống ngày 1 thang để chữa sỏi thận, sỏi đường tiết niệu, dùng liên tục trong 1 tuần.
Dùng khoảng 60 cm lõi thân và cành hướng dương, 60 g rễ rau cần cạn, sắc uống ngày 1 thang, liên tục trong nhiều ngày.
Thực phẩm và biến chế :
Dầu hướng dương được chiết xuất từ hạt hướng dương dùng làm dầu ăn rất thông dụng hiện nay, dưới tên gọi dầu tournesol.
Có nhiều loại dầu hướng dương do thành phần tỹ lệ acide béo không no khác nhau. Chính thành phần acide béo không no trong dầu cao nên dầu trở thành loại dầu và mỡ thực vật tốt cho sức khỏe, nhất là đối với những người mắc chứng tim mạch.
Trong kỹ nghệ người ta chế biến thành diesel, chi phí rẽ hơn những loại dầu khác, còn trong giai đoạn nghiên cứu nhiều vấn đề ……
Giai thoại :
Những bông hoa đang ở giai đoạn nụ, chưa trưởng thành thì biểu lộ tập tính hướng dương (hướng theo Mặt Trời) của loài cây này. Khi mặt trời mọc vào buổi sáng, phần lớn hoa hướng về phía đông. Theo hành trình của một ngày, vào những ngày nhiều nắng, các nụ hoa theo hành trình của Mặt Trời di chuyển từ đông sang tây, thời gian ban đêm nó lại trở về hướng đông.
Sự vận động thực hiện bằng những tế bào vận động trong thân, một đoạn mềm dẻo của cuống ở vị trí thấp hơn nụ hoa lúc đó hoa có tính quang hướng động thuận cuống hoa có thể xoay chuyển được..
Khi giai đoạn chồi kết thúc thì cuống hoa bị cứng lại, và khi hoa nở thì nó không còn tính hướng dương nữa, cho dù nhiều bông hoa quay về hướng đông.
Hướng dương hoang dã không quay theo hướng mặt trời. Cụm hoa đầu của nó hướng về bất cứ hướng nào khi trưởng thành. Nhưng những chiếc lá có biểu lộ một số tính hướng dương.


Nguyễn thanh Vân

jeudi 14 juillet 2011

Cây bạch dương - Peuplier


Peuplier
Bạch dương
Populus nigra L.
Salicaceae
Đại cương :
Cây bạch dương đen ( populus nigra ), còn được gọi là Liard, iardier, Piboule, Peuplier franc, Peuplier suisse, Bouillard, Bioulasse, là một cây thuộc họ salicaceae ;
Bạch dương đen Italie, Bạch dương đen hay Bạch dương Italie.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Cây Bạch dương được trồng hoặc hoang lan tràn khắp phần lớn Âu Châu, Bắc Phi và  vùng Á Châu ôn đới.
Phân phối
Âu Châu, Tây Á. Có nguồn gốc ở hoàn cảnh khí hậu Địa trung hải, với biên độ rộng. Chịu được khí hậu lạnh mùa đông.
Mô tả thực vật :

Cây Bạch dương đen là một đại mộc có thể đạt tới 30 đến 35 m cao và thời gian sống rất quan trọng ( 200 năm, theo tài liệu khoảng 400 năm ở những cây lâu năm ).
Hình dáng thay đổi tủy theo bối cảnh môi trường sống, đặc biệt ở những cây tăng trưởng một mình và cô lập trong vườn, hàng rào ( thân dạng dài cao và thẳng, hình chùy ) hay những môi trường cây cần điều kiện sống nên phát triển cành lá thích ứng để tìm ánh sáng cho quang tổng hợp, nên có dạng biến đổi không hình chùy như những cây mọc ven rừng.
Thân mộc cứng dạng vành vòng không đều và sắp sếp đều, thân lớn màu nâu sẫm với những nốt phình to; thân cành láng mịn, màu vàng nhạt, biến thành màu xám nhạt, với những chồi mang nhiều vảy bên ngoài.
Vỏ thân màu nâu và đầu tiên lớp nội bì thô và có những đường nứt dọc sâu, dầy theo tuổi. Trên những cây cổ thụ lớp vỏ tạo thành một mạng hình dạng dể nhận.
Lá : Lá hình bầu dục đến dạng tam giác, bìa có răng mịn, cuống lá dài cụt ngắn hay mãnh gốc dưới, lá hình tam giác hơi đều giữa chiều dài và rộng, đầu nhọn, ven bìa có răng cưa nhỏ.
Cuống lá phẳng theo chiều dọc .
Mặt trên lá màu xanh đậm bóng, mặt dưới xanh sáng, mịn ở 2 mặt.
Cuống lá : khoảng 30 mm, phẳng.
Hoa : Phát hoa « đuôi mè chaton » nhiều hoa họp lại, 10 đến 15 cm, phát hoa thòng lủng lẳng, Chaton đực không cuống, màu đỏ son, chaton cái có cuống, màu xanh vàng nhạt.
Hoa biệt chu, treo lủng lẳng trước lá, phát hoa vào tháng 3 và tháng 4.
Cây đạt trường thành hệ sinh dục khoảng 6 năm và cho ra hạt bông gòn, kỵ nước.
- Hoa đực, dài khoảng 8 đến 10 cm, khi trưởng thành màu đỏ, tiểu nhụy đỏ.
- Hoa cái ngắn hơn dài khoảng 6 – 8 cm khi trưỏng thành, xanh nhạt.
Trái : Trái chín khoảng 6 đế 8 tuần lễ sau khi phóng thích hạt phấn.
Nang, hình trứng kết thành chuỗi phóng thích những bông gòn mang những hạt. Nang « loculicide mỗi nang tự mở ra ở tâm bì của nó » trong một chuỗi viên nang. Gọi là « hạt bông gòn ».
Bộ phận sử dụng :
Lá, cây, chồi
Thành phần hóa học và dược chất :
- Tinh dầu
- Dẫn xuất flavonoïque
- Hétérosides của nhóm của salicoside ( glucoside của alcool salicylique - tiền chất chuyển hóa thành chất saligénine đoạn thành salicylique )
- Populine.( tìm trong lá và vỏ bạch dương ) còn gọi là benzoylsalicoside.
Đặc tính trị liệu :
Rất nhiều đặc tính trị liệu được biết về chồi của cây bạch dương peuplier lưu truyền từ những gomme nhựa cây mà những con ong lấy từ chồi cây bạch dương peuplier. Nó chủ yếu tẩy rửa sạch tự nhiên hệ thống tuần hoàn trong cơ thể.
Những chồi peuplier đã được cho là có tác dụng bổ dưởng và chống lại chứng phong thấp.
Đồng thời cũng là chất sát trùng :
- viêm phế quản
- viêm khớp.
- đầy hơi ( météorisme )
- viêm sưng những đường niệu tiết ( đường tiểu tiện ).
- viêm bàng quang ( cystite ).
- viêm thận ( néphrite ).
- sốt
- đau nhức tứ chi ( courbatures ).
- vết nứt ( gerçure ),
- ghẻ ( dartres ),
- phỏng
- và chăm sóc tóc.
Chồi tác dụng :
- lợi tiểu,
- làm tăng sự bài tiết acde urique trong nước tiểu
- và sát trùng.
Lá bạch dương dùng tương tự như vỏ cây bạch liễu Saule.
- loại nước trong khớp ( một công dụng loại bỏ lượng nước hay muối du thừa trong khớp xương ).
Tinh dầu được pha loãng được dùng trong y học truyền thống để chữa trị những bệnh về phế quản.
Chủ trị - chỉ định :
● Dùng trong cơ thể, uống :
Theo truyền thống sử dụng trong những bệnh thuộc phế quản cấp tính lành tính ( bénignes ).
● Dùng bên ngoài chính xác nơi đau : ( usage local )
- Theo truyền thống dùng ngay nơi đau như điều trị hỗ trợ làm mềm và chống sự ngứa những bệnh về da, chẳng hạn như bảo vệ dinh dưỡng.
Ứng dụng :
● Bằng cách nấu sắc : nấu 25 gr / lít, dùng 3 tách / ngày giữa bữa ăn.
● Bằng đun ngâm : Ngâm 20 gr chồi búp trong 1 lít nước sôi, để trong 10 phút, uống 3 tách / ngày trong vòng 3 tuần lễ.
● Tinh dầu bạch dương đen ( peuplier noir ) , ngâm 400 gr chồi nụ được nghiền nát trong nồi chưng cách thủy, để trên những vết nứt ( gerçures ).
- Dùng thuốc cổ truyền trường bệnh viêm phế quả và chứng sưng khí quản ( trachéites ).
- Những chồi nụ được dùng để loại acide urique :
Đun sôi trong 15 phút với lửa rất nhỏ - Ngâm trong 1 đêm - Lọc vào buổi sang - Uống trong ngày đến ngày mai, 2 tuần / tháng.
Than thực vật :
Cây được sử dụng chế biến than ( charbon actif ), rất tốt cho việc:
- hấp thu absorbant
- và hấp thụ adsorbant;
- sử dụng để chữa trị những chứng rối loạn khác của hệ tiêu hóa.
► Dùng ngoài cơ thể :
Để thấm nước và khử mùi ở những vết thương tính chất không tốt chảy nước hôi.
► Dùng trong nội tạng :
Cho những bệnh liên hệ dạ dày-ruột với những:
- chứng tiêu chảy tanh hôi nặng mùi,
- giải độc một số trường hợp trúng độc ( lưu huỳnh ( phosphore ), arsenic, thủy ngân ( mercure ), chì ( plomb ), chloral, digitaline, morphine, mả tiền ( strychnine )


Nguyễn thanh Vân

mercredi 13 juillet 2011

Hành tây - Oignon

Oignon
Hành tây
Allium cepa L.
Alliaceae

 Đại cương :

Hành oignon người ta đã biết từ thời cổ xưa. Nó bắt nguồn, không nghi ngờ, từ loài hoang dại ở Trung Á. Hành được đánh giá cao ở người Ai Cập, Hy Lạp, người Gaulois và người cổ La Mả, không ngừng sử dụng.

Hành tây oignon ( Allium cepa ) là loài thực vật thân thảo đa niên hai năm, bởi thân củ ngầm dưới đất thuộc họ Liliaceae. Hành tây được trồng như vườn rau quả để lấy củ có hương vị nồng cay và lấy lá. Củ được xem như rau quả.

 Thực vật và môi trường :

Nguồn gốc : Trồng ở Trung Đông từ ngàn năm .
Mô tả thực vật :
Loại rau đậu này là một cây có một củ duy nhất, có dạng hình cầu. Phát triển thành lá hình ống rổng có mùi vị nồng khi ta nghiền nát.
* Hoa có thể đạt đến 1 thước cao, trổ hoa vào năm thứ hai, hoa có dạng hoa đầu to gồm nhiều dạng ngôi sao trắng họp lại. Hoa đầu gắn ở đỉnh thân hoa.
Mỗi hoa nhỏ đối xứng 3, 3 cánh hoa, 3 đài hoa, 6 tiểu nhụy. Một bầu noản chia 3 tầm bì .
* Cây thân thảo một năm hay hai năm.
* Lá hình ống, màu xanh, rỗng .
* Phát hoa trắng chùm tán hình cầu hay màu tím lúc ban đầu được bao bởi một màng « lá bẹ hình mo ». Cọng hoa, còn gọi là thân hoa rỗng và phình ra ở phía dưới.
Giống cây trồng nhiều, dạng và kích thước của củ thay đổi tùy theo thứ ( trong phân loại được chia theo thứ tự GIỐNG ( genre ), LOÀI ( spèces ), THỨ ( variété ). Ở đây Hành cùng giống cùng loài nhưng tùy theo thứ mà có sự thay đổi.
* Củ hành tương đối lớn, dạng hình cầu đôi khi ít hay nhiều hơi dạng phẳng.
* Trái là nang, mở ra bởi 3 mảnh, thường thường phóng thích ra 2 hạt.
Ở một vài « thứ », cho ra những nụ mọc ở nách lá thay vì phát triển ra hoa. Ở những loại cây này, cho ra củ ( bulbe ) để thực hiện tái sinh ra cây khác.
Bộ phận sử dụng :

Lá, củ

Thành phần hóa học và dược chất :

- Fructanes thấp ở mức độ trùng hợp.

- Các hợp chất có  lưu huỳnh có gốc từ cystéine ( alkyl- và alcénylcystéines ), bị suy thoái bởi phân hóa tố alliinase thành acide pyruviquealkylthiosulfinates, chính chất này biến thành một loạt chất disulfures : cépaènes và zwiebelanes.  

- Flavonoïdes : quercétine- Prostaglandines

alliine
fructosane
flavonoïde
cépaline (trong vỏ)

Oignon sống
Valeur nutritionnelle moyenne
pour 100 g
Apport énergétique
34 kcal
Thành phần chánh
89 g
7,1 g
1,3 g
0,2 g
2,1 g
0,17 mg
25 mg
25 mg
0,001 mg
0,013 mg
0,05 mg
0,3 mg
0,04 mg
0,002 mg
10 mg
0,15 mg
0,002 mg
33 mg
170 mg
0,003 mg
6 mg
50 mg
0,2 mg
Sinh tố Vitamines
0,01 mg
0,06 mg
0,02 mg
0,3 mg
0,11 mg
0,14 mg
0,02 mg
7 mg
0,14 mg

 Đặc tính trị liệu :

- Lợi tiểu

- Kháng khuẩn thực hiện trong phòng thí nghiệm.

- Hạ đường máu.

- Chống hen suyễn và long đờm.

- Chống sự sung huyết vùng chậu. ( Décongestionnant pelvien )

- Chống sự kết tập huyết cầu và làm tan sợi huyết và cục máu trong mạch bởi sự ức chế chất diếu tố lipoxygénase và cyclo-oxygénase,

- Chất quercétine ức chế quá trình những LDL.

Cũng như tỏi ( cùng họ ), oignon làm tan acide urique (đây là căn nguyên của bệnh goutte đã tác động vào thận và khớp xương…) và chống lại sự viêm nhiễm nhờ những muối sodium Napotassium Ka, biến máu trở nên kiềm ( alkalinisant le sang ).
Oignon - nhất là oignon đỏ - giúp ngừa chứng loãng xương, nhờ hàm lượng chất quercétine, chất chống oxy hóa nhóm gia đình của những chất polyphénols, có hoạt năng cao hơn những chất isoflavones.
Những hiệu nghiệm chánh khác là :
  • Sự tiêu trừ chứng phù thũng sũng nước, là một sự tích lũy bất thường của dịch huyết thanh trong cơ thể, thường xảy ra ở bụng.
  • Hạn chế sự xâm nhập của dịch huyết thanh trong các cơ quan, đưa đến hậu quả phù thũng ( oedèmes ).
  • Hiệu quả đã được chứng minh trên hệ thống niệu tiết và trên tuyến tiền liệt : sự chuyển vận bài tiết tốt, hạn chế những sự viêm nhiễm.
Hơn nữa hành còn chứa :
- Phosphore ( như trong cá ) « tạo điều kiện dể dàng » cho não hoạt động.
- Silic, tốt cho động mạch và tạo dể dàng để cố định ngưng kết calcium trong xương .
- Không kể đến những vitamine A, B, C, thêm nữa lưu huỳnh S, sắt Fe, iode I, potassium K, và muối Na…   
- Chống loại những bệnh do vi trùng gây ra.

- Chống dị ứng,

- Chống lại sự xâm nhập những chất histamine vào cơ thể gây phản ứng của hệ thống miễn dịch gặp một acide amine lạ hay nhiều nguyên nhân khác, như dị ứng và nỗi mề đay …

- Hạ chất béo trong máu ( lipide )

- Viêm mũi do dị ứng ( dị ứng phấn hoa hoặc bụi ) hay nhiễm trùng.

Trong y học dược thảo liệu pháp, hành tây có nhiều đặc tính y học. Hành tây ngăn ngừa những bệnh phong thấp và viêm sưng mắt và những đường hô hấp phía trên.

Trong vi lượng đồng căn liệu pháp, hành tây chủ yếu qui định đối với một vài chứng cảm cúm kèm theo ho và chảy nước mũi. Những triệu chứng đi kèm đầu nặng, cơ thể nóng bừng, lỗ tai nghẹt, mắt bị kích ứng và nhạy cãm với ánh sáng.

- Đồng thời củ hành tây có thể ngăn ngừa chống lại cúm do dị ứng do phấn hoa hoặc bụi ( rhume des foins ).

 Chủ trị của hành tây :

Dùng trong nội tạng ::
Vấn đề tiêu hóa ( khó tiêu,….), cholestérol.
Dùng ngoài da ( hành tây cắt làm đôi đắp trực tiếp lên da ) chữa trị :
- Những dị ứng khác nhau trên da.
- Côn trùng chích.
- Vết thương.
- Ho.

 Ứng dụng :

- Nên dùng hằng ngày cho những người mắc bệnh tiểu đường và ngăn ngừa những chứng bệnh về tim-mạch.

- Dùng ngoài da trong những trường hợp :

* Chứng nhọt đầu đinh ( furoncles )

* Chứng nhọt mọc chùm hay quần đinh ( anthrax )

* Chứng nhọt mọc đầu ngón tay hay chứng sưng ngôn ( panaris ).

* Đau lỗ tai ( củ hành tây cắt làm 2 và để nhanh vào four )

 Chứng sổ nước mũi hay niêm mạc viêm, nhất là trên bình diện mắt, mũi và thanh quản ; đau dây thần kinh ; tình trạng thường gia tăng bởi không khí nóng.

 Đầu: (Allium cepa)

Đau âm ỉ ở nơi màng tang thái dương và trán

 Mắt: (Allium cepa)

Đau trong mắt, như là treo ở đầu sợi dây.

Viêm sưng cấp tính, với nước mắt tuôn trào thường xuyên và nóng nhiều. Sợ ánh sáng.

 Mũi: (Allium cepa)

Sổ mũi cấp tính, với những cơn nhảy mũi dữ dội ( ách xì ). Đặc biệt là hít thở sâu, dồi dào, nước mũi chảy ra như nước, tuôn ra và đau đầu.

Cổ họng : (Allium cepa)

Đau cổ, đôi khi lan rộng đến lỗ tai.

Chứng chảy nước mũi viêm sưng, với một cảm giác có sự co giản vùng tiểu thiệt ( épiglotte )

 Bụng : (Allium cepa)

Đầy hơi ; đau ở vùng hạ vị ( hypogastrique ), luồng đau mảnh như sợi căng đi lên và xuống .

 Cơ quan niệu tiết : (Allium cepa)

Nước tiểu tiết thường xuyên, dồi dào, màu đỏ ; đi tiểu thường xuyên và nóng.

Cơ quan hô hấp : (Allium cepa)

Viêm thanh quản cấp tính, với giọng nói khàn khàn, và đau khi ho, như thanh quản cổ họng bị xé ra.

Sốt: (Allium cepa)

Đẩy mạnh cơn sốt từng hồi không đều ( phối hợp với triệu chứng viêm nước mũi cấp tính )

 Phản ứng xấu và phụ :

Dùng với lượng quá nhiều, có thể gây ra :·         Kích ứng ở những cơ hệ hô hấp và kết mạc.·         Sổ mũi thường xuyên, bắt đầu bởi một số nhảy mũi hắc hơi, tiếp theo nước mũi chảy ra nhiều, nóng, kích ứng môi trên và chung quanh lỗ mũi nơi « như có ngọn nến đầu lỗ mũi ». Song song nước mắt từ từ chảy ra .·         Ho giọng khàn khàn với sự co thắc đau ở đầu thanh quản như thanh quản bụ trầy làm cho người bệnh cảm giác sợ ho.·         Đau bụng đầy hơi ( đau bụng + gaz ) ở mực độ trong ruột.·         Viêm nhiễm hệ thần kinh cảm giác nhất là ở mặt hay thần kinh bị tổn thương hay bị cắt đứt.
 Giai thoại :
Cắt củ hành ( củ hay lá của những cây cùng họ ) gây cho ta nước mắt chảy tuôn quan trọng, nguyên nhân phân tử bốc hơi, rất kích ứng vào mắt.
Hành tây chứa một tiền chất, là 1-propényl-L-cystéinêsulfoxyde, chất này chứa trong tế bào chất tế bào hành tây. Khi người ta cắt củ hành ra , màng tế bào bị vỡ ra và tiền chất này gặp một phân hóa tố : alliinase, chứa trong những thủy thể của tế bào.
Phân hóa tố này sẽ thủy giải tiền chất và cho ra nhiều dạng chất khác nhau, như là phân tử 1-propénylsulphénique. Chất này ngưng tự tự nhiên để hợp thành chất thiosulfinate, phân tử tạo ra hương vị và mùi nồng hôi của hành tây.
Nhưng hành tây có chứa một phân hóa tố khác, người ta gọi là Lacrymal Factor synthase, biến đổi chất acide 1-propénylsulphénique thành phân tử propanethial-S-oxyde, phân tử này bốc hơi gây sự kích ứng cho mắt.
Hương vị của hành tây chủ yếu do chất alliinase, trong thân hành, vậy thì hiệu ứng chảy nước mắt là do phân hóa tố L.F.synthase. Có nghĩa là không phải khóc, có thể giữ được hương vị của hành tây. Phản ứng sản xuất tác nhân gây ra chảy nước mắt là để trong một nhiệt độ tối hảo, người ta có thể làm lạnh hay hâm nóng hành tây để giãm, tránh chảy nước mắt.
Hành tây là một loại rau đậu và một gia vị. Hành tây có thể ăn sống hay nấu chín, hay trộn dầu dấm. Những lá hành tây non là một hương liệu đôi khi người ta cũng dùng.


Nguyễn thanh Vân

mardi 12 juillet 2011

Bạch liễu - Saule blanc

Saule blanc
Bạch liễu
Salix alba L và Salix purpurea L
Salicaceae
Đại cương :
Saule blanc tên gọi cây bạch liễu, còn gọi là saule thường, saule bạc, osier blanc hay đôi khi còn gọi là saule viviers ( Salix alba L. ) la một cây có họ Salicaceae.
Cây này thường gặp những vùng ôn đới được trồng dưới dạng «  con nòng nọc » tức là dạng đầu lớn, tàng lá rộng.
Hiện nay thường thấy 2 loại liễu, một là loại thường hay bạch liễu Salix alba L. và liễu «  buồn » hay « liễu rủ ». Liễu rủ có tên Salix alba « tristis » do sự giao-ghép giữa Saule blanc và saule « pleureur thật » Salix babylonica.
Cây này thường trồng ở Québec để làm đẹp thành phố.
Bộ phận sử dụng :
- Dùng lá và hoa
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Thường trong những vùng ẩm tất cả Âu Châu.
Mô tả thực vật :
Cơ quan dinh dưởng :
Bạch liễu thuộc nhóm đại mộc có thể đạt tới 25 m chiều cao. Thân thẳng và cao và tán chụp dựng lên, trừ trường hợp đầu tán và kích thước dạng con nòng nọc tức tán rộng to.
Nhánh non có màu xanh lá cây tươi hay xanh nâu nhạt và cứng không rủ.
Lá, mọc xen kẻ, cuống lá ngắn, lá rụng, dài 5 đến 12 cm, lá nguyên, hình mũi giáo, hẹp, rát mảnh và có răng cưa mịn ở bìa lá.
Tô màu bạc hiện diện cã 2 mặt của lá nhất là mặt dưới lá trắng và sáng.
Cơ quan sinh dục :
Saule là cây biệt chu, cơ quan đực và cái khác nhau. Mỗi cơ quan hiện diện những phát hoa hình đuôi chổn hoặc phát hoa đực hoặc phát hoa cái, mang trên những cuống hoa khác nhau.
Hoa đực hay hoa cái có đĩa mật bao trước tương đương như bao hoa và được che chở bởi một lá bắc.
Những hoa đực gồm có 2 nhụy đực, màu vàng, những hoa cái chĩ một bầu noản, một núm và  2 tâm bì màu xanh.
Quả : nang thuông dài, mịn, một buồng mở ra bởi 2 van. Quả chứa nhiều hạt mang nhiều lông mịn.
Thành phần hóa học và dược chất :
- Salicylates ( 1,5 đến 11 % ), dẩn từ flavoniques và hétérodiques của nhóm salicoside ( = salicine, glucoside của alcool salicylique ), salicortine, fragiline, populine,saliréposide, trémulacines.
- Thành phần phénoliques ( glucosides de phénols và acide phénols ) : triandrine, vimaline và những dẫn chất mùi (dérivés aromatiques), saligénine (= alcool salicylique) aldéhyde syringique, acide salicylique, p-hydroxybenzoïque, caféique, férulique, p-coumarique
- Flavonoïdes : hétérosides du quercétol, lutéoline, ériodictyol, naringénine, ampélopsine (flavanolol) và isosalipurpuroside (chalcone)
- Tanins : proanthocyanidols dimère (2 phân tử giống nhau ) và trimères ( 3 phân tử giống nhau ) (8 đến 20 % ).
Đặc tính trị liệu :
- Chống sự viêm sưng, chống chứng phong thấp.
- Chứng tê không cảm giác, hạ sốt.
- Xác trùng
- Giống như aspirine, acide salicylique ngăn cản ức chế phân hóa tố cyclo-oxygénase, giãm sự tổng hợp sinh học của những prostaglandines E1 và E2, nhưng ít hơn trên sự tổng hợp thromboxane A2, sự việc này làm cho bớt sự chống lại sự kết tập tiểu cầu ( anti agrégant plaquettaire ).
- Những đặc tính chống sự viêm sưng, liên hệ đến acide salicylique nó được thành lập bởi sự oxy hóa trong gan ( intra hépatique ) của alcool salicylique ( saligénine ), nguồn gốc tự nó đã có.
Trên bình diện hệ tiêu hóa, sự thủy giải salicoside có sẳn hay do sự suy thoái từ từ của salicortrine ( tiền chất của acide salicylique ), hấp thụ từ 85 % hay hơn. Sự hấp thu chậm do sự hiện diện của populine và trémulacine.
- Phát hoa đuôi chồn có những đặc tính trị liệu chống sự co thắc ( hệ tiêu hóa ) và dịu đau trấn thống hệ thần kinh.  
Ứng dụng :
Vỏ cây saule chứa một tiền chất của aspirine, nó cần thiết cho chứng mất ngủ, hưng phấn kích thích và sốt cúm. Đồng thời chữa trị chứng phong thấp.
Dùng ngoài cơ thể : Chứng sần da ( hồng ban chẩn Erythème ), chai ngón ( cors), chai da ( durillon ), vết thương, loét tĩnh mạch.
Dùng đun ngâm : Đun sôi 1 muỗng ăn tráng miệng vỏ  cây saule trong một tách nước, ngâm trong 10 phút ; uống 3 tách / ngày.
Dùng vải compresses và rửa với nước nấu 100 gr vỏ trong 1 lít nước, nấu sôi 3 phút ( tính bắt đầu từ lúc sôi ) đoạn ngâm trong 15 phút.
Phản ứng xấu và phụ :
- Chống chỉ định đối với đàn bà có thai
- và trường hợp AVK ( Anti-vitamine K )


Nguyễn thanh Vân