Tâm sự

Tâm sự

jeudi 9 février 2017

Hoa Hồng Giáng sinh - Rose de Noël

Herbe aux fous - Rose de Noel
Điên thảo
Helleborus niger-L.
Ranumculaceae
Đại cương :
Đồng nghĩa :
Danh pháp thường dùng bao gồm : Cỏ Christe, Rose de Noël, Melampode, hélébore noir, và rose de Pâques.
Ở những nước như : finlandais : jouluruusu, suédois : Julros, Đức allemand : Schwarze Nieswurz, Christrose, Pháp : Hellébore noir, Rose de Noel, Ý italien : Elleboro nero, Fava di lupo, Rosa Di Natale, Việt Nam được gọi là Hoa Hồng Noël, Cây Hoa Hồng Giáng sinh, do thời điểm của sự trổ hoa và cũng được gọi là Cây Điên thảo do đặc tích chữa trị của Cây.
Danh pháp khoa học của giống Helleborus được dẫn xuất từ tiếng Hy lạp “ Elein ” nghĩa là vết thương blesser và “ bora ”  nghĩa là thực phẩm dinh dưởng nourriture.
Cây có nguồn gốc của những vùng núi của trung và miền nam Âu Châu, Hy lạp và Tiểu Á, và được trồng trong một phần lớn của những nước này như là một Cây trong vườn.
Cây cung cấp cho những căn hành rhizome được sấy khô, từ đó thuốc được chế biến, cho đến nay vẫn còn chủ yếu từ Đức. Hai loài liên hệ là loài bản địa trong nước này, nhưng loài này không phát triển hoang nơi đây.
Hoa lớn hình thành những chén trắng hay màu hồng xuất hiện ở khoảng giữa Giáng sinh Noël và Phục sinh Pâques, tùy theo khí hậu. Hơi chậm để được thành lập, nhưng cũng chờ đợi đáng kể, thật sự là một viên ngọc cho những vườn Cây và cũng không khó khăn để trồng như những người tưởng tượng.
Cây là loại sống lâu năm rất khỏe, nó phát triển trong tự nhiên thành những bụi, nơi đây có những dây leo chằng chịt và những đồng cỏ trên vùng núi.
Cây phát triển thành những chùm nhỏ gọn, đạt khoảng 30 đến 45 cm cao. Nó  có thể chống lại sự đóng băng dưới tuyết khoảng -15 ° C  và trổ hoa dưới tuyết neige.
Phát triển trong phạm vi rừng dốc của trung và đông dảy núi Alpes giữa 300 và 1800 m độ cao so với mực nước biển trong địa hình đất đá vôì. Cây trổ hoa vào mùa xuân sau khi tuyết tan.
Cây Hoa Hồng Giáng sinh thích bóng râm, thường sống dưới những Cây tiểu mọc rụng lá. 
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân thảo bụi nhỏ sống lâu năm, có một rễ hoặc căn hành đen, có thể đạt đến 35 cm cao, có củ, có những vảy theo chiều dọc, màu trắng nhạt bên trong và cho ra nhiều xơ dài, nạt thịt, màu vàng nâu trở nên đậm hơn khi được xấy khô.
Trong môi trường thiên nhiên, những hoa của Cây Noël màu hồng trổ vào khoảng tháng 11 đến tháng 4, vào thời điểm này tuyết rơi để những mở cho những thực vật đầu tiên của mùa xuân phát triển, mỗi nhóm sản xuất ra những nhóm 2 hoặc 3 hoa lớn cuối đầu xuống.
Cuối mùa trổ hoa, một phần của lá già chết ( cho chỉ 1 năm ) và lá mới mọc ra. Cũng như những nụ hoa mới hình thành trong một thời gian ngắn tăng trưởng. Mùa tăng trưởng của Noël màu hồng là ngắn khoảng 4 đến 5 tháng.
, lớn, mọc ở gốc, trên những thân hình trụ từ 10 đến 20 cm dài, có những thùy tõa ra, lá kép 5 hình trái tim bầu dục, lá nguyên  và không đều nhau bên dưới, và có răng to ở đỉnh, gồm mỗi thùy tia sâu chia thành hình chân vịt như một bàn tay có chung một điểm, màu xanh đậm mặt trên và nhạt hơn và có như mạng lưới mặt bên dưới. Cuống hoa ngắn hơn cuống lá, 1 hoặc 2 hoa với những lá bắc rách nát ngay dưới đài hoa cao 12 hoặc 25 cm.
Phát hoa : tụ tán cyme kích thước khoảng từ 5 đến 8 ( 12 ) cm đường kính, lưỡng phái hermaphrodite, thụ phấn nhờ côn trùng entomogame Cây cho những mật cho ong  mellifère.
Hoa đơn độc ở ngọn, hoa lớn màu trắng đôi trở nên màu hồng đậm ở cuối thời kỳ trổ hoa., thấy rỏ, mang trên một cuống có những đốm đỏ ( ngâm trong màu hồng )..
Những hoa có 5 tépales, có nghĩa là đài hoa và cánh hoa giống nhau.
- Đài hoa gồm có 5 lá đài rộng, hình bầu dục hoặc tròn, ban đầu trắng, sau đó biến thành màu hồng, cuối cùng trở nên màu xanh lá cây nhạt.
- Cánh hoa, nhỏ, màu xanh vàng nhạt, hình ống, ngắn hơn những tiểu nhụy, nghiên về bên dưới.
- Tiểu nhụy, hiển thị rõ ràng, nhiều, bao phấn, những 8-10 bên ngoài biến đổi thành tiểu nhụy không thụ staminoïdes.
- Nhụy cái, thường 3-4, vòi nhụy thẳng, mảnh mai.
Trái, nang,
Hạt :
những hạt có một mồng éléosome là một nạt thịt gắn liền với hạt và được phát tán bởi những loài kiến.
Bộ phận sử dụng :
Rễ và căn hành.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Hai (2) tinh thể glucosides :
- Helleborin,
- và helleborcin,
hai (2) chất độc  mạnh.
Helleborin có vị nóng cháy và chát và gây mê narcotique,
Helleborcin có một vị ngọt và là một chất độc cho tim poison cardiaque hoạt động rất mạnh, tương tự như trong những hiệu quả của Cây lồng đèn digitalis và một chất tẩy xổ cực mạnh purgative drastique.
▪ Thành phần khác là :
-  chất nhựa chát résine acre,
- chất dầu béo huile graisse,
- và tinh bột amidon.
nhưng không có chất tannin nào hiện diện.
Người ta nói rằng Helleborus viridis sản xuất một héléboreine hoạt động mạnh hơn Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger;
Trong cùng một cây sản xuất một số lượng lớn helleborine (0,04 phần trăm ).
Helleborein đã được phát hiện trong năm 1864 bởi Husemann và Marmé (Ann. Chem. Pharm., Vol. CXXXV, page 55).
Những tác giả khác cũng nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về thành phần helleborine phát hiện trong năm 1853 bởi Bastick (Pharm. Jour. Trans.).
Cả 2 chất đã được nghiên cứu cẫn thận tất cả gần đây bởi K. Thaeter (Archiv der Pharm., 1898, pages 414-424).
Cả 2 chất được phân lập từ rễ Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger được thực hiện bởi hành vi trái ngược đối với nước và éther, như là :
- chất héléboreine được hòa tan tự do trong nước, nhưng không hòa tan trong éther,
- trong khi chất heléborine là không hòa tan trong nước và tan trong éther.
● Helleboreine, kết tinh từ alcool tuyệt đối trong dạng kim nhỏ nhuyển, không dễ hút ẫm khi nó được tinh khiết.
Nó có một hương vị ngọt, và trong những đặc tính của túi bột làm hắc hơi sternutatory.
Sự hòa tan trong nước của nó được kết tủa bởi nitrate mercurieux, của acide tannique, …v…v...
Khi đun sôi với acides pha loãng, nó phân hủy thành đường và những mảnh vụn màu xanh đậm của hélicoptérine, không hòa tan trong nước và éther, nhưng hòa tan trong alcool cho một màu xanh tim violette (Husemann và Marmé).
K. Thaeter đã thiết lập định lượng cơ chế của phản ứng nầy trong đó hình thành 2 phân tử molécules của dextrose và 3 phân tử của acide acétique, phhương trình là như sau :
C37H56O18 (helleborein) + 5H2O = C19H30O5. (Hétéroborétine) + 2C6H12O6 + 3C2H4O2.
Thành phần helleborétine là thường xuyên chống lại với những acides loãng nóng, va là một thành viên của nhóm  chất béo của hợp chất hữu cơ composés organiques.
Acide nitrique đậm đặc sản xuất với héléborétine một màu tím đặc trưng, sau khi pha loãng với nước, là vĩnh viễn trong một thời gian nhất định.
Cũng như, hình thành những mảnh vụn mà xanh dương khi được đun sôi với acides và phản ứng màu tiếp theo sau với acide nitrique có thể phục vụ như một thử nghiệm đặc trưng cho héléboreine.
● Helleborin
K. Thaeter xác định tất cả những đặc tính tìm thấy bởi Husemann và Marmé cho chất này, ngoại trừ công thức của nó, trong đó ông tìm thây (C6H10O) n, trong khi những tiền nhiệm của ông đã đến với công thức C36H42O6.
Chất này hình thành những tinh thể hình kim trắng, không mùi, và không vị, nhưng trong một dung dịch alcoolique nó truyền đạt một hương vị chát.
Nó không hòa tan trong nước lạnh, khá hoà tan trong alcool và chloroforme. Một đun sôi kéo dài với những acides pha loãng phân hủy nó thành đường và thành hélicoptérine (C30H38O4). Helleborine cho một màu  đỏ tím đặc trưng với acide sulfurique đậm đặc.
Khi người ta cho vào trong nước, những mảnh vụn màu trắng được kết tủa.
Đặc tính trị liệu :
Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger là thực vật rất độc toxique độc hại khi người ta dùng trong tất cả những liều lượng, ngoại trừ với những liều lượng nhỏ nhất. Như vậy nó không nên dùng ngoại trừ dưới sự giám sát của người chuyên môn lo sức khỏe có khả năng thật sự.
▪ Cây chứa những glycosides tim cardiaques có những hành động tương tự với Cây foxglove (Digitalis spp) và nó được sử dụng như :
- kích thích tim stimulant cardiaque cho những người cao tuổi âgées,
mặc dù chữa trị này không được đề xuất.
Rễ Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger là :
- diệt trùng giun antihelmintique,
- tim mạch cardiaque,
- thuốc tẩy cathartique,
- lợi tiểu diurétique,
- nôn mữa émétique,
- dịu đau trấn thống điều kinh emmenagogue,
- chất kích thích irritante,
- chất gây mê rất mạnh violemment narcotique
- và tẩy xổ mạnh purgative drastique.
▪ Cây Hoa Hồng Giáng sinh được thu hoạch vào mùa thu và sấy khô để sử dụng về sau.
▪ Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger đã được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh thủng nước cổ chướng hydropisie,
- vô kinh aménorrhée,
- những rối loạn thần kinh troubles nerveux,
- và loạn thần kinh hystérie,
nhưng nó rất độc hại toxique và một chăm sóc cẫn thận phải được thực hiện trên những liều lượng posologie.
Rễ Cây Điên thảo Helleborus niger cũng được áp dụng bên ngoài cơ thể như :
- kích ứng cục bộ irritant local,
nhưng ngay cả điều này phải thực hiện một cách cẫn thận, ( xem phần độc tính bên dưới ). Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique được thực hiện từ rễ .
▪ Cây Điên thảo Helleborus niger được sử dụng trong chữa trị :
- đau đầu maux de tête,
- rối loạn tâm lý troubles psychiques,
- viêm ruột entérite,
- và co thắt spasmes.
● Lợi ích cho sức khỏe của Cây Điên thảo Hellebore
▪ Tẩy xổ Purgative :
Khi mà người ta buộc phải bài tiết ra, dường như không cái gì đó mà người ta không muốn làm, có một số tình huống nhất định nơi đây làm rỗng dạ dày của người là điều tốt nhất cho con người, trong đặc biệt nếu người ta tiêu thụ một cái gì độc hại toxique trong một số lượng quá lớn.
Một tẩy xổ purgatif (laxatif) làm cơ bản những cơ chế đào thải của cơ thể con người đi vào trong lao động quá sức và gây ra cơ thể để bắt buộc những chất bằng cách phóng thích vào trong đường ruột intestinaux.
Cây Điên thảo Helleborus niger, trắng và đen cả hai  được sử dụng như tẩy xổ cực kỳ hiệu quả trong lịch sử cổ đại, trong đặc biệt ở Hy lạp Grèce.
Tuy nhiên, do bản chất của nó cực kỳ độc hại toxique, sự tiêu dùng của Cây để buộc nó ra khỏi dạ dày tất cả cũng là nguy hiễm và có thể dẫn đến tử vong hoặc một số trường hợp nhất định những phản ứng phụ khác.
▪ Lợi tiểu Diurétique :
Dùng với liều lượng rất nhỏ, Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger đã chứng minh những đặc tính :
- lợi tiểu diurétiques đáng tin cậy,
là một cách chậm hơn và ít bạo lực của sự đào thải những chất độc toxines ra khỏi cơ thể.
Bằng cách kích thích sự đi tiểu miction, nó có thể giúp cơ thể phóng thích những chất béo dư thừa, những muối, nước và những chất độc toxines của cơ thể, do đó làm sạch những thận reins và cải thiện tổng thể sức khỏe con người.
▪ Giảm sốt fièvre :
Mặc dầu Cây Điên thảo Helleborus niger trắng và đen có xu hướng thu được phần lớn của sự quan tâm, Cây Điên thảo xanh hellebore cũng có một sự sử dụng được biết như một sự giảm sốt fièvre và được sử dụng rộng rãi trong chữa trị :
- bệnh sốt phát ban hay ban nhiệt typhus,
và những bệnh sốt fièvres khác trong người Mỹ américaine cổ đại.
Điều này có thể giúp gia tăng tốc độ sự chữa lành bệnh và giảm bớt căng thẳng détresse và khó chịu inconfort, nhưng chỉ nên quản lý dùng bởi một nhà thảo dược herboriste đào tạo của Bác sỉ.
▪ Giảm cân Perte de poids :
Do khả năng Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger gây ra đi tiểu miction và bài tiết excrétion, nó đôi khi được sử dụng cho những người cố gắng giảm cân perdre du poids nhanh chóng.
Nếu người ta muốn giảm trọng lượng nước và làm sạch đường ruột intestin, sau đó nó có thể đạt được điều đó, nhưng nó có thể là rất nguy hiễm để thúc đẩy cơ thể trong những người đi vào số phận này trong quá trình làm rỗng sạch trên cơ sở thường xuyên, được biết những rối loạn của ăn uống.
▪ Chống co thắt Anti-Spasmodique :
Với liều lượng rất nhỏ đã có liên quan đến sự giảm những rối loạn của sự co thắt troubles spasmodiques ở những trẻ em, như là :
- chứng động kinh épilepsie
hoặc những điều kiện khác của :
- bắp cơ musculaires / thần kinh neurologiques.
Những sức mạnh của sản phẩm hóa học chimiques tìm thấy trong Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger có thể giảm hạ một phần thể chất và tinh thần esprit, nhưng mà như luôn luôn, có một rủi ro cao với mọi hình thức của sự sử dụng Cây Điên thảo Helleborus niger, do đó thường xuyên tham vấn với người chuyên môn lo về sức khỏe y tế trước để xem nếu có những lựa chọn khả thi khác.
▪ Chống ký sinh trùng Anti-parasitaire :
Trong một số nước, do tiêu chuẩn phẩm chất qualité của những thực phẩm và những điều kiện sống, những ký sinh trùng còn là một vấn đề rất thực tế, và những thứ như những trùng giun đường ruột vers intestinaux có thể làm nghiêm trọng thêm sự thiếu hụt dinh dưởng carences nutritionnelles hiện có và mang lại sự sống khốn khổ.
Liều nhỏ của Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger, có thể do bản chất của nó độc hại cao hautement toxique, đã được kết hợp với loại bỏ thành công của những trùng giun vers trong ống tiêu hóa tube digestif.
▪ Sức khỏe kinh nguyệt Santé menstruelle :
Gia tăng lưu lượng máu đến những vùng xương chậu pelvienne, đặc biệt ở những phụ nữ, có thể nguy hiểm trong một số trường hợp nhất định, như trong thời gian mang thai, nhưng trong những tình huống khác, một chất có chức năng như một trấn thống điều kinh emménagogue có thể rất hữu ích trong sự điều chỉnh của những thời kỳ và cải thiện tổng quát của sự sinh sản sức khỏe.
Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger thực hiện chính xác điều đó, nhưng đã đề cập bên trên, chỉ nên quản lý dùng hoặc xem xét sau khi tham vấn kỹ lưỡng với Bác sỉ có thể mang đến những chọn lựa khác an toàn cho cùng một hiệu quả.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Được xem như một phương thuốc phổ quát chống lại :
- điên khùng folie ngay thời cổ đại Antiquité,
Pline l’Ancien tuyên bố rằng đã được sử dụng từ thời cổ đại để điều trị :
- những bệnh tâm thần maladies mentales.
▪ Ở thời Trung cổ Moyen Âge, Cây cũng còn được gọi aliboron, thuật ngữ cổ xưa Pháp đi từ tiếng Hy lạp elleboros, nghĩa là điên rồ folie.
Aliboron có thể kết hợp với tên thầy maistre maître  để chỉ những Bác sỉ, kế đến những nhà Bác học savant và cuối cùng con lừa âne hoặc « maître Aliboron », nhân vật vô lý bởi vì hòa trộn tất cả.
Chỉ định :
Chỉ định và sự sử dụng đặc  biệt .
 ( Chỉ những liều lượng nhỏ ),
- cổ chướng dropsy;
- cảm giác nặng trong đầu lourdeur dans la tête,
- trán lạnh front froid và mồ hôi trĩn dính sueur moite;
- vô kinh aménorrhée,
- với những nóng bừng éclairs de chaleur flashes of heat, một hình thức xả do sự giảm nồng độ estradiol, do nhiều nguyên nhân do sự thay đổi nồng độ kích thích tố nội tiết hormone, thường kinh nghiệm như cảm giác nóng dữ dội với mồ hôi và tim đập nhanh …
- nóng cháy brûlure của bề mặt của những đùi cuisses,
- và những mông fesses,
- nhạy cảm vùng xương chậu sensibilité pelvienne,
- và vùng tầng sinh môn ( hạ bộ ) périnéale;
- xả chất nhầy sền sệt của đường ruột intestins.
Nghiên cứu :
Không biết cần bổ sung
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Độc tính Toxicité
Tất cả Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger là độc  hại toxique. Trên tất cả những cơ quan, trong đặc biệt, những căn hành rhizome chứa những thành phần hợp chất chưa được xác định.
Những sức mạnh của độc chất toxines hiện diện không bị tiêu hủy khi người ta sấy khô hoặc bảo quản. Cả hai những động vật và những con người đều bị ảnh hưởng. Người ta nói rằng những Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger có một vị nóng cháy brûlant.
Tất cả những Helleborus sp ( chưa xác định loài ) được tuyên bố là độc hại toxiques. Một số tác giả khác đề xuất sự thiếu vắng của glycosides cardiaques hiệu quả trong Cây Điên thảo Helleborus niger và cho thấy rằng những kiến thức trước đây trên sự hiện diện của những thành phần hợp chất này ở nồng độ hiệu quả đã dẫn đến sự sử dụng của sự pha chế bị ô nhiễm bởi Helloborus viridis có độc tính cự mạnh toxicité puissante cũng hiện được chứng minh.
Người ta không biết nó hiện có tính đa dạng trong sự hiện diện của độc tố toxines hiệu quả giữa những chủng của Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger.
Những thực vật của họ Ranunculaceae có chứa nhiều độc tố toxines mạnh khác nhau. Những thành phần hợp chất độc hại toxiques tìm thấy trong Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger ngoài hợp chất glycosides cardiaques helleborin, hellebrin và helleborein bao gồm saponosides và dẫn xuất của ranunculoside, protoanemonine.
● Những chất độc hại substances toxiques
Glycosides cardiaques
Glycoside cardiaque chánh hiện diện trong Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger là :
- bufadienole hellebrin.
• Hellebrigénine, những aglycone của hellebrine là mạnh hơn chính bản thân của glycoside.
• Chữa trị ngộ độc với glycosides cardiaques :
- atropine,
- và than hoạt tính charbon activé,
- dùng lidocaïne cho loài Helloborus viridis.
Saponines
Ranunculosides
● Triệu chứng Symptômes :
Ngộ độc với Cây Điên thảo Helleborus niger là rất hiếm. Nhìn chung, những glycosides cardiaques hiện diện là trách nhiệm của sự ngộ độc do những hiệu quả digitale (réf. Digitalis purpurea, foxglove) :
- nhịp tim chậm bradycardie,
- khoảng thời gian P-R kéo dài PR interval ,
- nhịp co bóp tâm thất tim khoảng 40 nhịp trong 1 phút rythme idioventiculaire,
- khối bó nhánh bloc de branche,
- độ rung tâm thất fibrillation venticulaire,
- và vô tâm thu asystole.
Helleborus viridis và Helleborus foetidus, cả hai được sử dụng trong vườn Cây, nguyên nhân ngộ độc tương tự như Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger.
Một số tác giả xác định rằng những triệu chứng tim cardiaques được ghi nhận là là có khả năng là nguyên nhân bởi những loài khác của giống Helleborus, chớ không phải là do bởi Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger. Người ta thấy trong đặc biệt là pha trộn của chế phẩm của rễ với Helleborus viridis.
Những số lượng cao của thành phần ranunculine hoặc protoanémonine trong những lá (  có mặt đồng ý của tất cả những tác giả ) những thân và những hoa của Cây Điên thảo Helleborus niger là trách nhiệm cho :
▪ da peau
- ( viêm da dermatite, tiếp theo sau khi phơi bày với nguyên liệu rễ thâm tím, với những lá, những thân và những hoa ), rễ.
▪ và sự kích ứng tiêu hóa dạ dày ruột gastro-intestinales ( sau khi ăn vào ingestion) :
- sự bài tiết nước miếng salivation,
- bệnh ngứa miệng picotements de la bouche,
- và cổ họng gorge 
- đau bụng abdominales,
- ói mữa vomissements,
- nôn mữa purge,
- tiêu chảy diarrhée.
Một số nhất định tác giả mô tả những triệu chứng sau khi ăn phải Cây Điên thảo Helleborus niger, như là :
- xung  chậm lent và không đều pouls irrégulier,
- yếu faiblesse,
- sự hô hấp lười biếng ( khó thở ) respiration laborieuse,
- tim  đập không đều cardiaques irréguliers,
- những co giật convulsions,
- suy hô hấp insuffisances respiratoires,
và những rối loạn của hệ thống thần kinh système nerveux như là :
- mê sảng délire,
- những cbo giật convulsions,
- và thậm chí tử vong mort do sự sụp đổ hô hấp effondrement respiratoire.
Ứng dụng :
Cây Điên thảo Helleborus niger là :
- một tẩy xổ mạnh cathartique drastique,
và nó được nổi tiếng có những khả năng :
- dịu đau trấn thống điều kinh emmenagogues,
nhưng hiệu quả cuối cùng có lẽ là do những hiệu quả xổ tẩy purgatifs.
▪ Trong liều lượng thấp nhất, là một kích thích tim stimulant cardiaque, và những đặc tính :
- lợi tiểu diurétiques,
- và trừ giun sán anti-helminthiques cũng được cấp cho nó.
▪ Trong liều lượng lớn, nó là một thuốc độc mạnh, gây ra :
- viêm inflammation dạ dày-ruột gastro-intestinale,
- chóng mặt vertiges,
- co thắt đau nhức spasmes douloureux,
- ói mữa nghiêm trọng vomissements sévères,
- tẩy xổ catharsis,
- suy tim insuffisance cardiaque,
- giản nở con ngươi (đồng tử ) dilatation des pupilles,
- khát nước với nhiệt trong bụng chaleur abdominale,
- đổ mồ hôi lạnh sueurs froides,
- co giật convulsions,
- và thậm chí tử vong mort.
Cái chết xảy ra do những co thắt spasmes và kiệt sức épuisement.
Rễ Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger gần đây nhất sản xuất làm đỏ da rubéfaction, và đôi khi những mụn nước cloques, khi nó được tiếp xúc với da peau.
▪ Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger trước đây được dùng trong :
- chứng tê liệt paralysie,
- điên rồ folie,
- cảm nắng, trúng gió, trúng phong apoplexie,
- thủng nước, cổ chướng hydropisie,
- động kinh épilepsie, ..v…v…
Nhưng ngay nay sử dụng rất hiếm.
Trong rối loạn thần kinh, nó vẫn có thể được sử dụng trong những trường hợp của :
- u uất mélancolie,
- và hưng cảm manie
khi nó do những rối loạn dạ dày-gan gastro-hépatiques hoặc trong những hình thức cấp tính của :
- lầm lạc tâm thần aberrations mentales,
do những sai lầm kinh nguyệt erreurs menstruelles .
▪ Chứng loạn thần kinh hystérie và bệnh u uất hypochondrie có thể có lợi ích, đặc biệt là khi nó phụ thuộc vào những không ổn ở bụng mal abdominales.
▪ Như một yếu tố thủng nước cổ chướng hydropisie, nó được xem như ít hữu ích hơn Cây apocynum.
Nó đã được sử dụng để giảm bệnh thủng nước hydropisie bởi hành động tẩy xổ purgative, nhưng vì nó đã được tìm thấy rằng một liều nhỏ của thuốc có xu hướng :
- kích thích tim stimuler le cœur,
- và gia tăng bài niệu diurèse,
có những lý do để tin rằng chúng ta chưa đánh giá đầy đủ sức mạnh của thuốc.
▪ Thuốc do tình trạng :
- suy nhược của ruột atoniques des intestins,
- tràn dịch huyết thanh épanchement séreux sau khi viêm inflammations,
- với một sự hấp thu thiếu hụt,
- và  thủy ngực hydrothorax, chứng bệnh có chất lỏng trong khoang màng phổi 
- và anasarque ( bệnh phù œdème nói chung của những mô tế bào dưới da với tràn dịch trong khoang huyết thanh như màng phổi, màng tim, màng bụng…. tiếp theo sau của những bệnh phun trào cụ thể éruptives spécifiques, đặc biệt được đề cập như là quyền năng chữa lành bệnh của nó pouvoir curatif.
▪ Liều lượng cho mục đích này phải từng phần của từ 1 giọt đến 5 giọt trích xuất Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger riêng biệt.
▪ Thuốc với liều nhỏ gia tăng mạnh để :
- co bóp tim contraction du cœur,
- làm chậm nhịp tim ralentit le pouls,
- và gia tăng huyết áp động mạch tension artérielle.
▪ Hoạt động thận rénale là gia tăng dưới hành động của nó, và những triệu chứng không bù đấp trong những bệnh tim mạch affections cardiaques đã nhanh chóng biến mất dưới sự sử dụng thuốc này.
▪ Giáo sư Scudder cho thấy Cây Hoa Hồng Giáng sinh Helleborus niger như :
- một làm dịu đau trấn thống điều kinh emménagogue
khi bệnh nhân cảm thấy khó chịu bởi :
- những tia nhiệt étincelles de chaleur,
- nóng bỏng trên bề mặt của những đùi cuisses,
- và những mông đít nats,
- và tính nhạy cảm sensibilité của những mô tế bào vùng xương chậu pelviens và vùng tầng sinh môn ( hạ bộ ) périnéales.
Nó đã được sử dụng trong những rối loạn đường ruột troubles intestinaux với những đoạn giống như thạch.
Helleborein, bên cạnh có những đặc tính tương tự, đã được tìm thấy cho là :
- một trầm cảm dépresseur của những chức năng thần kinh fonctions nerveuses,
- và có những đặc tính gây mê quyết định anesthésiques décidées.
Từ thực tế nó không có hiệu quả rõ ràng nào trên đồng tử con ngươi pupile, cũng không ảnh hưởng trên nhãn áp bên trong mắt tension intra-oculaire, nó được ưa thích bởi một số nhất định chất ma túy cocaïne như một thuốc gây mê cục bộ anesthésique local trong những bệnh mắt maladies oculaires, và nổi tiếng lâu dài hơn hiệu quả cuối cùng trong những hiệu quả của nó ( trầm cảm ).
▪ Người ta cũng sử dụng từ 3 đến 4 giọt dung dịch tiêu biểu trong tất cả từ 1/55 đến 1/40 của hạt.
▪ Do hành động mạnh trên tim cœur, nó không sử dụng bởi đường tiêm dưới da sous-cutanée cho sản phẩm gây mê cục bộ anesthésie locale.
▪ Chữa trị bệnh đau mắt maux d'œil :
- Những nhãn cầu xoay lên trên,
- lé louche,
- cái nhìn trống không regard vacant,
- con ngươi (đồng tử giản nở pupile dilatés.
- mắt mở to yeux ouverts, chìm sâu enfoncés,
- chứng quáng gà cécité nocturne.
▪ Cho những bệnh mặt affections de visage :
mạt nhợt nhạt, tàn tệ.
- mồ hôi lạnh sueur froide.
- vết nhăn ridé.
- đau dây thần kinh ở bên trái Névralgie sur le côté gauche;
Những bộ phận mềm, nên nó không thể nhai.
▪ Chữa trị bệnh đau miệng maux de la bouche :
- mùi hôi từ miệng odeur horrible de la bouche.
- môi khô lèvres sèches và nứt nẻ craquelées.
- lưỡi đỏ và khô.
- hàm dưới rơi xuống Chute de la mâchoire inférieure.
- sự biểu hiện đôi môi trở nên vô nghĩa Picking of lips.
Hành vi liên quan đến sự biểu hiện của da môi nhưng cũng liên quan đến sự nhai, cắn, xảy ra khi gặp những khí hậu khắc nghiệt như nắng mặt trời, lạnh, gió, môi và miệng trở nên khó chịu, khô và khát…Trong những trường hợp như vậy, môi có thể dễ bong ra và có khuynh hướng tróc ra….
- nghiến răng grincement des dents.
- cử động nhai mouvement à mâcher.
- háu nuốt nước lạnh avale avidement l'eau froide, mặc dù đây là vô ý thức.
● Sử dụng khác :
▪ Được sử dụng như thuốc diệt ký sinh trùng parasiticide chống lại :
- những con chí của cơ thể poux du corps,
- những con bọ chét puces ..v…v...
Sự sử dụng này có phần nào nguy hiểm, do những độc tính toxicité, bên trên.
Rễ dưới dạng bột được sử dụng như một thuốc hút.
▪ Những Cây được thích ứng cho những lớp đất phủ khi mà khoảng cách của nó khoảng 45 cm cho mỗi cạnh.

Nguyễn thanh Vân

vendredi 3 février 2017

Dầu thơm chanh - Citronade - Lemon balm

Citronade – Lemon balm
Dầu thơm chanh
Mélissa officinalis - L.
Lamiaceae
Đại cương :
Mélisse officinale (Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis) là những Cây sống lâu năm mọc từ những loài cỏ dại thuộc họ Lamiaceae, được gọi là mélisse citronnelle hoặc Cây ớt của loài ong piment des abeilles, người ta cũng gọi « Cây Dầu thơm chanh mélisse citronnelle » hoặc đơn giản « sả citronnelle », không nên lầm lẫn với sả citronnelle (Cymbopogon citratus) được sử dụng trong nấu ăn á đông asiatique..
Tên của Cây có theo tiếng Hy lạp μελισσόφυλλον, melissophullon có nghĩa là « con ong abeille», điều này có nghĩa là mùi hương của những hoa có sức  quyến rủ mạnh đối với những loài ong và là nguồn để sản xuất mật ong.
Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis trong Á rập gọi là « trandjane », được trồng trong tất cả những vùng ôn đới trên thế giới.
Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được phổ biến trong Châu Âu, nhưng lại trồng chủ yếu ở Mỹ États-Unis. Đôi khi nó mọc hoang dại, trong những cánh đồng đầy nắng và ở ven đường, nó rất dễ trồng, bằng hạt giống hay bằng những bộ phận có rễ trong đất mầu mỡ và cát hoặc đất mùn.
Cây có nguồn gốc ở miền nam Châu Âu Europe du Sud, ở Địa trung hải và được phân phối trong tất cả Châu Âu từ những vườn Cây tu viện khác nhau, trong Trung Á và trong Bắc Mỹ. đặc biệt trong những vùng núi , nhưng được tịch hóa trong miền nam nước Anh sud de l'Angleterre, và được du nhập trong những vườn ươn Cây trong một thời gian rất sớm.
Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis là một thực vật có nguồn gốc phát xuất từ Vua Charlemagne, ông được thuyết phục bởi những đặc tính y học đặc biệt của Cây thơm chanh mélisse (đặc biệt liên quan đến những triệu chứng thần kinh symptômes nerveux), Ông ra lệnh trong Capitularis l'Villis của Ông trồng Cây này trong suốt đế chế của mình.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây thân thảo, cây nhỏ, sống lâu năm, đôi khi là những bụi rậm, khoảng từ 30 đến 80 cm cao, với thân vuông và thẳng, phân nhánh và có lông mịn. Rễ ngắn. 
, nguyên nhỏ, một số lá cuộn lại bên dưới, bìa lá có răng cưa thô mặt lá gò nổi lên, dày, có những tuyến tinh dầu thơm nằm dưới lớp biểu bì, mọc đối từng cặp, có cuống, hình bầu dục hoặc có dạng hình trái tim có những lông mịn bao phủ và có mùi thơm nhẹ với một mùi chanh và sả nếu người ta vò nát cây, giống như lá cây bạc hà menthe, màu xanh lá cây nhạt tươi mặt dưới sáng hơn mặt trên. Lá nhám thô khi chạm vào.
Hoa, lưỡng phái, trùng môi tức là thụ phấn nhờ những côn trùng, màu trắng hoặc  màu hồng nhạt, hình thành những chùm nhỏ mọc chèn vào nách của những lá, gồm 3 đến 4 hoa mỗi lá. Phát ra một mùi thơm mật hoa quyến rủ những loài ong mật.
- đài hoa, có dạng hình chuông, do bởi 5 lá đài hàn dính lại, có lông mịn, gần như đều nhau hoặc chẻ đôi.
- vành hoa dài khoảng 12 mm, với 2 môi. Môi trên 2 thùy tẹt ra tạo từ 2 cánh hoa, môi dưới 3 thùy rộng hình thành bởi 3 cánh hoa.
- tiểu nhụy 4, 2 dài và 2 ngắn, gắn vào thành ống vành.
- bầu noãn, thượng với 2 buồng và 2 noãn mỗi buồng.
Trái, bế quả akène 4 ( tétrakène ), không tự khai, màu nâu láng, khi trưởng thành tách ra thành 4 mảnh ( 4 méricarpes )
Công thức hoa : 5S-5P-4E-2C (S: đài hoa sépale, P: cánh hoa pétale, E: tiểu nhụy étamine, C: tâm bì carpelle).
Bộ phận sử dụng :
Những lá, thân và những hoa là những bộ phận được sử dụng trong thực vật liệu pháp phytothérapie.
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis có thể được sử dụng tươi hoặc sấy khô.
▪ Toàn bộ tất cả những hiệu năng của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis thu được nếu người ta thu hoạch trước khi trổ hoa những bộ phận của Cây mà người ta muốn sử dụng.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Nguyên hoạt chất :
- aldéhydes terpéniques (citral, citronellal),
- alcools terpéniques (eugénol, géraniol, linalol, citronellol),
- sesquiterpènes (carophyllène).
▪ Những aldéhydes terpéniques có những đặc tính :
- chống siêu vi khuẩn antivirales,
- làm dịu calmantes,
- và an thần sédatives.
Đây cũng là những yếu tố :
- hạ huyết áp hypotenseurs,
- thuộc về dạ dày stomachiques,
- chống viêm anti-inflammatoires,
- và kháng khuẩn antibactériens.
▪ Những alcools terpéniques có những hiệu quả :
- bổ thần kinh neurotonique,
- kích thích gan hépatostimulant,
- và điều hòa miễn nhiễm immunomodulant.
Nó cũng có những hiệu quả tích cực trên những trạng thái :
- cảm xúc émotionnel,
- và tâm linh psychique.
carophyllène chứa trong những sesquiterpènes có những đặc tính :
- chống viêm anti-inflammatoires,
- chống bệnh đại tràng anticolitiques, thuật ngữ colitique nói chung chung cho bất kỳ bệnh đại tràng viêm hay không viêm….
- và chống co thắt antispasmodiques.
Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis chứa từ 0,2% đến 0,3% của dầu thiết yếu, tương tự như mùi hương của lá sả Cymbopogon citratus.
● Thành phần chánh :
- mono- và sesquiterpènes
bao gồm :
- geranial,
- neral,
- β-caryophyllène,
- oxyde β-caryophyllène
- linalol,
- citronellal,
- nérol,
- và géraniol.,
▪ R (+) - citronellate de méthyle là đặc trưng của dầu Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis và phân biệt với dầu sả citronnelle.
▪ Flavonoïdes oléanane và triterpènes được phân lập từ Cây.
▪ Thành phần chủ yếu không dễ bay hơi là :
- caféique acide,
- di- và dẫn xuất trimères ,
bao gồm :
- acide rosmarinique,
- và acide melitric A và B.
▪ Những flavonoïdes như là :
- quercitrine,
- rhamnocitrine,
- và những 7-glucosides apigénine,
- kaempferol,
- quercétine và lutéoline,
- những acides phénoliques
▪ và những chất tanins như là :
- acide rosmarinique,
- những acides caféiques,
- và chlorogéniques,
- những triterpènes,
▪ Tinh dầu thiết yếu của nó là một hợp chất của :
- monoterpénoïde citronellal,
- geranial ( citral a)
- và néral (citral b),
- và sesquiterpènes.
- citral,
- eugénol,
- flavonoïdes,
- polyphénols,
- và triterpénoïde.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis là một phương thuốc gia đình thường được trồng với một truyền thống dài như một phương thuốc bổ làm tăng :
- tinh thần esprits,
- và nâng cao tim soulève le coeur.
▪ Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng nó có thể giúp một cách đáng kể trong chữa trị :
- những bệnh ghẻ phỏng mụn phỏng ở môi  herpès labial (cold sores),
( là những chứng mụn phỏng herpès đau thường gây ra bởi những siêu vi khuẩn xuất hiện quanh miệng và môi, rất dễ lây nhưng không nguy hiểm ).
▪ Những và những chồi hoa non Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis là :
- kháng khuẩn antibactériennes,
- chống co thắt antispasmodiques,
- chống siêu vi khuẩn antivirales,
- tống hơi carminatives,
- đổ mồ hôi diaphorétiques,
- tiêu hóa digestives,
- dịu đau trấn thống điều kinh emmenagogue,
- giải nhiệt fébrifuges,
- an thần sédatives,
- và là thuốc bổ toniques.
▪ Nó cũng hành động để ức chế :
- hoạt động tuyến giáp trạng thyroïdienne.
▪ Những có những gân lá màu vàng xanh lá cây nhạt được bao phủ bởi những lông tơ nhỏ được sản xuất bởi sự chưng cất cho ra một dung dịch alcoole hóa được gọi là nước Dầu thơm chanh mélisse, có những đặc tính :
- chống co thắt antispasmodiques và tiêu hóa digestives.
▪ Dầu thiết yếu của Cây Dầu thơm chanh mélisse tạo thành bởi những polyphénols là :
- một thuốc  bổ thần kinh tonique nerveux,
- và làm se thắt astringent.
▪ Những được nghiền nát tươi Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được áp dụng trên :
- những vết thương loét plaies,
- những vết cắn côn trùng piqûres d'insectes.
▪ Những lá sấy khô Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được chọn thay thế có giá trị của trà thé này, để :
- làm giảm sự lo lắng nervosité,
- sự bồn chồn agitation,
- khó chịu irritabilité,
- lo âu anxiété,
- thúc đẩy giấc ngủ sommeil,
- và làm dịu những rối loạn tjiêu hóa dạ dày-ruột gastro-intestinales.
▪ Những nhà thảo dược kết hợp Cây Dầu thơm chanh mélisse với những loài Cây trồng khác như Cây Bạc hà menthe poivrée và Cây Nữ lang valériane.
▪ Tinh dầu thiết yếu chứa chất chanh citral và sả citronnelle, những chất này hành động để :
- làm dịu hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central,
- và chống co thắt mạnh antispasmodiques.
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis cũng chứa những thành phần polyphénols, đặc biệt chống :
- siêu vi khuẩn ghẻ phỏng đơn giản herpès simplex, nó sản xuất những mụn rộp herpès labial cold sores.
▪ Dầu thiết yếu được sử dụng trong mùi hương liệu pháp aromathérapie. Từ khóa của nó là “ Lĩnh vực phụ nữ Aspects féminins ” .
Nó được sử dụng để :
- thư giản détendre,
- và trẻ trung hóa rajeunir,
đặc biệt trong những trường hợp :
- trầm cảm dépression,
- và căn thẳng thần kinh tension nerveuse.
▪ Nó gây ra một sự đổ mồ hôi transpiration nhẹ và một trà thé dễ chịu và làm mát cho những bệnh nhân bệnh sốt fébriles, trong những trường hợp của :
- viêm nước catarrhe,
- và bệnh cúm grippe.
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis là một thảo dược lợi ích, dùng một mình hoặc kết hợp với những dược thảo khác. Nó là tuyệt diệu trong :
- những bệnh cảm lạnh rhumes đi kèm theo sốt fièvre,
bởi vì nó thúc đẩy làm đổ mồ hôi transpiration.
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis chứa dầu chanh citral de pétrole dễ bay hơi và dầu sả citronnelle, là chất :
- chống co thắt mạnh fortement antispasmodique
- và giúp làm êm dịu những thần kinh calmer les nerfs,
- giảm những chuột rút kinh nguyệt (đau bụng kinh ) crampes menstruelles,
- mất ngủ insomnie,
- trầm cảm dépression,
- cường tuyến giáp trạng hyperthyroïdie,
- rối loạn dạ dày estomac bouleversé,
- và những đau bụng tiêu chảy coliques ở những em bé.
▪ Ủy Ban Đức E chuyên khảo, hướng dẫn sử dụng điều trị của thực vật liệu pháp phytothérapie, phê duyệt Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis cho :
- sự lo lắng nervosité,
- và mất ngủ insomnie.
Chủ trị : indications
● Chỉ định chữa trị thường dùng :
▪ làm êm dịu  calmant
( rối loạn thần kinh troubles nerveux, căn thẳng stress, lo lắng anxiété, lo âu angoisse),
▪ chống co thắt antispasmodiques
( dạ dầy estomac, ruột intestin),
▪ nhiễm trùng siêu vi khuẩn infections virales
( ghẻ phỏng mụn phỏng herpès, đới chẩn ( giời leo ) zona, bệnh do virus đặc trưng bởi những phát ban đỏ trên đường đi của dây thần kinh cảm giác nerfs sensitifs,
▪ vấn đề tim mạch problèmes cardiaques ( tim đập nhanh tachycardie),
▪ rối loạn giấc ngủ trouble du sommeil ( mất ngủ insomnies),
▪ tiêu hóa digestif,
▪ kích thích trí nhớ stimulant de la mémoire,
▪ vết thương bên ngoài blessures externes,
▪ và đau dạy thần kinh névralgies,
▪ bảo vệ cơ quan organisme.
● Chỉ định chữa trị khác chứng minh :
▪ Chữa trị đau bụng tiêu chảy colique ở trẻ em bébé
( trong kết hợp với thảo dược khác chống co thắt antispasmodiques),
▪ chữa trị chứng bệnh ghẻ phỏng, mụn phỏng ở môi herpès labial
( giảm kích thước của những vết thương của da lésions cutanées),
▪ chữa trị ghẻ phỏng, mụn rộp cơ quan sinh dục herpès génital,
( ngăn chận sự phát triển của siêu vi khuẩn virus),
▪ chữa trị sự bồn chồn lo lắng agitation và lo âu anxiété
( hiệu quả làm dịu calmant của dầu thiết yếu huile essentielle),
▪ chữa trị rối loạn giấc ngủ troubles du sommeil
( cải thiện phẩm chất giấc ngủ qualité du sommeil),
▪ rối loạn dạ dày-ruột gastro-intestinaux nhẹ,
(đau bụng tiêu chảy coliques, vấn đề tiêu hóa digestifs),
▪ chống viêm anti-inflammatoire và kháng khuẩn antibactérien,
▪ chữa trị những bệnh tim mạch cardiaques ( tim đập nhanh tachycardies),
▪ hiệu quả bảo vệ trên cơ thể protecteur sur l'organisme
( thư giản những cơ muscles và hệ thống thần kinh système nerveux).
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Dược điển pharmacopée và trong nấu ăn, những hiệu năng và những hương liệu arôme của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được biết từ thời cổ đại ở Âu Châu, Á Châu, trong Mỹ Châu và thậm chí cả Châu Phi.
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis là một cây được  biết đến từ Hy lạp cổ đại Grèce antique và được sử dụng cho những lợi ích chống lại :
- sự căn thẳng stress,
- mất ngủ insomnie,
- và kiệt sức surmenage.
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được sử dụng với muối, khi xưa được áp dụng trong mục đích lấy đi :
- nang thủng u mỡ kyste sébacé (wens),
và có nổi tiếng rửa sạch :
- những vết thương loét plaies,
và làm giảm những đau nhức của :
- bệnh thống phong goutte.
▪ Người ta công nhận những đặc tính :
- chống co thắt antispasmodiques,
- chống siêu vi khuẩn antivirales,
- tiêu hóa digestives,
- và hiệu quả chống lại sự lo lắng angoisse.
Nó được sử dụng trong chữa trị :
- những rối loạn thần kinh troubles nerveux,
- những vấn đề ruột intestinaux,
- và dạ dày gastriques.
▪ John Hussey, của Sydenham một thành phố ngoại ô London, người đã sống 116 tuổi, đã ăn trưa trong vòng 50 năm trên trà Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được làm ngọt với mật ong miel, và dùng trà thảo dược theo thói quen những bữa điểm tâm sáng của Llewelyn hoàng tử của Glamorgan, Ông này qua đời trong năm 108 tuổi.
Bột của rễ sấy khô Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được nghiền nát dùng trong Tây Phi Afrique de l'ouest để chữa trị :
- bệnh tiểu đường diabète.
▪ Tổ chức Y tế thế giới Organisation Mondiale de la Santé đã công nhận rằng việc áp dụng một thuốc mỡ onguent, hoặc pommade với căn bản Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis chữa trị :
- những những nổi chẩn ở da éruptions cutanées của mụn rộp ở môi herpès labial.
Về mụn rộp bộ phận sinh dục herpès génital, tính hiệu quả chữa trị chưa chắc chắn  thực hiện trên siêu vi khuẩn liên quan của loại 2.
Dù sao, những vết thương nhẹ blessures mineures và đau dây thần kinh névralgie cũng được chữa trị với kem crème với căn bản của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis.
Nghiên cứu :
Nghiên cứu khoa học :
● Ủy Ban E Đức, phê chuẩn cho sự sử dụng bên trong cơ thể của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis để :
- thúc đẩy cho giấc ngủ và thư giản relaxation,
- và để hỗ trợ sức khỏe của bộ máy tiêu hóa appareil digestif.
Nhiều nghiên cứu đã điều tra những hành động an thần sédatives của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis, hầu hết trong số nghiên cứu dẫn đến hoặc là với một sự kết hợp của Cây Nữ lang valériane Valeriana, hoặc là trên hiệu quả hương thơm liệu pháp aromathérapeutique của tinh dầu thiết yếu.
Tuy nhiên, một nghiên cứu lâm sàng người trong năm 2003, trên những sấy khô của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis bởi chính bản thân nó, cho thấy nó có hiệu quả tích cức trên :
- tâm trạng humeur,
- và trí nhớ mémoire.
● Nghiên cứu cho thấy Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis chứa những polyphénols, và nó có thể giúp một cách đáng kể trong chữa trị ;
- những mụn rộp ở môi herpès labial cold sores,
- và chống lại những siêu vi khuẩn ghẻ phỏng, mụn phỏng đơn giản herpès simplex.
● Hoạt động chống viêm anti-inflammatoire trên cơ thể sinh vật sống in vivo
Sự đánh giá hoạt động chống viêm anti-inflammatoire của tinh dầu thiết yếu của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis đã được thực hiện bằng cách sử dụng 2 phương pháp khác nhau, sử dụng những kích thích hóa học stimuli chimiques (thử nghiệm mùa đông test d'hiver) và những kích thích cơ học stimuli mécaniques (thử nghiệm Riesterer và Jacques) gây ra phù nề oedème ở chân chuột 
Trong cả 2 phương pháp, tất cả những động vật được cho nhịn ăn jeûne 18 giờ trước khi thử nghiệm và nhận 5 ml nước cất bởi ống dẫn gavage để giảm thiểu những biến thể cá nhân trong phản ứng với sự sưng phồng của những chân.
Chân sau bên phải không được điều trị và nó được dùng như kiểm soát.
● Chống viêm anti-inflammatoire :
Người ta tìm thấy ra rằng acide rosmarinique ức chế những giai đoạn C3 và C5 phân hóa tố convertase một phân hóa tố enzyme của hệ thống bổ sung kích hoạt những thành phần cụ thể của hệ thống. Hành động này có thể đóng một vai trò trong hành động chống viêm anti-inflammatoire của trích xuất Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis, bởi vì hành động đã được quan sát trong phòng thí nghiệm in vitro và trên cơ thể sinh vật sống in vivo ở những chuột rats được quản lý cho uống với những thành phần hợp chất.
● Chống oxy hóa Antioxydant
Hoạt động chống oxy hóa antioxydante trong phòng thí nghiệm in vitro đã được mô tả cho dầu thiết yếu của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis và những trích xuất.
● Cholestérol
Ở những chuột rats và những chuột nhắt souris mỡ máu cao hyperlipidémiques, những trích xuất của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis đã được cải thiện trên hồ sơ chất béo lipidique cũng như những đánh dấu men gan enzymatiques hépatiques (AST, ALT, phosphatase alcaline) và mức độ của glutathion trong những mô tế bào tissus.
● Ung thư Cancer :
Hoạt động chống những dòng tế bào ung thư cancer người và của chuột đã được chứng minh trong phòng thí nghiệm in vitro.
● Tiêu hóa dạ dày-ruột Gastro-intestinal :
Sự co thắt hồi tràng iléon của chuột đã được giảm với tinh dầu thiết yếu của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis và trích xuất citral của nó ( một trích xuất mùi thơm dầu chanh agrume và dầu sả citronnelle dùng làm hương liệu ).
Những em bé với chứng đau bụng tiêu chảy coliques nhận được một chế phẩm kết hợp chứa những trích xuất của baume de citron Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis cũng như 2 trích xuất khác cho thấy những triệu chứng đã được cải thiện.
● Được xác định bởi những nhà nghiên cứu người Đức trong năm 1978 rằng tinh dầu thiết yếu Cây Dẩu thơm chanh Melissa officinalis có một đặc tính :
- chống siêu khuẩn anti-viral.
● Chỉ vào năm 1990 những nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện để chống lại :
- siêu vi khuẩn virus ghẻ phỏng herpès simplex.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Chống chỉ định :
Do thiếu thông tin và tài liệu về vấn đề này, sự dùng Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis không được khuyến khích ở những trẻ em cũng như ở những phụ nữ mang thai và cho con bú.
▪ Phản ứng phụ :
Không tác dụng phụ được ghi nhận.
▪ Thận trọng :
Đề nghị nên tham khảo ý kiến với những nhà chuyên gia lo về sức khỏe có khả năng thật sự trước khi dùng những sản phẩm thảo dược này.
Ứng dụng :
● Sử dụng y học :
▪ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis thường được sử dụng nhất cho những hiệu năng :
- làm êm dịu  calmantes,
- và thư giản relaxantes.
Thực vậy, nó điều hòa những xung thần kinh influx nerveux, điều này có một hành động lợi ích trên :
- tim đập nhanh tachycardie,
nhưng cũng giảm :
- những co thắt của dạ dày spasmes de l'estomac,
- và đại tràng côlon ( nó cũng có những đặc tính chống nấm antifongiques).
▪ Ngâm infusion những Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh sốt fièvres,
- và cảm lạnh rhumes,
- khó tiêu indigestion kết hợp với sự căn thẳng thần kinh tension nerveuse,
- những chứng đau đầu maux de tête, …v…v….
- tính dể bị kích thích excitabilité,
- và những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs ở những trẻ em,
- cường giáp hyperthyroïdie,
- trầm cảm dépression,
- một hiệu quả nhẹ an thần légèrement sédatif,
- và thúc đẩy đổ mồ hôi nhiều hơn sudation,
vì vậy nó được đề nghị trong những trường hợp :
- mất ngủ nhẹ insomnie légère,
hoặc :
- nhiệt độ cao ở những trẻ em sơ sinh nourrisson và những người già personnes âgées.
Nhánh Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis, nấu chín trong nước tạo thành một trà tisane có những đặc tính :
- làm đổ mồ hôi soporifiques,
- an thần sédatives,
- và làm dịu apaisantes.
- những bệnh sốt fièvres,
- bệnh cảm lạnh rhumes,
- và những bệnh đau đầu maux de tête.
● Sự sử dụng bên trong cơ thể :
▪ Chữa trị những rối loạn thần kinh troubles nerveux :
- căn thẳng stress,
- lo lắng anxiété,
- lo âu  angoisse,
- khủng hoảng thần kinh crise de nerfs.
▪ Hiệu quả chống co thắt antispasmodiques :
- co thắt dạ dày spasmes de l'estomac và đại tràng colon.
▪ Rối loạn giấc ngủ sommeil :
- mất ngủ insomnie.
▪ Vấn đề tim mạch cardiaques :
- tim đập nhanh tachycardie.
▪ Rối loạn dạ dày Troubles gastriques :
- tính acide dư thừa trong dạ dày acidité de l'estomac.
▪ Cải thiện sự lưu thông máu circulation máu :
- căn phồng distension hoặc co thắt lại contraction những mạch máu vaisseaux.
● Sử dụng bên ngoài cơ thể :
▪ Nó được sử dụng để chữa trị :
- ghẻ phỏng, mụn phỏng herpès,
- những vết thương loét plaies,
- bệnh thống phong goutte,
- những vết chích côn trùng piqûres d'insectes,
- và như một thuốc diệt côn trùng insectifuge.
▪ Tranh đấu chống lại những bệnh nhiễm trùng siêu vi khuẩn virales :
- mụn rộp ghẻ phỏng ở môi herpès labial,
- và cơ quan sinh dục génital,
- zona.
( ghẻ phỏng mụn phỏng herpès, đới chẩn ( giời leo ) zona, bệnh do virus đặc trưng bởi những phát ban đỏ trên đường đi của dây thần kinh cảm giác nerfs sensitifs,
▪ đau thần kinh névralgies và những vết thương nhỏ blessures mineures.
▪ Thư giản những cơ bắp relaxation des muscles và những dây thần kinh nerfs :
- bắp cơ muscles,
- và thần kinh căn thẳng nerfs tendus.
▪ Dầu thiết yếu chống căn thẳng anti-stress áp dụng trên màng tang thái dương tempes, kèm theo xoa nhè nhẹ.
● Liều lượng :
▪ Thảo dược thô của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis thường được định lượng hợp lý từ 1,5 đến 4,5 g / ngày.
▪ Một kem crème với 1% của trích xuất đã được nghiên cứu như yếu tố tại chổ ngoài da cho mụn phỏng ghẻ phỏng herpès.
▪ Để chữa trị những rối loạn thần kinh troubles nerveux và tiêu hóa digestifs, Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis có được dưới nhiều hình thức :
- 1,5 đến 4,5 g ( từ 1 đến 3 lần mỗi ngày ) của những bộ phận trên không sấy khô ( lá, hoa ) Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis.
- 2 đến 4 ml của dung dịch trích xuất ( 3 lần mỗi ngày ) ;
- 2 đến 6 ml của dung dịch trong alcool teinture mère (3 lần mỗi ngày ).
▪ Để chữa trị chứng khích động, bối rối agitation, lo âu anxiété và mất ngủ insomnie,
- xoa nhẹ của tinh dầu thiết yếu Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis trên những màng tang thái dương tempes và những tay bras.
Người ta cũng có thể :
- pha loãng 10 giọt tinh dầu thiết yếu này thêm vào nước tắm, Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis giảm :
- sự căn thẳng bắp cơ tension musculaire,
- và giảm kích ứng da peau irritée.
▪ Để chữa trị bệnh mụn rộp ở môi herpès labial,
- sử dụng kem có chứa 1% trích xuất nước được đông khô lyophilisé
( lyophilisé làm đông dung dịch thành bột khô bằng phương pháp hạ nhiệt độ lạnh dưới độ âm (- ? ) ( phun azote ) trong điều kiện chân không ) của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis, từ 2 đến 4 lần mỗi ngày, hoặc những băng gạt compresses trên cơ sở ngâm trong nước đun sôi infusion.
▪ Để chữa trị những vết thương nhẹ blessures mineures và đau dây thần kinh névralgies,
- xoa trên vùng đau nhức 5 giọt dầu thiết yếu pha trộn với 1 muỗng cà phê dầu olive.
Áp dụng từ 2 đến 4 lần mỗi ngày.
▪ Pha chế một nước nấu sắc décoction ( hoặc ngâm trong nước đun sôi infusion) :
▪ Để chuẩn bị một trà tisane hoặc ngâm trong nước đun sôi infusion của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis, nó phải được lấy những cành nhánh với những từ 50 g đến 100 g và để trong 1 lít nước, để đun sôi lửa trung bình, tắt lữa, để ngâm trong 10 phút sau đó đem lọc và uống ấm hoặc lạnh, 2 đến 3 lần mỗi ngày.
▪ Để làm một trà thé, đổ 1 pinte nước sôi trên 1 oz. thảo dược, ngâm trong 15 phút, để nguội, sau đó lọc và uống tự do.
Nếu đường và 1 ít nước ép chanh citron hoặc nước ép trái cây có thể được thêm vào, nó là một thức uống mát cho mùa hè.
● Sử dụng khác :
▪ Những hoa trắng trong hình dạng của một cái chuông của Cây Dầu thơm chanh mélisse cung  cấp cho những loài ong một mật hoa rất tốt cho mật ong của nó miel.
▪ Người ta nghĩ rằng Cây phát triển để xua đuổi những loài ruồi và những loài kiến.
▪ Nó cũng được chà xát trên da như một một chất để tránh xa những loài côn trùng và những loài động vật có hại répulsif, mặc dù tinh dầu sẽ có hiệu quả hơn ở trường hợp này.
▪ Dầu thiết yếu thu được từ Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis ( bộ phận chính xác không được xác định, đây có thể là tất cả Cây và đặc biệt là những cành ra hoa tiges en fleurs).
▪ Những dầu thiết yếu của Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis tươi, đặc biệt là sả citronnelle, làm cho nó là :
- một thuốc diệt côn trùng insectifuge
hiệu quả nhất là khi nó được nghiền nát và chà xát trên da peau hoặc những quần áo.
▪ Nó được sử dụng trong y học. Nguyên Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis là rất thơm dễ chịu, hương thơm kéo dài trong thời gian rất lâu sau khi Cây đã được thu hoạch.
Dó đó, nó là một thành phần rất hữu ích trong một chậu hương thơm trong phòng pot-pourri.
▪ Dầu Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis thường được thêm vào những chế phẩm cho da cutanées và nước hoa parfums.
▪ Tinh dầu thiết yếu ( là khá đắt tiền và thường được pha trộn với chanh citron hoặc sả citronnelle ) nó được sử dụng trong hương thơm liệu pháp aromathérapie.
Thực phẩm và biến chế :
Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis là một Cây ăn được và làm thuốc.
▪ Những lá tươi Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis có thể thêm vào trong salade hoặc sử dụng trong những món ăn trứng plats d'oeufs và có thể được sử dụng để làm những nước sốt sauces cho món ăn cá, gà và heo.
▪ Toàn Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis, được sấy khô hoặc tươi, được sử dụng  để làm một thức uống tươi mát hoặc trà thé nóng thư giản.
▪ Trong nấu ăn, Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis cho một hương vị tươi mát với thịt, gà, salades trái cây salades de fruits và rau cải légumes, món súp soupes và món puddings.
▪ Nó được sử dụng trong Espagne để cho hương vị sữa.
▪ Từ thời trung cổ, Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis được sử dụng trong nấu ăn để mang lại cho một hương vị tươi mát cho tất cả những thịt viandes, mùi thơm cho những trái cây và rau cải trong những salades và thậm chí cho sữa lait.
Cuối cùng Cây Dầu thơm chanh Melissa officinalis đi vào trong những thành phần của bénédictine, một loại rượi mùi thu được ngâm những thảo dược này, được chế tạo bởi những tu sỉ của dòng Thánh Benoît.
được dùng sống hay chín.
Một hương thơm và mùi vị chanh dễ chịu, nó được sử dụng chủ yếu như một hương liệu arôme trong những salades và những thức ăn nấu chín.
▪ Một trà chanh có thể được thực hiện từ những lá tươi hoặc sấy khô.
▪ Một bó lá có thể được thêm vào trong một bình trà tàu, cải thiện nhiều hương vị, những cũng được thêm vào những tách trái Cây …v…v…
▪ Nó cũng được sử dụng như một hương liệu trong những thức uống alcool khác nhau, bao gồm những loại Chartreuse và Benedictine.

Nguyễn thanh Vân