Tâm sự

Tâm sự

mercredi 4 novembre 2015

Mãn đình Hồng - Thục Quỳ - Hollyhock

Hollyhock
Thục Quỳ - Mãn đình Hồng
Althaea rosea L.
Malvaceae
Đại cương :
Tên thường gặp khác :
Alcea rosea, Alcée Rose, Althaea ficifolia, Althaea rosea, Althea Rose, rose trémière fleur, Malva, Malva Fleur, malvae Arboreae Flos, Passerose, Rose Mallow, Rose de Mer, Rose Papale, Rose Trémière. Tại Việt Nam, tên gọi là Thục Quỳ còn được gọi là Mãn đình Hồng.
Nhà thực vật học ngưởi Thụy điển Carl Linnaeus đã sắp xếp phân loại, xác định Cây này đặt tên là Alcea tiếng Latin và tiếng Hy lạp là Althea để chỉ giống trồng đẹp này. Althea có nghĩa là “ chữa lành bệnh guérison ”. Cây này đã trải qua thời gian dài dùng trong y học chữa bệnh. Rose nghĩa là màu hồng, hồng tím, màu sắc của thời cổ đại.
Giống Cây Alcea bao gồm khoảng 60 loài có nguồn gốc ở Tàu, miền nam Châu Âu, Trung và Cận Đông, Địa Trung Hải và những nước vùng Trung Á.
Giống Althea thuộc họ Malvaceae, có hoa màu tím, gồm những hoa có đặc tính bởi những chỉ của nhụy đực hợp lại và bao lấy vòi nhụy như một ống.
Với một hoa lớn, Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea có chức năng trang trí và là một Cây được dùng làm Cây cảnh trong nhưng công viên, biệt thự và những nơi công cộng.
Cây mọc tốt trong những vùng đất phì nhiêu, ẫm, nhưng phải có độ thoát nước tốt, tìm thấy ngoài thiên nhiên trong những khu rừng, nơi canh tác, nắng ấm.
Cây không chịu được nhiệt độ lạnh mùa động, nên thường trồng là một thực vật hàng năm, nhưng trong những tài liệu cũ của Phần lan, đã trích dẫn một số chủng đã sống sót được qua mùa đông mà không có vấn đề.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ to, cao đến 2 m, đường kính khoảng 5-10 cm,  thân đầy lông thẳng đứng, ít hoặc không phân nhánh, thân tròn, những cây sống trong những điều kiện thuận lợi lâu năm ở một số vùng, có thể đạt đến 2,5 - 4 m và đường kính lên đến 10 – 30 cm, cung cắp nhiều dược liệu.  
Lá, rụng, mọc cách, đơn, phiến có thùy, hình bầu dục rút lại ở đáy nơi mà cuống lá tiếp giao với phiến lá, rộng đến 30 cm, 5 cạnh dạng trái tim, sẽ sâu hình chân vịt thành 5-7 thùy không đều nhau, cấp tính, với những cuống mềm dẽo, bìa phiến có răng và kết cấu của gân lá hình chân vịt, bề mặt trên dưới lá có nhiều lông, mặt trên lá có màu xanh trung bình.
Phát hoa, chùm dài, thẳng, dầy đặc, khoảng 40 phần quả méricarpes trong một vòng xoắn ốc, 2 buồng, không hình thành hoàn hảo chỉ phần thụ bên dưới với 1 hạt.
Hoa, ở phần chót thân, chùm, ít khi đơn lẽ, được bao bên ngoài bởi một tổng bao có 8, 9, 10, hoặc 12 đơn vị,
Hoa to, đều, rộng 10-12 cm, lưỡng phái, có hình dạng cái quặng, màu sắc thay đôi, lá bắc từ 6 đến 9.
- Cánh hoa, 5, có màu sắc theo giống trồng, trắng, hường, đỏ, vàng, thường đôi.
- Đài phụ, 5 đến 6 thùy, có lông trắng.
- Đài hoa, 5 thùy, 2-3 cm,
- Tiểu nhụy nhiều, hợp lại thành ống tiểu nhụy ngắn, bao lấy vòi nhụy như một ống.
- Bầu noãn thượng, noãn sào 25-45 buồng, mỗi bưồng chứa 1 noãn. Vòi nhụy gồm nhiều tâm bì hợp nhất .
Trái, trong đài, phần quả méricarpes không khai, nhiều tâm bì chứa 1 hạt xếp chặt chẻ với nhau chung quanh một trục.
Bộ phận sử dụng :
Chồi non, hoa, rễ, hạt.
Thành phần hóa học và dược chất :
Rễ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea chứa những thành phần như :
- tinh bột amidon,
- pectine,
- chất nhầy mucilage,
- đường sucre,
- chất mộc lignine,
- phosphate calcium,
- dầu cố định huile fixe,
- một chất nhờn visqueuse,
- và asparagine (A. Büchner).
Asparagine (C4H8N2O3.H2O), là một tinh thể hữu cơ không màu, không vị cũng không mùi. Éther và alcool không hòa tan nó, nhưng trích xuất của rễ với nước, từ đó nó có thể được kết tinh thành những tinh thể bởi làm đậm đặc của dung dịch.
Những phản ứng đã chứng minh nó là :
- acide amido-succinamique, có công thức : CO2N.CH2.CHNH2.CONH2.
Khi được đun sôi với những acides hoặc những chất kiềm, nó phân tách ra thành :
- ammoniac,
- và amido-acide succinique hoặc acide aspartique (C4H7NO4).
Asparagine được phân biệt bởi những hoạt động quang học optique của nó, là tả truyền lévogyre, trong dung dịch nước, mà thay đổi sang hữu truyền dextrogyre bởi hành động xúc tác của acide acétique.
Asparagine, khi tinh khiết, được ỗn định trong dung dịch, nhưng nhạy cảm với sự lên men fermentation trong sự hiện diện của chất đản bạch albuminoïdes, nhờ đó mà nó chuyển đổi  thành :
- succinate ammonium.
Asparagine đã được phát hiện bởi Vauquelin và Robiquet, vào năm 1805, trong nước ép của những Cây măng tây asperges, và trong rễ Cây marshmallow (guimauve) Althaea officinalis, như thành phần althein, bởi M. Bacon, vào năm 1826.
Nó giống như chất agedoite, tìm thấy bởi Caventou trong rễ Cây cam thảo réglisse (Jour . de Pharm., xiv., 177), và được tìm thấy trong nhiều cây khác như là : consoude, dahlia, pommes de terre, và những rễ của robinier pseudacacia, …v..v...
▪ Chất nhầy mucilage ( phóng thích từ tinh bột amidon ) của trích xuất rễ Cây trong nước lạnh, tinh bột bởi nước đun sôi.
▪ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea chứa trọng lượng phân tử cao của những polysaccharides acides (1,3 đến 1,6 triệu Dalton) được biết dưới tên mucilages, được tìm thấy trong những hoa và những .
Mucilages là những hợp chất :
- acide glucuronique,
- acide galacturonique,
- rhamnose,
- và galactose.
▪ Fahamiya thấy rằng, trích xuất trong nước của hạt Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea chứa :
- những alcaloïdes,
- đường hydrates de carbone,
- những hợp chất phénoliques,
- và những flavonoïdes,
trong khi trích xuất méthanoliques, chứa tất cả những hợp chất kể trên cũng như :
- những glycosides.
Tuy nhiên, trích xuất chloroforme chỉ chứa những glucides.
▪ Dudek và al, nghiên cứu sự phân phối của những acides phénoliques trong những hoa của Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea var. nigra.
Ông đã nghiên cứu, trích xuất méthanol và những trích xuất trong nước của toàn bộ hoa, những cánh hoa và những đài hoa của Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea (L.) Cav. var. nigra.
▪ Họ đã phát hiện ra rằng Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea có chứa :
- cinnamique acides ( férulique, p-coumarique, caféique),
- benzoi acides (syringique vanillique, p-hydroxybenzoïque),
- và acide p-hydroxyphénylacétique,
- p-coumarique,
- syringique,
- và acide p-hydroxybenzoïque đã được phát hiện hầu như trong tất cả những phần đoạn.
▪ Trong những cánh hoa, hầu như tất cả những acides phénoliques phát hiện đã được tìm thấy ( ngoại trừ acide caféique trong trích xuất méthanolique, syringique và những acides p-ydroxyphenylacetic trong trích xuất méthanolique nước ).
▪ Trong những đài hoa những acides vanilic và p-hydroxyphénylacétique không được tìm thấy.
Tổng số hàm lượng những acides phénoliques trong :
- toàn hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosealà 60 mg%,
- trong những cánh hoa, 120 mg%,
- và 30 mg% trong những đài hoa .
▪ Raknimov và Mezthlumyan đã phát hiện rằng lượng pectines trong những thân là lớn hơn trong những rễ.
Đường, phân lập từ thân và những rễ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea bao gồm :
- arabinose,
- rhamnose,
- galactose,
- xylose
- và acide galacturonique.
▪ Tỹ lệ phần trăm của những hémicelluloses là :
- 26,6% trong những thân,
- và 14,1% trong những rễ.
▪ Lượng protéines trong :
- những thân là 11,3%,
- và trong những rễ 12,1%.
17 acides aminés đã được tìm thấy trong thân và những rễ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea.
Thành phần acides aminés bao gồm :
- valine,
- threaonine,
- méthionine,
- isoleucine,
- leucine,
- lysine,
- phénylalanine,
- histidine
- và arginine.
Acide aminé chủ yếu là :
- asparagine,
- glutamine
- và leucine.
▪ Lượng hémicellulose là :
- 26,6% trong những thân,
- và 14,1% trong những rễ .
Thành phần vi lượng oligo-éléments trong Cây Mãn đình Hồng Althaea rosa đã được xác định.
▪ Lượng nguyên tố khoáng vi lượng :
Pb, Cd, Cu, Zn, Sn, Cr và Fe trong :
- những thân là 30,1, 0,67, 30,0, 93,6, 23,1, 196,0 mg / kg và 106,0,
trong khi, số lượng trong :
- những rễ là : 26.1, 0.83, 24.2, 37.5, 18.5, 200.5 và 790 mg / kg, tương ứng.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được sử dụng trong chữa trị :
- những đau bệnh về ngực maladie de poitrine,
và một nước nấu sắc décoction được sử dụng để :
- cải thiện tuần hòan máu circulation sanguine,
để chữa trị :
- bệnh táo bón constipation,
- đau bụng kinh dysménorrhée,
- xuất huyết hémorragies, v…v..
▪ Những chồi non Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được sử dụng để  :
- dễ dàng cho một sanh đẻ khó khăn accouchement difficile.
Hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea là thuốc :
- làm dịu adoucissant,
- lợi tiểu diurétique
- và làm mềm émollient.
▪ Những hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được thu hoạch khi đã nở ra và được sấy khô bảo quản để sử dụng về sau.
Rễ là chất làm se thắt astringent và làm dịu adoucissant. Nó được nghiền nát và áp dụng như một thuốc dán đắp cataplasme cho :
- những bệnh loét ulcères.
Bên trong cơ thể,
▪ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie.
Hạt Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea có đặc tinh :
- làm dịu adoucissant,
- lợi tiểu diurétique,
- và hạ nhiệt fébrifuge.
Rễ của Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea này, cũng như mỗi cây đã đề cập dưới đây, được mô tả như những chất :
- thay thế substituts, làm mềm émollient và lợi tiểu diurétique, và có thể sử dụng không phân biệt người này hoặc người khác.
Nó được tìm thấy có giá trị dưới hình thức của một nước nấu sắc décoction, trong những bệnh của những niêm mạc muqueuses, như là :
- khàn giọng enrouement,
- chứng viêm nước catarrhe,
- viêm phổi pneumonie,
- bệnh lậu gonorrhée,
- viêm nước bàng quang catarrhe vésical,
- kích ứng thận irritation rénale,
- bệnh kiết lỵ cấp tính dysenterie aiguë,
- và tiêu chảy diarrhée.
trong những trường hợp của :
- tiểu từng giọt strangurie,
- viêm bàng quang inflammation de la vessie,
- tiểu máu hématurie,
- lưu giữ nước tiểu ( bí tiểu ) rétention d'urine,
- một số hình thức sạn gravier,
- và thậm chí hầu như tất cả bệnh của thận affections du rein,
- và bàng quang vessie,
sự sử dụng của nó sẽ tìm thấy lợi ích.
▪ Nhiều sử dụng được thực hiện kết hợp với thành phần tương đương bằng nhau của rau húng xanh menthe vert cho :
- những rối loạn tiết niệu troubles urinaires.
▪ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea scũng có những hiệu quả trong :
- bệnh viêm inflammation,
- và kích ứng dạ dày-ruột irritation gastro-intestinale.
▪▪▪ Như nước nấu sắc décoction phân hủy rất sớm, hoặc trở nên mốc moisi hoặc chua acide, do đó luôn luôn thực hiện với một lượng nhỏ, không quá 1 pintes = 0,473 lít hay 2 pintes = 0,946 lít. mỗi lần, tùy theo nhiệt độ thời tiết.
Ngâm trong nước đun sôi infusion hoặc nấu sắc décoction có thể dùng uống tự do.
Bên ngoài cơ thể,
Rễ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea rất lợi ích trong dạng thuốc dán đắp cataplasme, để thảo luận cho :
- những ung bướu khối u tumeurs viêm đau  inflammatoires douloureuses,
- và tất cả những loại sưng gonflements,
cho dù hậu quả của :
- những vết thương blessures,
- những vết bầm tím ecchymoses,
- cháy phỏng brûlures,
- hoặc những chất độc poisons;
 và đã có, khi được áp dụng, có hiệu quả sung-sướng trong sự ngăn ngừa của sự xuất hiện của những :
- hoại tử gangrène.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Những hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea có những đặc tính :
- làm dịu adoucissante,
- lợi tiểu diurétique,
- làm mềm émolliente,
- và thuộc ngực pectorale,
trong sự lựa chọn tốt nhất, hiệu quả nhất.
 những rễ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea là :
- chất làm se thắt astringente,
- và làm mềm émolliente,
nó được sử dụng nấu chín, làm thuốc dán đắp cataplasme để chữa trị :
- những bệnh loét ulcères.
Trong dược điển truyền thống Tàu ('Chou K'oei') nó khôi phục lại khẩu vị bữa ăn appétit.
▪ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea (L.) là một loại Cây vườn làm cảnh phổ biến. Nó có nguồn gốc ở Tàu, miền nam Âu Châu, Trung vùng Cận Đông củ Địa Trung Hải Méditerranée và Trung Á Asie centrale.  Được sử dụng theo truyền thống như một thuốc :
- long đờm expectorant,
- làm mát refroidissement,
- lợi tiểu diurétique,
- và dịu đau trấn thống emménagogue.
▪ Nước nấu sắc décoction của hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được sử dụng như thuốc :
- chống viêm anti-inflammatoire,
- hạ nhiệt fébrifuge,
- làm dịu adoucissant
- và làm se thắt astringent.
▪ Những rễ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được sử dụng trong chữa trị :
- những bệnh loét ulcères.
▪ Những hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea cũng như những rễ dùng trong chữa trị :
- viêm thận inflammation des reins
- và tử cung utérus.
▪ Những hạt Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được cho là như :
- lợi tiểu diurétique
- và hạ nhiệt fébrifuge.
▪ Những rễ và những hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được sử dụng trong y học Tây Tạng tibétaine, nơi đây nó được cho là có vị ngọt, hương vị chát và một tiềm năng trung tính.
Được sử dụng trong chữa trị :
- viêm những thận / tử cung inflammations des reins / utérus,
- những tiết dịch âm đạo pertes vaginales /  tinh dịch séminal,
và những rễ có đặc tính riêng của nó là sử dụng để chữa trị :
- mất khẩu vị bữa ăn perte d'appétit.
Nghiên cứu :
● Hiệu quả chống siêu vi khuẩn antimicrobiens :
▪ Những hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobiennes của :
- n-hexane,
- methanol,
- éthanol,
- acétate d'éthyle
và những trích xuất trong nước của hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea đã được ghi nhận chống lại những vi khuẩn :
- Escherichia coli,
- Escherichia coli,
- Escherichia coli,
- Staphylococcus aureus,
- Staphylococcus aureus,
- Staphylococcus epidermidis,
- Salmonella typhimurium,
- Enterobacter cloacae,
- Enterococcus faecalis,
- Pseudomonas aeruginosa, như những vi khuẩn bactéries
- và Candida albicans bởi những phương pháp khuếch tán trên đĩa.
● Hiệu quả tim mạch cardiovasculaires :
Trích xuất alcoolique của hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea (L.) :
- gia tăng lưu lượng của động mạch vành artère coronaire của tim heo Guinée bị cô lập,
- và sự giản nở rõ rệt những mạch máu vaisseaux sanguins trong những chân sau của chuột.
Trích xuất cho thấy một hiệu quả hạ huyết áp tạm thời transitoire trên những mèo gây mê anesthésiques.
Nó ức chế sự kết tập tiểu cầu agrégation plaquettaire gây ra bởi ADP và cho thấy một hiệu quả ức chế trên sự hình thành huyết khối thrombose trên thực nghiệm.
Sự ngăn ngừa kết thạch đưòng tiểu lithiase urinaire, trong cả hai :
-  giao thức ngăn ngừa protocoles préventifs,
- và chữa bệnh curatifs,
chữa trị chuột với trích xuất hydroalcoolique của rễ Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea, giảm một cách đáng kể những những tinh thể oxalate de calcium kết động ở thận rein so với nhớm éthylène glycol.
Sử dụng uống trích xuất Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea cũng giảm oxalate trong nước tiểu urinaire tăng cao do éthylène glycol.
● Hiệu quả chống kích thích tố sinh dục œstrogène anti-œstrogéniques :
Trong y học truyền thống dân gian, những hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được xem như :
- dịu đau trấn thống emménagogue.
Dử liệu đã chứng minh rằng ngâm trong nước đun sôi infusion và trích xuất méthanolique của Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea ảnh hưởng đến hoạt động của kích thích tố nội tiết hormonale và ảnh hưởng đến hình thể của những cơ quan sinh dục organes sexuels của những chuột.
Nó làm một hoạt động của kích thích tố nội tiết oestrogénique, nhưng thành phần chính xác trách nhiệm của hoạt động này chưa được xác định.
Những thử nghiệm trên cơ thể sinh vật in vivo cho thấy rằng acide p-hydroxybenzoïque là oestrogénique.
Dudek và al đã chứng minh rằng thành phần hợp chất này hiện diện trong những bộ phận khác nhau của Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea và có thể là trách nhiệm của hoạt động kích thích tố nội tiết oestrogène oestrogénique của nó.
● Hiệu quả trên hệ thống miễn nhiễm système immunitaire :
Trích xuất nước của Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea có những hiệu quả như sau trên hệ thống miễn nhiễm système immunitaire :
▪ Gây ra một phản ứng đa dòng polyclonale không cụ thể ngắn ngủi chỉ ra bởi sự sản xuất IL-4 trong chữa trị ở những chuột không chủng ngừa non immunisé.
▪ Lúc đầu kích thích sự sản xuất kháng thể anticorps chống lại EA anti-EA và IL-4, một T-helper 2 cytokine..
▪ Ngăn chận sự sản xuất của γ-interféron, một T-helper 1 cytokine.
● Những hiệu quả gây độc tế bào cytotoxiques :
Hoạt động gây độc tế bào cytotoxique của :
- n-hexane,
- methanol,
- éthanol,
- acétate d'éthyl,
và trích xuất trong nước của Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea. đã được nghiên cứu bởi xét nghiệm của tôm nước mặn saumure de crevettes.
Ethyl extrait acétate cho thấy một hoạt động gây độc tế bào cytotoxique đối với những con tôm nước mặn crevettes de saumure.
Ứng dụng :
● Sử dụng khác :
▪ Một chất xơ thu được từ những thân Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được sử dụng trong chế tạo giấy. Chất xơ dài khoảng 1,9 mm.
▪ Những thân Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea được thu hoạch vào cuối mùa hè, những được tước bỏ và đem thân luộc chín bằng hơi nước cho đến khi những chất xơ có thể gỡ ra .
Những chất xơ được nấu chín với thuốc giặt trong 2 giờ và sau đó nghiền nát hoặc đập đập với những cái vồ bằng cây trong 3 giờ. Giấy có màu nâu bóng sáng.
▪ Những hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea là một thành phần thay thế chất tăng cường của phân bón với căn bản thực vật ' Quick Return ”. Đây là một hỗn hợp khô và bột của nhiều loại cỏ có thể thêm vào một đống phân bón để gia tốc hoạt động của những vi khuẩn và như vậy rút ngắn thời gian cần thiết để thực hiện phân bón compost.
Hạt chứa 12% một loại dầu khô.
▪ Một màu nhuộm nâu, thu được từ những cánh hoa.
Thực phẩm và biến chế :
Bộ phận ăn được :
Hoa, Lá, Dấu, Rễ, và Thân.
▪ Những lá non, dùng sống hoặc chín.
▪ Vị ngọt, nhưng kết cấu để lại một cái gì không được ưa thích mấy.
▪ Nó được sử dụng như một nồi rau thảo mộc, mặc dù nó không đặc biệt ngon miệng.
▪ Nó cũng có thể cắt nhuyễn và thêm vào salade.
▪ Bộ phận bên trong của thân, ăn sống.
Cánh hoa và nụ hoa Cây Mãn đình Hồng Althaea rosea, ăn sống. thêm vào salade, và được sấy khô làm mùi hương cho trà.
▪ Một trà tươi mát, thực hiện từ những cánh hoa .
▪ Tinh bột dinh dưởng thu được từ rễ.

Nguyễn thanh Vân

lundi 2 novembre 2015

Tâm mộc lưỡng phân - Snotty-gobble - Glueberry

Glueberry - Snotty-gobble
Tâm mộc lưỡng phân
Cordia dichotoma G.Forst.
Boraginaceae
Đại cương :
Cordia được đặc tên cho Ông Euricius Cordus (1486-1535) và con trai của ông Valerius Cordus, (1515 à 1544) là một nhà vật lý học và nhà thực vật học allemands; dichotoma là tiếng Hy lạp, διχοτομος (dichotomos), chẻ làm hai, chia làm 2 phần bằng nhau. Có nhiều sự lầm lẫn trong phân loại thực vật giữa Cây này và Cây Tâm mộc nhớt Cordia myxa.
Một số cơ quan chức năng dường như xem chúng như một Cây, và số ngưới khác thì cho là 2 Cây riêng biệt.
Cây có nguồn gốc của những vùng trải dài từ vùng Địa trung hải phía đông tới miền đông Ấn Độ và đã du nhập một thời gian lâu dài trong Châu Phi nhiệt đới, trong Châu Á nhiệt đới và trong Úc Châu, và gần đây nhất cũng đến Châu Mỹ. Cây cũng xảy ra ở Nouvelle-Calédonie, Malaisie, trong Đông Nam Á..
Cây phát triển trong phạm vi hai đường dưới Himalaya và bên ngoài, cho thấy khoảng 1500 m độ cao so với mực nước biển. Được tìm thấy trong những khu rừng khác nhau, từ những rừng có lá rụng khô của Rajasthan đến khu rừng lá ẫm phía Tây Ghâts và những khu rừng nước triều Miến Điện Myanmar.
Trong những vùng nơi mà lượng nước mưa hằng năm dưới 500 mm, nó phát triển dọc theo những con suối hoặc những nơi trũng độ ẫm sẳn có.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân mộc, cao khoảng 5 đến 10 m, lá rụng hoặc gần như rụng, láng. Gỗ thân, hạt mịn tốt trong những nhánh cành, loài này tăng trưởng khá nhanh, trưởng thành khoảng 50 đến 60 năm, đường kính có thể đạt được khoãng 1,5 m, thân thẳng, hình trụ, những nhánh trải rộng theo môi hướng, tàn được hình thành như một mái vòm ngược, vỏ cây màu nâu xám và những vết nứt theo chiều dọc.
, mọc cách, lá nguyên hơi có răng, hình bầu dục thuôn dài hoặc hình ellip bầu dục, kích thước khoảng  3,5 – 21 x 2,5 – 10,5 cm, cấu trúc mịn, với những bìa lá nguyên hoặc dợn sóng, đỉnh nhọn đáy tròn hoặc có dạng trái tim, có khoảng 4-7 cặp gân lá phụ bên, cuống lá khoảng 2-3 cm dài.
Hoa, lưỡng phái, không cuống, màu trắng hoặc trắng vàng, dài khoảng 7 mm, mọc thành chùm thưa thớt, dài 5-7 cm.
- Đài hoa, hình trứng, ống đài có lông mịn bên ngoài,
- Ống tràng dài hơn đài mở rộng và thùy uốn cong, họng của tràng hoa và những nhụy đực có lông.
Trái, là quả hạch, hơi vàng hoặc hơi hồng trắng, hình trứng, khoảng 10-13 mm đường kính, với một nạt màu hồng, ăn được, dính và hạt nhân cứng.
đài hoa thường tồn tại ở trái có dạng hình quặng, trái hình thành ngay sau khi ra hoa, trái trở thành màu đen khi chín mùi và bột sền sệt.
Bộ phận sử dụng :
Vỏ thân, lá, trái và nạt thịt của trái, hạt.
Thành phần hóa học và dược chất :
Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma chứa một số lượng lớn :
- acide tannique.
Trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma, có những thành phần như :
- saponines,
- acides aminés,
- flavonoïdes,
- đướng sucre,
- chất gomme,
- chất đạm protéines,
- palmitique,
- stéarique,
- những acides linoléiques,
- oléiques,
- béhénique,
- và arachidique.
Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma chứa nguyên chất tương tự với "cathartin."
▪ Trích xuất nạt ( cơm ) pulpe của trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma mang lại :
- những flavonoïdes,
- alcaloïdes,
- và glycoside
● Hóa chất thực vật Phytochimiques :
Nhiều sản phẩm hóa học đã được xác định từ những hạt của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma.
▪ Những hạt chứa :
- α-amyris,
- bétuline,
- octacosanol,
- lupéol 3-rhamnoside,
- β-sitostérol,
- β-sitostérol-glucoside,
- hentriacontane,
- hentriacontane,
- taxifoline 5.3-di-rhamnoside,
- hespérétine-7-rhamnoside
và những acides béo, như là :
- acide palmitique acide,
- acide stéarique,
- acide arachidique,
- acide béhénique,
- acide oléique
- và acide linoléique.
Bốn (4) glycosides flavonoïdes :
- (robinine, rutine, rutoside và datiscoside hespéridine),
một (1) flavanol aglycone :
- (dihydro robinétine )
và những dẫn xuất của phénoliques :
- (acide chlorogénique và acide caféique)
đã được phân lập từ những hạt .
Hoạt động chống viêm anti-inflammatoire đáng kể của hạt là do những thành phần :
- α-amyrine
- và taxifoline 5.3-di-rhamnoside (71,4%, 67,8%, tương ứng ).
- 5-dirhamnoside đã được phân lập ( Larson RA, 1998)
▪ Những hạt cũng chứa :
- những acies béo,
- và những flavonoïdes (Aguilar, NO, 2001).
▪ Xét nghiệm định tính, sự hiện diện của thành phần hóa thực vật phytoconstituents, như là :
- những đường glucides,
- alcaloïdes,
- flavonoïdes,
- glycosides,
- tanins
- và saponines (Parmar, N. S và al., 1998).
▪ Truy tìm thành phần hóa học của những và những trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cho thấy sự hiện diện của :
- pyrrolizidine alcaloïdes,
- coumarines,
- flavonoïdes,
- saponines,
- terpènes
- và những stérols (Alarcon, D. L và al., 1994).
▪ Ether dầu hỏa và trích xuất alcooliques cho thấy giảm đau analgésique đáng kể, những hoạt động :
- chống viêm anti-inflammatoires,
- và chống viêm khớp anti-arthritiques, trong những thử nghiệm ở những chuột.
▪ Trích xuất éthanol của những giảm sự co thắt contractions gây ra bởi chất acétylcholine của hồi tràng iléon chuột Guinée-cochon.
▪ Trích xuất éthanol từ trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cho thấy những đặc tính :
- chống oxy hóa antioxydantes đáng kể do những sắc tố caroténoïdes, nhưng không có hoạt động chống siêu vi khuẩn antimicrobienne chống những vi khuẩn gram dương + hoặc gram âm ─.
● Thành phần dinh dưởng :
▪ Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma là thuốc và nhiều sản phẩm hóa học đã được xác định :
- allantoïne,
- β-sitostérol
- và 3 ', 5-dihydroxy-4'-méthoxy-flavanone 7-O- alpha-L-rhamnopyranoside (KP Tiwari và al., 1979).
▪ Những Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma chứa :
- chất đạm protéines thô  12-15%  ,
- chát xơ thực phẩm thô fibres brutes  16-27%,
- azote extrait tự do  42-53%,
- trích xuất éther  2-3%,
- tổng số tro 13-17%,
- tổng số nguyên tố khoáng  2-4% 
- và / khoảng  0,3% phosphore.
▪ Chất gomme của polysaccharide (97%) thu được từ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được sử dụng cho những mục đích dược phẩm khác nhau.
▪ Nguyên tố chrome Cr hiện diện trong những trái có giá trị chữa trị trong :
- bệnh tiểu đường diabète.
▪ Một trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cũng chứa những yếu tố chống dinh dưởng antinutritionnels, như là :
- acide phytique (355 mg),
- phosphore du phytate (100 mg)
- và acide oxalique (250 mg)
cho 100 g .
Trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma, gồm có khoảng 70% nạt ( cơm ) bao chung quanh hạt;
▪ Thành phần bột nhão pâte cho bởi 100 g, gồm  :
- nước  6 g,
- chất đạm protéines  35 g,
- chất béo 37 g ,
- và đường glucides 18 g.
Hạt chứa bởi 100 g, gồm có :
- nước  32 g,
- chất béo  46 g,
 những acides béo chánh là :
- acide palmitique,
- acide stéarique,
- acide arachidique,
- acide béhénique,
- acide oléique
- và acide linoléique ( Srivastava SK và al, 1979).
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma chứa tanin, do đó nó cũng được sử dụng cho :
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie,
- và những bệnh fièvres
▪ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được sử dụng như :
- điều hòa tính miễn nhiễm immuno-modulateur,
- bệnh tiểu đường diabète,
- để bảo vệ và điều trị gan foie,
▪ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cũng dùng cho :
- lợi tiểu diurétique,
- và nhuận trường laxatif. (Ficarra, R và al., 1995).
Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được xem như :
- chất làm se thắt astringent,
- và là một thuốc bổ tonique.
Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được dùng như :
- chống chứng khó tiêu anti dyspeptiques,
- và như giảm nhiệt fébrifuge.
Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân, chà xát trên răng, để :
- tăng cường củng cố renforcer.
▪ Khi mà vỏ tươi được làm ẫm trong một ít nước , được áp dụng trên :
- những mụn nhọt furoncles,
- và những ung bướu khối u tumeurs,
và cũng vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân được sử dụng bên trong cơ thể cho :
- đau đầu maux de tête,
- và đau dạ dày maux d'estomac.
▪ Những Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được sử dụng cho :
- viêm gan hépatite,
- và bệnh suyễn asthme ở những trẻ em.
và sử dụng để chữa trị :
- loét ulcères,
- và những đau đầu maux de tête.
Trái Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được xem như :
- làm mềm émollient,
- long đờm expectorant,
- giảm đau analgésique,
- chống viêm anti-inflammatoire,
- bảo vệ gan hépatoprotecteur,
- lợi tiểu diurétique,
- diệt giun sán vermifuge
- và kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Những trái của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma này, đã có từ lâu đánh giá cho bột nạt pulpe nhiều chất nhày dính, ăn vào để ngăn chận :
- bệnh ho toux,
- và những bệnh đường hô hấp affections respiratoires,
- và những bệnh của ngực affections de la poitrine,
và để chữa trị :
- đau cổ họng maux de gorge.
Nó cũng sử dụng để chữa trị :
- những rối loạn tử cung troubles de l'utérus,
- và niếu đạo urètre.
Trong một số lượng lớn, được dùng như thuốc :
- nhuận trường laxatif.
▪ Nạt thịt pulpe cũng được áp dụng như :
- làm mềm nhọt ung mủ émollient d'abcès,
- làm dịu đau bệnh thấp khớp  rhumatismales,
- và trục tẩy những giun trùng ký sinh đường ruột vers intestinaux parasites.
Trái tươi cũng được sử dụng để chữa trị :
- bệnh lậu gonorrhée.
trong khi nếu được sấy khô, nó là thuốc cho :
- long đờm expectorant,
- thông mũi efface nasale,
- và tắc nghẽn khí quản congestion bronchique.
▪ Những hạt Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma có những đặc tính :
- chống viêm anti-inflammatoires
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong y học truyền thống Ayurveda Ấn Độ, những vỏ thân Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được sử dụng để chữa trị :
- khó tiêu dyspepsie,
- sốt fièvre,
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh phong cùi lèpre.
Trái Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma tươi được sử dụng trong y học truyền thống cho những đặc tính :
- nhuận trường laxatives,
- và những đau đớn của ngực plaintes de la poitrine,
▪ Trong JavaBengale, vỏ được sử dụng như :
- thuốc bổ tonique.
▪ Trong Java, vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân được sử dụng để chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie;
và với vỏ trái lựu grenade, dùng cho :
- bệnh sốt fièvres.▪ Trong Ấn Độ Inde, theo truyền thống Cây Tâm mộc lưỡng phân sử dụng truyền thống để chữa trị :
- loét đại trường colite ulcéreuse,
- những loét ulcères,
- và của đau bụng tiêu chảy coliques.
▪ Ở Bengale, những trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma tươi được sử dụng như thuốc :
- nhuận trường laxatif,
- và đau ngực pectorale.
▪ Trong Java, trái Cây Tâm mộc lưỡng phân dùng cho :
- bệnh lậu gonorrhée.
▪ Ở PendjabCachemire, trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma khô, sử dụng như thuốc :
- long đờm expectorant.
▪ Ở Pakistan, sử dụng Cây Tâm mộc lưỡng phân như một thuốc bổ và làm lạnh, kích thích :
- đường tiểu irritation des voies urinaires,
- giảm khát soif,
- và ho khan toux sèche.
▪ Trong Tanzanie, Nạt thịt pulpe của trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được áp dụng cho :
- bệnh nấm teigne.
▪ Ở Mali Côte d'Ivoire, những Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được áp dụng trên :
- những vết thương plaies,
- và những loét ulcères.
Nghiên cứu :
● Chống vi khuẩn Antimicrobiens và hoạt động chống nấm antifongique
Tiềm năng kháng khuẩn antibactériennes và chống nấm của vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được điều tra. Hoạt động kháng khuẩn antibactérienne của trích xuất éthanol và trích xuất butanoliques của vỏ đã được thực hiện chống lại cho 2 vi khuẩn Gram âm ─  :
- Escherichia coli,
- và Pseudomonas aeruginosa
và 2 vi khuẩn Gam dương + :
- Streptococcus pyogenes,
- và Staphylococcus aureus.
Hoạt động chống nấm của trích xuất đã được thực hiện chống lại những nấm :
- Aspergillus niger,
- Aspergillus clavatus,
- và Candida albicans,
những nấm gây bệnh pathogènes.
Vùng ức chế của trích xuất đã được so sánh với những tiêu chuẩn khác nhau như :
- ampicilline,
- ciprofloxacine,
- norfloxacine,
- và chloramphenicol
cho một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne, và :
- nystatine,
- griséofulvine
cho một hoạt động chống nấm antifongique.
Trích xuất cho thấy một sự ức chế đáng chú ý vùng tăng trưởng  vi khuẩn bactérienne và nấm fongique và kết quả thu được đã được so sánh với những thuốc tiêu chuẩn chống lại những vi sinh vật thử nghiệm.
● Hoạt động chống siêu vi khuẩn antimicrobienne :
Do đó, những dữ liệu liên quan chỉ để cho thấy những hoạt động ức chế chống lại những loài vi khuẩn bactériennes, nấm fongiques và những men levure thử nghiệm.
Trích xuất Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cho thấy một hoạt động vừa phải chống lại những vi sinh vật thử nghiệm.
Trích xuất trong nước của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma không cho thấy một hoạt động nào chống lại siêu vi khuẩn antimicrobienne chống lại tất cả những siêu vi sinh vật microorganismes thử nghiệm ( Kuppasta, IJ và al., 2003).
● Hoạt động chống viêm anti-inflammatoire :
Màng thấm thấu đã được chuẩn bị bằng cách sử dụng một polymère tự nhiên ( gomme của trái ) của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma với một tỹ lệ phần trăm khác nhau của chất làm dẽo plastifiant ( glycérine 0,10, 0,20 và 0,25% p / v), những chất bảo quản (méthyl paraben 0,1% p / v) và thuốc néomycine (0,2% trong trọng lượng p /thể tích ).
Những màng films đã được chọn bỏ vào trong một tấm kính dưới điều kiện kiểm soát độ khô.
Những màng này đã được đánh giá bởi những thông số khác nhau như là :
- độ dày,
- độ bền với lực kéo,
- độ hấp thụ nước,
- độ bền gấp nếp,
- và thử nghiệm sự kích ứng trên da irritation de la peau.
Những màng đã được truy tìm cho hoạt động chống viêm anti-inflammatoire bằng cách sử dụng chân chuột trên mô hình phù nước oedème gây ra bởi chất carragénine.
Những dữ liệu đã được phân tích với sự sử dụng những thử nghiệm sinh viên étudiant t-test và mức độ có ý nghĩa đã được cố định với P <0,001.
Những kết quả đã được so sánh với thuốc tiêu chuẩn diclofénac sodique.
Tỹ lệ phần trăm của sự ức chế ODEMA đã được xem như một dấu hiệu tiềm năng chống viêm anti-inflammatoire và nó được tìm thấy cao nhất với 0,20% (p / v) của glycerol điều trị động vật trong đó một hoạt động chống viêm anti-inflammatoire đáng kể của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordial dichotoma.
● Normoglycémiques ( Glycémique bình thường ) và bệnh tiểu đường diabète :
Hiệu quả của trích xuất nước của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma trên alloxane gây ra và đường máu bình thường normoglycémiques ở chuột Wistar đã được nghiên cứu.
Ba (3) liều của trích xuất (250 mg / kg, 500 mg / kg và 1 000 mg / kg) đã được nghiên cứu bằng đường uống.
Trích xuất 500 mg / kg của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma không cho thấy một sự thay đổi nào đáng kể trong mức độ đường glucose trong máu ở những chuột Wista đường máu bình thường normoglycémique.
Hiệu quả tương tự, đã được quan sát với liều 250 mg / kg của alloxane gây ra ở những chuột. Wistar khi được so sánh với đối chứng không chữa trị.
Sự giảm đáng kể (P <0,5) trong những mức độ đường glucose trong máu sau 4, 8 và 24 giờ quan sát ở 500 và 1000 mg / kg. liều của trích xuất.
Ở chuột glycémie bình thường normoglycémiques, liều của 1 000 mg / kg của trích xuất  có ý nghĩa (P <0,05) giảm mức độ đường glucose trong máu ở 8 giờ và 24 giờ.
Nghiên cứu tổng quát chio thấy rằng những liều của trích xuất cho thấy cho cả hai đáng kể (P <0,05) hạ đường máu hypoglycémique và những hiệu quả chống đường máu cao hyperglycémiants ở những chuột Wistar.
● Hiệu quả bảo vệ gan gastroprotectrice và chống loét antiulcéreux :
Những hiệu quả bảo vệ dạ dày gastrique của một số trích xuất nhất định của những trái tươi chín của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma đã được nghiên cứu trong mô hình loét dạ dày ulcère gastrique do aspirine gây ra và mô hình thắt môn vị ligature du pylore ở những chuột.
Trích xuất méthanolique và nước đã được quan sát từ trái tươi bằng cách ngâm macération. Một liều uống an toàn đã được tính toán bằng cách dùng OCDE 423 dòng hướng dẫn và nó rơi vào trong loại GSH 5.
Hiệu quả trong sự giảm chỉ số loét được quan sát trong trích xuất nước ở chuột Wistar chữa trị bởi so với những kết quả của trích xuất méthanolique và kết quả được so sánh với thuốc ranitidine tiêu chuẩn (50 mg / kg).
Trích xuất nước cho thấy một hiệu quả đáng kể chống loét anti-ulcère gây ra bởi aspirine trong mô hình loét dạ dày ulcère gastrique (p ≤ 0,001) cũng như trong mô hình thắt môn vị ligature du pylore.
● Hoạt động hóa sẹo chữa lành vết thương cicatrisation :
Hoạt động hóa sẹo làm lành vết thương của trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma đã được truy tìm bằng cách sử dụng 3 mô hình khác nhau, cụ thể là :
- vết thương xẻo,
- vết thương rạch cắt,
- và vết thương không gian chết morts blessure de l'espace ở những chuột Wistar.
Những trái của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma, người ta ly trích với éthanol bởi phương pháp soxhlation và thêm nữa bởi Ether dầu hỏa, dung môi éther, acétate d'éthyle, butanol và phần đoạn butanone đã được chuẩn bị từ trích xuất alcoolique.
Phần đoạn trích xuất éthanol, acétate d'éthyle và butanol cho thấy một hương vị khả quan của flavonoïdes.
Những liều của phần đoạn được xác định bởi nghiên cứu độc tính cấp tính bằng cách sử dụng phương pháp dao động lắc lư và đã được tìm thấy là  300 mg / kg.
Những kết quả đã đượ phân tích bởi thử nghiệm sinh viên student t-test với mức độ đáng kể của p <0,001.
Sự tái sinh những tế bào biểu mô épithélisation trước của vết thương và gia tăng đáng kể của độ bền kéo bởi so với kiểm chứng đã được tìm thấy ở chuột chữa trị với những phần đoạn của trích xuất éthanol.
Nghiên cứu cho thấy rằng những trích xuất của trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma có tiềm năng mạnh của đặc tính chữa lành vết thương.
● Rối loạn thoái hóa dégénérative :
Sự căn thẳng stress gây ra bởi những gốc tự do là nguyên nhân của dòng rối loạn thoái hóa. Singh và cộng sự. tương quan tiềm năng gốc tự do của trích xuất méthanolique của hạt và của những Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cho việc quản lý của những bệnh thoái hóa dégénératives như là lão hóa và tuổi già liên quan với sự rối loạn đi kèm với sự oxy hóa  oxydatif associé.
Hoạt động đã được đánh giá bởi những mô hình trong ống nghiệm, tức là  mô DPPH và mô hình peroxyde d'hydrogène.
Những mô hình này cho thấy một hoạt động chống oxy hóa anti-oxydante tích cực một cách phụ thuộc vào nồng độ và nồng độ cao trưng bày cao nhất (100 pg / ml) của hoạt động chống oxy hóa anti-oxydante. Hoạt động này rõ rệt hơn hết trong trích xuất méthanolique của bởi so với những hạt.
● Hoạt động diệt giun sán vermifuge
Những trích xuất nước và éthanoliques của trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cho thấy một hoạt dộng diệt giun sán vermifuge đáng kể. Nghiên cứu đã được thực hiện bằng cách sử dụng những trùng đất vers de terre Eudrilus.
Nó cho thấy làm tê liệt paralysie và chết những con trùng với một nồng độ từ 10 đến 100 mg / mL một cách phụ thuộc vào liều dùng.
Trích xuất trong nước của trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cho thấy một hoạt hoạt động diệt trùng giun mạnh anthelminthique mạnh hơn trích xuất éthanolique.
Citrates de pipérazine (10 mg / ml) và nước cất đã được sử dụng như một thuốc tiêu chuẩn và kiểm soát tương ứng.
Kết quả cho thấy những trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma có một hoạt động tiềm năng diệt giun sán vermifuge..
● Giảm đau Analgésique, kháng khuẩn  antibactérienne  và hoạt động gây độc tế bào cytotoxique
Trích xuất éthanolique thô của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma đã được đánh giá cho hoạt động :
- giảm đau analgésique,
- kháng khuẩn antibactérien,
- và gây độc tế bào cytotoxique.
Trích xuất có sản xuất một sự ức chế những sự co quằn quại contorsions đáng kể trong acide acétique gây ra sự quằn quại ở những chuột với liều uống 500 mg / kg của trọng lượng cơ thể,.tương ứng (P <0,001), được so sánh với thuốc tiêu chuẩn diclofénac sodium viớ liều 25 mg / kg của trọng lượng cơ thể.
Khi thử nghiệm cho những hiệu quả kháng khuẩn antibactériens bởi phương pháp khuếch tán trên đĩa, nó cho thấy vùng chi phối của sự ức chế chống lại 2 vi khuẩn Gram dương + và Gram âm ─, như là :
- Streptococcus aureus,
- Streptococcus pyogenes,
- Vibrio cholerae,
- Streptococcus epidermis,
- Hafnia,
- và Escherichia coli
được so sánh với thuốc kanamycine (30 ug / ml).
Ngoài ra, khi thử nghiệm độc tính toxicité trên những tôm nước mặn crevettes de saumure thử nghiệm sinh học essai biologique gây chết, trích xuất cho thấy một hoạt động mạnh chống lại loài tôm nước mặn Artemia salina (CL50: 20 pg / mL et LC90: 180 pg / ml).
Kết quả tổng quát đại điện cho những hoạt động :
- giảm đau analgésique đáng kể,
- hoạt động kháng khuẩn antibactériennes,
- và gây độc tế bào cytotoxiques của trích xuất.
Ứng dụng :
● Ứng dụng chữa trị :
▪ Nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được sử dụng để chữa trị :
- chứng khó tiêu dyspepsie.
và được cho là dể :
- dễ dàng tiêu hóa digestion,
- và làm sáng tỏ những vấn đề tiêu hóa problèmes digestifs.
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân, sử dụng như :
- dung dịch súc miệng gargarisme.
▪ Ngâm macérat Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma, được thực hiện để chữa trị :
- những hiệu quả của những loài ruồi tsé-tsé cắn.
và cũng áp dụng cho :
- những vết chích bên ngoài cơ thể  piqûres extérieur.
Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma cũng được sử dụng để chữa trị :
- bệnh sốt fièvre,
- những nhọt ung mủ abcès,
- và ung bướu khối u tumeurs.
được pha trộn với vỏ Cây lựu grenade để chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie.
Vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được làm ẫm, áp dụng trên :
- những mụn nhọt furoncles
- và những ung bướu khối u tumeurs , thúc đẩy sự trưởng thành chín maturation.
▪ cũng được sử dụng cho :
- đau đầu maux de tête,
- và đau dạ dày maux d'estomac.
▪ Bốc vỏ của hạt, nghiền nát thành bột và pha trộn với dầu, sử dụng để chữa trị :
- chữa lành bệnh nấm guérir la teigne.
Bột của vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma được để trên :
- những vết loét miệng aphtes
▪ Nước ép vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma, pha trộn với nước cốt dừa lait de noix de coco, được sử dụng để :
- giảm đau bụng tiêu chảy soulager coliques.
Nhựa của vỏ Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma pha trộn với nước cốt dừa lait de noix de coco, cho :
- những đau bụng tiêu chảy coliques,
▪ Những hạt nhân khi được trộn với dầu, áp dụng trên những vùng ảnh hưởng để :
- loại bỏ nấm ngoài da teigne.
● Những sử dụng khác :
▪ Bột nhão pâte dính, đặc biệt là từ những trái xanh , được dùng rộng rãi như vôi chim ( là một chất dính dùng để bẩy chim ).
- Ở Philippines, những dây thừng được chế biến từ chất xơ của cây.
- Trái, chất keo gélatineuse, màu trắng được sử dụng như keo dán.
- Những con cá, nấu chín được bao bên ngoài bởi những lá .
▪ Trong Birmanie, những người dân Pa-O trồng Cây ( gọi là "thanapet" ) cho những ăn được và những cũng được sử dụng như vỏ bọc trong việc làm ra điếu thuốc cigare trong một số bộ phận nhất định của Birmanie.
▪ Ở Burkina Faso, tro thu được bởi đốt những cành được sử dụng để chế tạo xà-bong.
▪ Trong Đông Nam Á, những được sử dụng như thức ăn cho gia súc.
▪ Những hạt nhân của Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma, chứa :
- số lượng cao của dầu béo huiles grasses,
- và những chất đạm protéines có một tiềm năng như thức ăn cho gia cầm.
Thực phẩm và biến chế :
Toàn Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma là ăn được và sử dụng như một thực phẩm.
Trái Cây Tâm mộc lưỡng phân Cordia dichotoma chưa trưởng thành ( chưa chín ) được ngâm và cũng được sử dụng như một thức ăn thực vật.
▪ Những trái chín được dùng sống, trong khi những trái non mềm được dùng tươi hoặc ngâm như một rau cải.
▪ Hỗn hợp của hoa và sữa đông caillebotte, được áp dụng 2 lần / ngày, được sử dụng để bảo vệ cơ thể chống lại :
- những đợt nắng mặt trời nóng gắt 
▪ Những cũng là một thức ăn tốt.
▪ Những người dân nông thôn của những vùng ven biển của Orissa, ăn những trái chín nguyên thô.
▪ Nghiền nát trái được đưa vào trong chế biến rượu bia sorgho.
▪ Nhân cũng ăn được.
▪ Trong Ấn Độ, những được chuẩn bị như một rau cải.

Nguyễn thanh Vân