Tâm sự

Tâm sự

dimanche 7 décembre 2014

Lý - Bồ Đào - Jambose - Pommier rose

Pommier rose- Jambose
Malabar plum
Cây Lý - Bồ Đào
Syzygium jambos L. Alston
Myrtaceae
Đại cương :
Syzygium jambos có nguồn gốc từ Đông Ấn và Malaisia, được trồng và địa phương hóa trong một số vùng của Ấn Độ, Ceylan và cựu Đông Dương và những đảo của Thái Bình Dương.
Syzygium jambos được du nhập vào trong Jamaïque vào năm 1762 và trở thành nước phân phối ở Bermudes, Bahamas, Antilles.
 ( Morton, J. 1987. Fruits de climats chauds.)
Tại Việt Nam, tên gọi là Cây Lý hay Cây Bồ Đào cùng họ với Cây Mận hay Roi, Myrtaceae.
● Sự phân bố và địa phương hóa :
Cây Lý Syzygium jambos đôi khi được địa phương hóa trong những huyện ven bờ biển miền bắc, trung và đông nam của Queensland.
Tịch hóa ở nước ngoài, miền nam Châu Phi, đông nam Hoa Kỳ ( tức tiểu bang Floride ), Mexique, vùng nam mỹ nhiệt đới, Caraïbes, Mascareignes, Seychelles, và trên nhiều đảo của Thái Bình Dương ( tức đảo Galapagos, đảo Cook, Fidji, Polynésie pháp, Nouvelle-Calédonie, Samoa occidentales và Hawaï ).
● Khí hậu :
Cây Lý Syzygium jambos,  được phân bố rộng rãi trong những vùng có khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới.
Trong Jamaïque, cây được địa phương hóa trong những vùng gần bờ biển đến độ cao khoảng 915 m so với mực nước biển.
Ở Hawaï, từ mực nước biển đến 1200 m. Trong Ấn Độ, lên đến 1350 m, trong Equateur, đến 2300 m.
Với giới hạn độ cao cao, như trong Californie, cây phát triển rất mạnh nhưng lại không cho ra trái.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Đại mộc nhỏ, kích thước trung bình, thường từ 3 đến 15 m, thân hình trụ, nhánh vuông khi còn non, thường xoắn ở gốc, có vỏ nứt mịn trơn, màu xám hồng, có xu hướng phân nhánh thấp, cho một tàn lá dày đặc, mảnh với những nhánh toả rộng dài, thường thì bề rộng vượt quá chiều cao. vỏ nứt mịn, xám hồng. gỗ vàng cứng
, không rụng, mọc đối, phiến lá có màu xanh đậm khi trưởng thành, màu hồng khi còn non, dạng mũi dáo, 2 cm đến 4 cm rộng và 10 cm đến 20 cm dài, không lông đáy nhọn, gân phụ 13-17 cặp, gân bìa cách bìa 2,5 mm, có tuyến bên dưới và cuống lá khoảng 5 - 6 mm ( dưới 13 mm ).
Phát hoa, chùm, thường thì 4 hoặc 5 hoa hợp lại với nhau tạo thành chùm hoa ở đầu ngọn nhánh, nụ hoa xanh.
Hoa, gồm đài hoa 4 thùy, 4 cánh hoa 1,3 cm, màu trắng xanh, lõm, bầu noãn hạ, hường, tiểu nhụy nhiều bao gồm khoảng 400 tiểu nhụy, dễ thấy chỉ dài 4 cm, trắng tạo cho hoa một đường kính khoảng 5 đến 8 cm, bầu noãn hạ, vòi nhụy dài, màu hường, cuống hoa dài khoảng 1,5 cm..
Trái, phì quả vàng, trung tâm trống rỗng, dạng bầu dục hoặc hơi giống quả lê, thơm, nạt xốp, mỏng màu vàng, ít nước, ngọt, hương vị thơm. Trái vỡ ra có thể tìm thấy hạt trong khoang.
Hột, xám, nhiều hay ít hạt (1-3) đường kính 1 đến 1,5 cm., màu nâu, Khi trưởng thành vách màng nới rộng tách hạt với nạt và khi trái vở ra người ta có thể tìm thấy hạt trở nên lỏng lẻo.
Bộ phận sử dụng :
Tất cả những bộ phận trên không, thân, lá, hoa, trái, hạt và rễ.
Thành phần hóa học và dược chất :
Vỏ thân Cây Lý Syzygium jambos chứa :
- tanin 2,4%,
- alcaloïde,
- jambosine.
▪ Những vỏ Cây Lý Syzygium jambos chứa :
- một alcaloïde,
- jambosine,
- tanins,
- và oléorésine.
▪ Những trái Cây Lý Syzygium jambos chứa những acides aminés tự do, như là :
- acide aspartique,
- và cystine,
- alanine,
- glutamine,
- threonine,
- tyrosine,
- acide folique,
và những chất liên hợp của nó :
- carotène,
- thiamine,
- niacine,
- acide ascorbique,
- và đường giảm sucres réducteurs - dextrose 3,45%; (Ghani, 2003).
- Ocimène,
- α-pinène,
- (+) camphène,
- (-) limonène,
- cadinène,
- (+) bornéol ,
- và α-terpinéolđã được phân lập từ dầu thiết yếu của (Rastogi & Mehrotra, 1993).
▪ Những hạt :
- 3% de tanin,
- và acide gallique 0,019%.
Vỏ của rễ Cây Lý Syzygium jambos chứa :
- jambosine,
- và oléorésine.
► Giá trị thực phẩm cho 100 g của phần ăn được *
Năng lượng Calories    56
Độ ẫm                           84.5-89.1 g
Chất đạm Protein          0.5-0.7 g
Chất béo lipides            0.2-0.3 g
Đường Glucides           14.2 g
Chất xơ thực phẩm       1.1-1.9 g
Tro                                0.4-0.44 g
Calcium Ca                   29-45.2 mg
Magnesium Mg             4 mg
Phosphore P                  11.7-30 mg
Sắt Fe                            0.45-1.2 mg
Sodium Na                    34.1 mg
Potassium K                  50 mg
Đồng Cu                        0.01 mg
Sulfur S                         13 mg
Chlore Cl                       4 mg
Carotene                        123-235 I.U.
Thiamine                         0.01-0.19 mg
Riboflavin                        0.028-0.05 mg
Niacin                             0.521-0.8 mg
Acide ascorbique           3-37 mg
* Phân tích thực hiện trong Trung Mỹ và nơi khác.
Đặc tính trị liệu :
Tất cả những bộ phận của Cây Lý Syzygium jambos đã được ghi nhận là được sử dụng trong y học truyền thống ở những vùng nhiệt đới.
Cây Lý Syzygium jambos có một lịch sử lâu dài của sự sử dụng trong y học truyền thống Ấn Độ để chữa trị nhiều bệnh.
▪ Nhiều bộ phận của Cây Lý Syzygium jambos sử dụng trong y học như :
- một thuốc bổ tonique,
- hoặc một thuốc lợi tiểu diurétique.
▪ Trong Đông Dương, tất cả những bộ phận của Cây Lý Syzygium jambos được sử dụng cho :
- tiêu hóa digestif,
- một chất kích thích stimulant,
và cho :
- những rối loạn của răng troubles de dents.
▪ Cây Lý Syzygium jambos là một thảo dược :
- hạ sốt antipyrétique,
- và chống viêm anti inflammatoire,
của y học dân gian Châu Á. 
▪ Những bộ phận trên không của Cây Lý Syzygium jambos thể hìện một hoạt động :
- lợi tiểu diurétique
( Plantes médicinales indiennes Un Dictionnaire Illustré )
Vỏ Cây Lý Syzygium jambos có đặc tính :
- làm se thắt astringent,
- chống tiêu chảy antidiarrhéique,
- chống bệnh kiết lỵ antidysentérique.
- chống viêm anti-inflammatoire.
Vỏ Cây Lý Syzygium jambos chứa từ 7 đến 12,4% chất tanin và cho những đặc tính :
- buồn nôn émétiques,
- và tẩy xổ cathartiques.
▪ Nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Lý Syzygium jambos được dùng uống để chữa trị :
- dịu cơn suyễn asthme,
- viêm phế quản bronchite,
- và khàn giọng enrouement.
▪ và những nghiên cứu gần đây cho thấy trích xuất Cây Lý Syzygium jambos có một hiệu quả :
- giảm đau analgésique
so sánh với chất morphine ở chuột rats.
▪ Nước nấu sắc décoction của Cây Lý Syzygium jambos cũng dùng như một thuốc :
- lợi tiểu diurétique,
- và long đờm expectorant,
và chữa trị :
- những bệnh thấp khớp rhumatismes.
và như thuốc :
- hạ nhiệt fébrifuge. 
- bệnh tiểu đường diabète,
mặc dù một số nghiên cứu cho thấy trích xuất của lá không có hiệu quả như một yếu tố hạ đường máu hyperglycémiques trong hệ thống y học truyền thống Ấn Độ.
Bột Cây Lý Syzygium jambos được dùng để chà xát trên thân thể của bệnh nhân mắc bệnh :
- đậu mùa variole
để có hiệu quả làm mát refroidissement.
▪ Trích xuất của Cây Lý Syzygium jambos cũng đã cho thấy có một hoạt động chống siêu vi khuẩn antivirale đối với :
- herpès simplex loại 1 và loại 2,
và chống lại :
- vi khuẩn viêm miệng mụn nước vésiculaire stomatis.
▪ Dầu thiết yếu thu được từ Cây Lý Syzygium jambos, là một nguồn tốt của
- dl-alpha-pinène
▪ Một pha chế ngào đường ngọt của những hoa Cây Lý Syzygium jambos được cho là giảm :
- sốt fièvre.
Trái Cây Lý Syzygium jambos được dùng như thuốc bổ tonique cho :
- não cerveau,
- và gan foie,
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion Trái Cây Lý Syzygium jambos hành động như :
- một thuốc lợi tiểu diurétique.
▪ và những hạt của Trái Cây Lý, đã được sử dụng để chữa trị :
- bệnh tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- và chứng viêm nước catarrhe.
▪ Nước ép jus của Trái Cây Lý Syzygium jambos tươi chứa :
- alanine,
- acide aspartique,
- cystine,
- hoặc cystéine,
- glutamine,
- thréonine,
- và tyrosine.
▪ Nước ép jus của Cây Lý Syzygium jambos ngâm macérées được cho uống như :
- thuốc hạ nhiệt fébrifuge.
▪ Trong những nền văn hóa Nam Mỹ sud-américaines, những hạt Trái Cây Lý Syzygium jambos ngoài ra còn được sử dụng như :
- một chất gây mê anesthésique,
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Đông Dương, tất cả những bộ phận Cây Lý Syzygium jambos được dùng như :
- chất kích thích stimulant,
- và tiêu hóa digestif
và như một đơn thuốc để giải quyết những :
- những vấn đề của răng dents.
▪ Trong Bắc Miến Điện nord du Myanmar, những Cây Lý Syzygium jambos được đun sôi và nước nấu sắc décoction áp dụng cho :
- đau mắt yeux endoloris.
▪ Ở Cambodge, ngâm trong nước đun sôi infusion Lá Cây Lý Syzygium jambos, được đưa ra cho :
- bệnh sốt fièvre.
▪ Trong Inde, sử dụng để chữa trị :
- những bệnh nhiễm trùng infections.
▪ Trong El SalvadorNicaragua, ngâm trong nước đun sôi infusion hạt Trái Cây Lý Syzygium jambos, rang lên, nghiền thành bột được sử dụng như một đơn thuốc cho :
- những bệnh tiểu đường diabétiques.
 [T.K. Lim, médicinales comestibles et non des plantes médicinales: Volume 3, Fruits]
▪ Ở Brésil, một nước nấu sắc décoction của khô Cây Lý Syzygium jambos được đưa ra trong :
- bệnh tiểu đường diabète.
▪ Trong Colombie, những hạt Trái Cây Lý Syzygium jambos sử dụng cho đặc tính :
- gây mê anesthésique.
▪ Người dân cuba nghĩ rằng rễ Cây Lý Syzygium jambos là một đơn thuốc giải quyết có hiệu quả cho :
- chứng động kinh épilepsie.
▪ Trong y học truyền thống Ayurveda của Ấn Độ, Cây Lý Syzygium jambos có tính bình pacifique làm :
- mất hiệu lực của pitta,
- tiêu chảy diarrhée,
- đau bụng tiêu chảy  coliques,
- những vết thương plaies,
- những vết loét ulcères,
- viêm miệng stomatite,
- và sự suy nhược tổng quát débilité générale.
Nghiên cứu :
● Kháng siêu vi khuẩn antimicrobiens / Tanins :
Trích xuất của Cây Lý Syzygium jambos, nghiên cứu cho thấy có một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne chống lại với những vi khuẩn :
- Staphylococcus aureus,
- Yersinia enterocolitica,
- staphylocoque coagulase (-) âm négative.
Hoạt động dường như liên quan đến hàm lượng cao chất tanin.
● Chống vi nấm sợi gây bệnh ngoài da, tóc, móng Antidermatophytique / Triterpenoids :
Nghiên cứu cho đuợc triterpénoïdes được biết :
- friedeline,
- acétate ß-amyrine,
- acide bétulinique,
- và lupéol.
Những kết quả cho thấy một hoạt động chống lại nấm sợi gây bệnh ngoài da, tóc, móng tay antidermatophytic chống lại 3 loài :
- Microsporum audounii,
- Tricophyton soudanense,
- và T mentagrophytes.
● Làm sạch những gốc tự do piégeage des radicaux / dihydrochalcones :
▪ Khái niệm gốc tự do :
Những gốc tự do căng thẳng dẫn đến một sự tổn thương những mô tế bào và sự tiến triển của những bệnh như là :
- viêm khớp arthrite,
- sốc xuất huyết choc hémorragique,
- xơ vữa động mạch athérosclérose,
- bệnh tiểu đường diabète,
- tổn thương gan lésion hépatique,
- sự lão hóa vieillissement,
- và thiếu máu cục bộ ischémie.
Sự sản xuất của những gốc tự do là không thể giải quyết được liên quan đến với quá trình viêm inflammatoire.
Những gốc tự do khởi đầu do :
- những phản ứng miễn nhiễm réponse immunitaire,
- tuyển dụng của những tế bào viêm cellules inflammatoires,
- và diệt khuẩn bẩm sinh naturellement bactéricide.
Một số nhất định những gốc tự do này đóng một vai trò tích cực thực hiện trên cơ thể sinh vật  in vivo như là :
- sản xuất năng lượng production d'énergie,
- thực bào phagocytose,
- điều hòa sự tăng trưởng của tế bào croissance cellulaire,
- và tín hiệu nội bào signalisation intercellulaire,
- và sự tổng hợp của thành phần sinh học quan trọng .
Tuy nhiên, những gốc tự do rất có hại trong việc tấn công lipides trong những màng tế bào và cũng cho nhiễm thể ADN, gây ra những sự oxy hóa nguyên nhân của những tổn thương của màng tế bào như là :
- oxy hóa chất béo không bảo hòa màng tế bào peroxydation lipidique membranaire,
- và giảm tính lỏng của màng fluidité de la membrane,
- và cũng gây ra sự đột biến của nhiễm thể ADN dẫn đến bệnh ung thư cancer.
Gốc tự do và oxy hóa kích hoạt những yếu tố nguyên tử -κB, một yếu tố phiên mả hạch nhân transcription nucléaire, dẫn đến một sự gia tăng bài xuất những chất gây viêm pro-inflammatoires như là :
- interleukine-1,
- l'interleukine -8,
- và yếu tố hoại tử của ung bướu –α1. nécrose tumorale -α1.
Điều này sẽ kích thích :
- phản ứng miễn nhiễm réponse immunitaire;
- gia tăng sự sản xuất oxy hóa oxydant,
- và có thể dẫn đến những tổn thương khác cho mô tế bào tissulaires.
Một sự làm sạch những gốc tự do có thể phục vụ như một can thiệp dự phòng có thể được cho những bệnh qua trung gian những gốc tự do :
- Dihydrochalcones :
Nghiên cứu trích xuất của lá Cây Lý Syzygium jambos  mang lại 3 dihydrochalcones :
- phloretine 4'-O-méthylique (2'6'-dihydroxy-4-methoxy-dihydrochalcone,
- myrigalone G,
- và myrigalone B,
cho thấy những đặc tính làm sạch gốc tự do piégeage des radicaux đối với những thử nghiệm DPPH.
● Chống oxy hóa antioxydant / trái chín chưa chín :
Nghiên cứu cho thấy trích xuất của nạt trái Cây Lý Syzygium jambos.
- Trong tình trạng chín có những đặc tính chống oxy hóa antioxydantes thấp,
- và hoạt động hoạt động làm sạch gốc tự do piégeage des radicaux libres được tìm thấy trong trạnh thái chưa chín.
Tuy nhiên, cả hai cho thấy lợi ích như :
- một chống oxy hóa tự nhiên antioxydants naturels.
● Kháng vi khuẩn antimicrobiens :
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kháng khuẩn antimicrobienne của Cây Lý Syzygium jambos chống lại 8 vi sinh vật khác nhau, cụ thể là :
- Staphylococcus aureus,
- Bacillus subtilis,
- Escherichia coli,
- Klebsiella pneumoniae,
- Proteus vulgaris,
- Pseudomonas aeruginosa,
- Salmonella Typhi,
- và Vibrio cholerae.
Trích xuất khác nhau cho thấy mức độ của hoạt động ức chế thay đổi khác nhau. Nhìn chung, trích xuất acétone được tìm thấy là có hiệu quả cao hơn hết.
● Kháng khuẩn antibactérien / chống viêm anti-inflammatoire / mụn acné vulgaire :
Mụn được xem như một rối loạn mãn tính của da kết quả do sự sản xuất của những loài phản ứng với oxygène do sự tham gia của loài Propionibacterium acnes ở trong da.
Nghiên cứu cho thấy Cây Lý Syzygium jambos có hiệu quả:
- kháng khuẩn antibactérien,
- chống oxy hóa anti-oxydant,
- và chống viêm anti-inflammatoires,
bảo đảm cho những nghiên cứu lâm sàng clinique cho sự sử dụng có thể thay thế yếu tố chống mụn trứng cá anti-acné.
Ứng dụng :
▪ Dầu thiết yếu màu vàng, quan trọng trong kỹ nghệ dầu thơm parfumerie, là một dẫn xuất từ lá Cây Lý Syzygium jambos bởi sự chưng cất hơi nước.
Dầu chứa, trong số những đặc tính :
- 26,84% dl-a-pinène,
- và 23,84% L-limonène,
và có thể có sự hỗ trợ tăng viện với một nguồn của những thành phần này để sử dụng trong kỹ nghệ dầu thơm.
Vỏ Cây Lý Syzygium jambos chứa 7% chất tanin dựa trên trọng lượng khô và được sử dụng bởi những người dân địa phương với mục đích thuộc da và nhuộm.
Vỏ Cây Lý Syzygium jambos cũng cung cấp một chất nhuộm màu nâu.
▪ Những nhánh mềm dẻo, phân chia dễ dàng. Có giá trị để làm vách, những thùng lớn và cũng có giá trị để đan giỏ lớn.
Lỏi của gỗ màu đỏ hoặc màu nâu, dát gỗ mà trắng.
Gỗ thẳng, hạt gỗ mịn, nặng trung bình và bền. Gỗ không bền trong lòng đất, dễ bị tấn công bởi những con mối gỗ khô.
▪ Gỗ dùng làm nhiên liệu đốt rất tốt và làm than.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Trên khắp thế giới nhiệt đới, trái Cây Lý Syzygium jambos phần lớn được những trẻ em chiếu cố hái ăn hết, nên trái ít khi tìm thấy bán trong những chợ.
▪ Trong nhà, đôi khi được nấu chín với đường và phục vụ như thức ăn tráng miệng.
▪ Người ta nhồi vào trong Trái Lý với một hỗn hợp gạo và thịt, phủ lên với một nước sauce cà chua gia vị tỏi nghiền nhỏ và nấu trong vòng 20 phút. Những thay đổi thành phần có thể không giới hạn.
▪ Những trái Cây Lý Syzygium jambos được biến chế thành mứt hoặc thạch thêm nước chanh.
▪ Trong Jamaïque, những trái Cây Lý Syzygium jambos được cắt làm đôi hoặc thái thành lát ngào đường, hầm chúng trong nước đường sirop đậm đặc với quế …….
▪ Những hoa Cây Lý Syzygium jambos là nguồn giàu mật cho những con ong và mật ong Hoa Lý có một màu vàng hổ phách tốt. Một phần lớn từ những thung lủng của sông San Cristobal ở Cuba.
( Morton, J. 1987. Fruits de climats chauds.)


Nguyễn thanh Vân

vendredi 5 décembre 2014

Mân-Roi- Water apple

Water apple - Jamalac
Mận - Roi
Syzygium samarangense (Blume) Merrill & Perry
Myrtaceae
Đại cương :
Syzygium samarangense là một cây ăn trái có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, thuộc họ Myrtaceae, được trồng nhiều ở những nước như Việt Nam, Đài Loan, Thái Lan, Bangladesh.....
Mận gồm có 2 loại variété : một màu hồng đỏ và một loại cho trái trắng.
Ở Việt Nam hiện có dưới 2 tên thông thường khác nhau, tại miền Nam gọi là Cây Mận trái Mận còn miền Bắc tên gọi là Roi hay trái Roi.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Đại mộc nhỏ 5-15 m cao, có một thân ngắn, vỏ dày, nhiều nhánh mở ra, nhánh non hơi vuông dẹp.
, nguyên, mọc đối, có phiến to 10 đến 25 cm dài và 5 đến 12 cm rộng, láng dai, rất thơm khi nghiền nát, đáy tròn hay hơi hình tim, gân lá hình lông chim, gân bìa 2, gần như không cuống 4-5 mm, màu vàng sang xanh lá cây sẫm.
Chùm tụ tán, rủ xuống, mọc ở ngọn của những nhánh hay hợp thành những nhóm nhỏ ở nách lá, từ 3 đến nhiều hoa.
Hoa, lưỡng phái cao 3-4 mm, đài hoa hình thùy 4-5, cánh hoa 4-5 màu trắng, có thể vắng mặt, tiểu nhụy thường rất nhiều, chỉ rời hoặc thành 5 bó đối diện với cánh hoa, nhiều tuyến ở ngọn, bao phấn 2 buồng, bầu noãn hạ hay bán hạ hoặc rất hiếm bầu noãn thượng, 1 đến nhiều buồng, nhiều noãn mỗi buồng, vòi nhụy duy nhất xanh dài, nuốm duy nhất.
Trái, phần ăn được phì quả trắng, hường hay xanh, da như sáp, phát triển thành chùm trái ở ngọn nhánh, hình quả lê, màu vàng nhạt trở nên màu đỏ khi chín. Da rất mỏng, nạt ăn được xốp, ngọt hoặc vị nhạt, mùi thơm, với 4 đài hoa còn lại ở đỉnh.
Hột, giữa nạt có chứa 1 đến 3 hạt dạng tròn, hoặc không hạt, phủ bởi một màng hơi đỏ và lá mầm xanh nhạt.
Bộ phận sử dụng :
Vỏ thân, rễ, lá, trái, hạt và hoa.
Thành phần hóa học và dược chất :
Cây Mận-Roi Syzygium samarangense (đồng nghĩa Eugenia javanica Linn.). Thường được gọi là  « makopa » được trồng khắp nơi ở Philippines để cho trái .
Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng như thuốc :
- chống sốt antipyrétique,
- và lợi tiểu diurétique.
Thành phần hóa thực vật phytoconstituents :
Những nhà điều tra đã tìm thấy thành phần chủ yếu của cây là chất :
- tanins
Cây Mận-Roi Syzygium samarangense chứa :
- lupéol (triterpénoïde),
- bétuline (triterpénoïde),
- squalène,
- épi-betulinicacid (triterpénoïde),
- 2, 4-dihydroxy-6-méthoxy-3-méthylchalcone,
- 2-hydroxy-4, 6-diméthoxy-3-méthylchalcone,
- 2, 4-dihydroxy-6-méthoxy-3, 5-dimethylchalcone,
- 2, 4-dihydroxy-6_-méthoxy-3-methyldihydrochalcone,
- 7-hydroxy-5-méthoxy-6, 8-dimethylflavanone,
- 2-hydroxy-4, 6-diméthoxy-3-methyldihydrochalcone,
- 2, 4-dihydroxy-6-méthoxy-3, 5-dimethyldihydrochalcone,
- sitostérol,
- α-carotène và β-carotène.
và một hỗn hợp của :
- stéarate cycloartényle,
- stéarate lupenyl,
- β-sitosterylstearate,
- và 24 methylenecycloartenylstearate.
từ những lá khô ngoài không khí của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense.
● Dầu lá Cây Mận-Roi Syzygium samarangens, chủ yếu bao gồm thành phần hợp chất :
- monoterpènes (30% sesquiterpènes, 9% caryophyllène).
● Những bộ phận trên không của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense, chứa :
- acide ursolique,
- acide Jacoumaric,
- và acide arjunolique,
- mearnsitrin,
- 2 - C-méthyl-5-O-Galloylmyricetin-3-O-α-L-rhamnopyranoside,
- desmethoxymatteucinol,
- 4, 6 dihydroxy-2-méthoxy-3, 5-Dimethylchalcone ,
- methyl 3-épi-betulinate,
- acide oléanolique.
cũng có chứa :
- desmethoxymatteucinol,
- 5-O-méthyl-4-desmethoxymatteucinol,
- acide oléanique.
Glycosides quercétine cũng hiện diện trong Cây Mận-Roi Syzygium samarangense này bao gồm :
- reynoutrin,
- hyperin,
- myricitrine,
- quercitroside,
- quercétine,
- guaijaverin.
Cây Mận-Roi Syzygium samarangense cũng chứa :
- flavanone
- (S)-pinocembrin,
- và phénolique acids,
- acide gallique,
- và acide ellagique.
Đặc tính trị liệu :
Những bộ phận khác nhau của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng trong y học truyền thống, và một số nhất định hiệu quả đã được chứng minh là có :
- hoạt động kháng sinh antibiotique.
▪ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense chứa những chất tanins và là chất làm se thắt astringente, đặc biệt, vỏ, những , và những rễ của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng để chống :
- những bệnh khác nhau .
▪ Những hoa Cây Mận-Roi Syzygium samarangense là chất làm se thắt astringentes và được sử dụng ở Taiwan để chữa trị :
- sốt fièvres,
- và ngưng tiêu chảy stopper la diarrhée.
▪ Thành phần hoạt động chánh là tanin, mặc dù những hoa cũng chứa :
- desmethoxymatteucinol,
- 5-O-méthyl-4'-desmethoxymatteucinol,
- acide oléanique,
- và B-sitostérol.
Trong nghiên cứu khoa học, Những thành phần hợp chất hóa thực vật trong trái, hoa Cây Mận-Roi Syzygium samarangense cho thấy một hành động kháng sinh kém antibiotique chống lại những vi khuẩn :
- Staphylococcus aureus,
- Mycobacterium smegmatis,
- và Candida albicans.
(Morton, J. 1987. Trái của khí hậu nóng Fruits de climats chauds.)
▪ Trong quá trình chưng cất hơi nước của trái  hoạt động như một thuốc :
- lợi tiểu diurétique.
▪ Một chuẩn bị thêm đường của những hoa được xem như để :
- giảm sốt fièvre.
▪ Nước nấu sắc décoction của Cây Mận-Roi  được sử dụng cho :
- đau viêm mắt yeux endoloris,
chức năng cũng như :
- lợi tiểu diurétique,
- và long đờm expectorant,
và là một đơn thuốc giải quyết cho :
- những bệnh thấp khớp rhumatismes.
▪ Một số nhất định của sự lợi ích trong y học truyền thống, tuy nhiên không được xác nhận trong phương pháp chẩn bệnh tại chổ lâm sàng cliniquement
▪ Những hạt Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng đối với những bệnh như :
- tiêu chảy diarrhée,
- kiết lỵ dysenterie,
- và cũng cho chứng viêm nước catarrhe.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu y học, cả hai hạt và cũng như rễ là :
- độc hại toxiques,
và trong thực tế được sử dụng một cách hết sức thận trọng.
► Nghiên cứu cơ chế hóa học :
▪ Gần đây người ta có ghi nhận :
- hiệu quả giảm đau mạnh analgésique puissant,
- và những hoạt động chống viêm anti-inflammatoires,
- và độc tính không đáng kể,
▪ Trên những mô phôi con cá ngựa poisson zèbre của một hỗn hợp :
- cycloartényle stéarate (8a),
- lupenyl stéarate (8b),
- sitosteryl stéarate (8c),
- và 24-stéarate methylenecycloartenyl (8d),
của trích xuất dichlorométhanecủa những lá khô ngoài không khí của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense
▪ Một nghiên cứu trước đó chỉ ra rằng trích xuất méthanolique của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense thể hiện một hoạt động chống tiểu đường cao antidiabétique, trong khi một nghiên cứu gần đây báo cáo rằng :
- 2 ', 4'-di hydroxy-6'-méthoxy-3', 5'-dimethylchalcone,
- và 5-O-methyl-4′ desmethoxy matteucinol
của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense giảm một cách đáng kể nồng độ đường glucose trong đường máu cao hyperglycémiant ở chuột khi cho uống 15 phút sau khi tải glucose, trong khi :
- 2', 4 'dihydroxy-6'-méthoxy-3', 5'-dimethylchalcone,
giảm hạ đáng kể những mực đường glucose trong máu của chuột bệnh tiểu đường diabétiques gây ra bởi chất alloxane.
▪ Những hợp chất phân lập từ trích xuất hexane của lá Cây Mận-Roi Syzygium samarangense:
- 2 ', 4'-dihydroxy-6'-méthoxy-3'-méthylchalcone,
- 2', 4'-dihydroxy-6'-méthoxy-3'-méthyl dihydrochalcone ,
- 2'-hydroxy-4 ', 6'-diméthoxy-3'-méthylchalcone,
- α- et β-carotène,
- lupéol,
- bétuline,
- acide épi-bétulinique épi,
- và β-D-sitosterylglucoside
thể hiện đáng kể :
- một sự ức chế chọn lọc chống lại prolyl endopeptidase, là một phân hóa tố trong người được mã hóa bởi những nhiễm thể PREP.
▪ Bốn (4) flavonoïdes được phân lập từ trích xuất hexane của Cây Mận-Roi Syzygium. samarangense cho thấy một hoạt động :
- chống co thắt với liều phụ thuộc.
Một nghiên cứu khác, chỉ ra rằng thành phần :
- 2 ', 4'-dihydroxy-6'-méthoxy-3', 5'-dimethylchalcone,
của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense thể hiện một gây độc tế bào cytotoxicité khác nhau đáng kể chống lại :
- dòng tế bào MCF-7 cellules,
và gây độc tế bào cytotoxicité chọn lọc đáng kể chống lại :
- RAD 52 chủng nấm men đột biến 
► Những lợi ích cho sức khỏe của Mận Roi :
● Sự ngăn ngừa ung thư tiền liệt tuyến cancer de la prostate :
Trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense cho thấy để ngăn chận sự phát triển của :
- ung thư tiền liệt tuyến cancer de la prostate.
Nói chung, những bác sỉ cho rằng những người đàn ông có một cơ hội trung bình cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt cancer de la prostate được thực hiện một giải pháp lựa chọn thay thế với tất cả những gì có ở chung quanh để có lợi ích cho sức khỏe mà họ nghĩ rằng để tránh bệnh ung thư tuyến tiền liệt cancer de la prostate.
Có một số nhất định những bằng chứng, sự chọn lọc chế độ ăn uống bổ dưởng thấp những chất béo và cũng được đóng gói với những rau cải và trái cây có thể giảm thiểu được nguy cơ :
- ung thư tuyến tiền liệt cancer de la prostate.
● Giảm hạ cholestérol :
Trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense thường được dung nạp chung với vitamine C và cũng như những chất xơ thực phẩm, một thành phần chất đã được chứng minh là làm giảm :
- nồng độ cholestérol.
Trong một nghiên cứu duy nhất, với 125 người tình nguyện được biết một sự giảm điển hình ở mức độ 19% cholestrerol sau khi tiêu thụ trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense chỉ trong một (1) tuần.
● Lợi ích cho những bệnh tiểu đường diabétiques :
Trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense có một hiệu quả trên tuyến tụy pancréas trong bệnh tiểu đường diabète và lại hoạt động như một khối của sự chuyển đổi từ tinh bột amidon thành đường.
Những hạt Cây Mận-Roi Syzygium samarangense thu được một đường glucose trong đó được gọi là jamboline có thể sấy khô và biến thành bột, bột này đặc biệt có thể dùng kèm với nước từ 3 đến 4 lần / ngày để giúp giảm lượng đường trong nước tiểu.
● Trái Mận tốt cho não cerveau và gan foie :
Trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được công nhận như một thuốc bổ tonique cho :
- não cerveau,
- và cũng cho gan foie.
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion trái mận hành xử như :
- một lợi tiểu diurétique
▪ Một bào chế nước ngọt sirop của hoa được xem như để :
- giảm sốt fièvre.
▪ Nước nấu sắc décoction của Cây Mận-Roi được sử dụng cho :
- đau viêm mắt yeux endoloris,
Chức năng bổ sung như :
- lợi tiểu diurétique,
- long đờm expectorant,
và cũng chữa lành cho :
- những bệnh thấp khớp rhumatismes.
▪ Nước ép jus của những Cây Mận-Roi Syzygium samarangense ngâm được uống như :
- hạ nhiệt fébrifuge.
▪ Bột của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense đã được áp dụng đấp trên cơ thể của những người mắc bệnh :
- đậu mùa variole,
 để có kết quả làm mát refroidissement.
Kinh nghiệm dân gian :
Trong y học truyền thống :
▪ Thân :
Nước nấu sắc décoction của thân Cây Mận-Roi Syzygium samarangense sử dụng để chữa trị :
- bệnh tiêu chảy diarrhée.
▪ Vỏ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense :
Nước ép của vỏ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng để chữa trị :
- những vết thương blessures,
▪ Lá Cây Mận-Roi Syzygium samarangense :
được sử dụng như chất làm se thắt astringent, để chữa trị :
- bệnh sốt fièvre,
- và ngưng tiêu chảy diarrhée.
▪ Ở Malais, bột của lá Cây Mận-Roi Syzygium samarangense dùng cho :
- lưỡi nứt nẻ  langues fissurés.
Nước ép jus của Cây Mận-Roi Syzygium samarangenseđược sử dụng trong :
- nước tắm bains,
- và kem  dưởng da lotion.
cũng được dùng trong :
- bệnh tiểu đường diabète,
- ho toux,
- và những bệnh đau đầu maux de tête.
▪ Trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng trong :
- bệnh tiểu đường diabète,
- viêm miệng lở stomatite aphteuse,
- lợi tiểu diurétique,
- dịu đau trấn thống emménagogue,
- sẩy thai abortif,
- và giải nhiệt fébrifuge.
Nước nấu sắc của trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng trong :
- bệnh sốt fièvre.
▪ Rễ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense :
sử dụng như :
- thuốc lợi tiểu diurétique,
và làm cho giảm bớt :
- phù thủng oedème.
▪ Vỏ rễ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense :
Nước nấu sắc décoction vỏ rễ được dùng trong :
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- và cbhứng vô kinh aménorrhée,
và cũng sử dụng như :
- thuốc phá thai abortif.
▪ Trong Ấn Độ, trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được xem như một thuốc bổ tonique cho :
- não cerveau,
- và gan foie.
▪ Ở Nicaragua, thường cho rằng nước ngâm trong nước đun sôi infusion bột của hạt Mân rang có  hiệu quả cho :
- những bệnh tiểu đường diabétiques.
▪ Trong Colombie, người ta cho rằng những hạt Cây Mận-Roi Syzygium samarangense cung cấp những đặc tính :
- chống đau nhức anti-douleur.
▪ Người dân cubain nghĩ rằng rễ Cây Mận-Roi, có hiệu quả chữa trị cho :
- bênh động kinh épilepsie.
▪ Ở Cambodge, nước nấu sắc décoction của trái, những và những hạt Cây Mận-Roi Syzygium samarangense sử dụng cho :
- bệnh sốt fièvre.
▪ Tại Đài Loan những hoa được sử dụng để chữa trị :
- bệnh sốt fièvre,
- và bệnh tiêu chảy diarrhée.
• Ở Malais sử dụng trong chế phẩm bột rễ khô dùng trong :
- bệnh ngứa démangeaisons.
Asian Journal of Research biochimique et pharmaceutique Numéro 4 (Vol. 1) 2011157
▪ Trong Moluques, nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense dùng cho :
- bệnh tưa miệng muguet.
vỏ dùng như chất làm se thắt astringent trong những chế phẩm của nước súc miệng rince-bouche để chữa trị :
- bệnh tưa miệng muguet.
▪ Ở Hawaii, nước ép của vỏ đập nát với muối sử dụng cho :
- những vết thương loét plaies.
▪ Trong Malais Bornéo, nước nấu sắc của vỏthân Cây Mận-Roi Syzygium samarangense dùng cho :
- bệnh tiêu chảy diarrhée.
Nghiên cứu :
● Hoạt động chống tiêu chảy Activité antidiarrhéique :
Trích xuất hexane của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense đã được tìm thấy với liều phụ thuộc (10-3000 microg / ml) thư giản một cách tự nhiên không tràng jéjunum của thỏ bị cô lập. Khi thử nghiệm cho một kênh calcique canal calcique có thể có hoạt động ngăn chận (CCB), của  trích xuất ( từ 10 đến 1000 pg / ml), thư giản những sự co thắt cao gây ra bởi ion K + và cũng làm giảm những đường cong biểu diển đáp ứng của Ca ++, một cách phụ thuộc vào liều ( từ 30 đến 100 microg / mL), xác nhận hoạt động của CCB calcium channel blocking.
Những flavonoïdes phân lập từ trích xuất hexane đã được thử nghiệm cho một hoạt động:
- gây co thắt spasmolytique có thể.
Tất cả những flavonoïdes, cho thấy liều phụ thuộc ( từ 10-1000 microg / ml).
● Hoạt động chống Anticholinestérasique :
Thử nghiệm ức chế thực sự liên quan đến việc bổ sung của 30 μ L của dung dịch mẫu thử nghiệm và 30 µL của dung dịch phân hóa tố tồn trử đến 2,81 µL của chất đệm phosphate-1. Hỗn hợp đã được ủ trong thời gian 5 - 10 phút với nhiệt độ 25 ° C. Với 100 µL dung dịch tồn trử DTNB và 30 µL của dung dịch chất nền tồn trử đã được thêm vào sau đó và hấp thu với 412 nm đã được ghi nhận.
Chất physostigmine được dùng để kiểm soát. Sự ức chế phần trăm % đã được tính. Khi một thử nghiệm chống lại phân hóa tố butyrylcholinestérase, Asian Journal of Biochemical and Pharmaceutical Research Numéro 4 (Vol. 1) 2011158 trưng bày 68,0% hoạt động ức chế với một nồng độ 0,20 mM và CI50 của nó đã được xác định là 127 µM. CI50 của physostigmine, kiểm tra tích cực, là 0,041 µM và 0,857 µM chống lại phân hóa tố acétylcholinestérase và butyrylcholinestérase tương ứng.
● Hoạt động miễn nhiễm dược lý immunopharmacologique :
Những flavonoïdes được phân lập từ Cây Mận Roi Syzygium samarangense đã được đánh giá cho hoạt động miễn nhiễm dược lý immunopharmacologique. Những tế bào đơn nhân mononucléaires của máu ngoại vi người đã được sử dụng như tế bào đối tượng cellules cibles, và tế bào tăng sinh prolifération đã được xác định bởi sự hấp thu của 3H-thymidine.
Từ những flavonoïdes,
- (-) - strobopinin (1),
- myricétine 3-O- (2 '' - O-galloyl) -alpha-rhamnopyranoside (2),
- (-) - épigallocatéchine gallate O-3- (3),
- và myricétine 3-O-alpha-rhamnopyranoside (4)
cho thấy tiềm năng ức chế mạnh trên sự tăng sinh prolifération của tế bào đơn nhân ngoại vi PBMC, kích hoạt bởi phytohem agglutinine (PHA).
Những giá trị CI50 của những thành phần hợp chất 1, 2, 3 et 4 trên sự tăng sinh của những PBMC kích hoạt là 36,3, 11,9, 28,9, và 75,6 µM, tương ứng.
Những cơ chế ức chế có thể liên quan đến việc ngăn chận của interleukine-2 (IL-2) và interféron-gamma (IFN-gamma), sản xuất từ những hợp chất 1, 2, 3 và 4 giảm IL-2 và sản xuất IFN gamma trong những PBMC trong phương cách liều phụ thuộc .
● Hoạt động chống đường máu cao antihyperglycémique :
- 2 ', 4'-dihydroxy-3', 5'-diméthyl-6'-méthoxychalcone (1),
đồng phân của nó :
- flavanone 5-O-méthyl-4'desmethoxymatteucinol (2),
- và 2'4'-dihydroxy-6'méthoxy-3'-méthylchalcone (3)
đã được phân lập từ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense bằng cách sử dụng một chương trình  xét nghiệm  sinh học biologique hướng dẫn.
Trong một thử nghiệm dung nạp glucose bởi đường uống với một liều 1,0 mg / ở chuột 20 g, 1 và 2 một cách đáng kể (alpha = 0,05) giảm mực đường glucose trong máu (BGLS) ở chuột trong glucose đường máu cao glucose-hyperglycémiant trong khi uống 15 phút sau một nạp lượng glucose.
Khi cho uống cùng lúc với glucose, chỉ có (1) cho thấy một sự giảm đáng kể của những BGLS 45 phút sau khi cho uống.
Khi cho uống 15 phút trước glucose, không trong những flavonoïdes nào cho thấy hiệu quả tích cực. Chỉ giảm đáng kể với alpha = 0,05, những BGLS của chuột bệnh tiểu đường alloxane diabétiques alloxane với t = 90 đến 150 phút.
● Hoạt động chống oxy hóa antioxydantes :
Hoạt động chống oxy hóa của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense đã được nghiên cứu trong những trái.
Cho điều này, những trái chín đầu tiên Cây Mận-Roi Syzygium samarangense, trong số trái  được cắt thành những mảnh nhỏ và sấy khô dưới nắng mặt trời và cuối cùng được xay nhuyễn bằng máy xay thành bột nhuyễn.
Trích xuất éthanoliques của bột trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense đã được chuẩn bị bằng cách sử dụng 99,99% éthanol.
Những hoạt động chống oxy hóa antioxydantes của những trích xuất đã được xác định bằng chức năng của khả năng làm sạch 1, 1-diphényl-2-picrylhydrazyl (DPPH) gốc tự do, đã được chứng minh rằng những trích xuất éthanoliques của trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense cho thấy một hoạt động chống oxy hóa anti-oxydante.
CI50 của trích xuất éthanolique của Cây Mận-Roi Syzygium samarangense là 200 microg / mL. Điều này chỉ ra rằng trái có lợi ích cho sức khỏe con người.
Ứng dụng :
▪ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense có thể đạt đến những kích thước đủ lớn để được sử dụng trong mục đích như xây dựng.
▪ Gỗ nặng, độ cứng vừa phải; hơi bền, sức đề kháng trung bình với nấm và mối nhưng dễ bị sâu đục thân gỗ khô.
▪ Gỗ Cây Mận-Roi Syzygium samarangense được sử dụng để chế tạo những nhạc cụ, cán những dụng cụ, những thành phần trong nhà, váng nhà, ….
Thực phẩm và biến chế :
Dinh dưởng / nấu ăn :
▪ Trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense có thể ăn sống bất cứ lúc nào khi chín hoặc có thể tiêu dùng theo nhiều cách khác nhau như : lên men, nấu chín, ngâm trong dung dịch nước muối đường và cũng như làm mứt.
Mận có giá trị năng lượng calorie thấp và trất thấp hàm lượng đường glucides.
▪ Trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense có nước vừa phải hương vị chua gần như không bao giờ xác định vị trí nơi mà nó có vị ngọt.
Thông thường, những trái có da màu đỏ sậm thường có hương vị chát chua, trong khi da trái sáng hơn, màu hồng có nước nhiều.
▪ Ở Porto Rico, dùng để chế tạo rượu uống trên bàn ăn vins de table.
▪ Trong Indonésie, những hoa ăn trong salade. Những đọt non và những Cây Mận Roi Syzygium samarangense ăn sống hoặc nấu chín, trái Cây Mận-Roi Syzygium samarangense ngon ngọt, hương vị thơm ngon thích hợp cho ăn cầm tay bên ngoài.
▪ Trong Malaisie, những trái xanh được ăn sống với muối hoặc có thể nấu chín như nước sauce.
▪ Mận có thể hầm nấu chung với pomme thật.


Nguyễn thanh Vân