Tâm sự

Tâm sự

jeudi 7 mars 2013

Khat - Qat - Kat



Khat, qat hay kat
Catha edulis (Vahl) Forssk. ex Endl
Celastraceae
Đại cương :
Những tên đồng nghĩa :
khat, qat, abyssinian tea, african salad, african tea, arabian tea, bushman's tea, cat, catha, chafta, chat, ciat, crafta, djimma, ikwa, ischott, iubulu, kaad, kafta, kat, khat, liss, liruti, mairongi, mandoma, msuvuti, msekera, muholo, muhulu, mulungi, muraa, musitate, mutsawari, mutsawhari, nangungwe, quat, salahin, seri, somali tea, tohai, tohat, tsad, tschad, tschat, tshut, tumayot, waifo, warfi, warfo.
Tên gọi « Khat » nguồn gốc từ chữ arabe và có nghĩa là « tiểu mộc hay cây nhỏ »
Khat, qat hay kat, là một loài tiểu mộc của họ Célastraceae, có nguồn gốc từ Đông Phi, nhưng cấy trồng đã lan rộng sang bán đảo Á rập ( nhất là Yémen ), được biết đến nhiều nhất bởi những dân tộc trong khu vực những người có thói quen nhai lá tác dụng kích thích và phấn kích có một lịch sử lâu dài do tập quán xã hội đã có từ hàng nghìn năm đã được so sánh chúng với chất kích thích amphétamine.
Khat cũng được đề cập như chất chánh tác dụng vào thần kinh trung ương psychotrope chứa trong những lá của cây này.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây Khat, thân tiểu mộc, luôn xanh, thẳng, bao bộc bởi một vỏ láng, màu xám thô và thường nứt nẻ, chiều cao thay đổi từ 1,5 đến 5 -6 m, nhưng người ta đã tìm thấy ở Yémen một cây cao khoảng 25 m, trong vùng nhiệt đới, đường kính khoảng 0,60 m. Cành cây non có màu hồng.
Lá, thường xanh, giống như da, mọc đối, treo rủ xuống, phiến lá có răng thô, dạng hình elip mũi giáo, dài khoảng 10 và 5 cm rộng, lá non màu hồng nhạt, màu xanh sáng ở mặt trên, màu nhạt vàng ở mặt dưới. Cuống lá rất ngắn màu hồng nhạt.
Hoa, rất nhỏ, hợp thành chùm, ngắn ở nách lá 4-8 cm dài, đài hoa năm thùy pentalobe, 5 cánh hoa trắng hay màu xanh nhạt, mọc ra từ nách lá.
Trái, viên nang, dạng hình thuẫn chữ nhựt, 3 phòng, dài khoảng 1 cm, mỗi phòng chứa 1 đến 3 hạt, màu đỏ nâu, kích thước 3 mm, có cánh ở bên dưới.
Hạt, phân chia để phóng thích những hạt hẹp và có cánh.
Bộ phận sử dụng :
Lá đọt non, khi cây bén rễ, đọt non mọc ra cắt dễ dàng
Thành phần hóa học và dược chất :

● Thành phần hóa học chính :

Những lá tươi chứa :
- flavonoïdes,
- một tinh dầu thơm nguyên chất essence aromatique,
- chất tanin,
- cathinone,
- chất chuyển hóa của norpseudoéphédrine,
- và của noréphédrine gần chất alcaloïdes của éphèdres.
1°) Dẫn xuất của phénylalkylamines
Gần thế kỷ thứ XXème, người ta đã phân lập những tinh thể alcaloïdes như chất :
- nor-pseudoéphédrine.
▪  Dẫn xuất của Phénylalkylamines (in F. Bach)
- Cathine (= (+) norpseudoéphédrine)
- Noréphédrine
- Cathinone (= (-) -amino-propiophénone)
- Dimère de la Cathinon (= 3, 6-diméthyl-2, 5-diphénylpyrazine)
- 1-Cinnamoylethylamine
- 1-Phényl-1,2-propanedione
2°) Dẫn xuất của cathéduline
Những dẫn xuất này có những công thức thật phức tạp hơn đa vòng polycycliques.
▪  Hai dẫn xuất của Cathéduline (in F. Bach)
- Alkaloidell ( = Cathéduline-3 )
- Alkaloid 12
● Những hoạt chất của Khat là :
▪ những chất alcaloïdes :
- cathinone,
- và chất cathine,
- và sau đó được xác định như D-norpseudoéphédrine.
Hai phân tử được hiện dưới dạng lévogyre.
▪ Chất methcathinone là một phiên bản tổng hợp của Khat.
▪ Chất cathinone là tương đối ổn định trong lá khô và có xu hướng trở nên cathine ít hoạt động hơn.
Điều này giải thích sự lợi ích cho người dùng lá tươi có được một sự hoạt động dược lý học thực hiện, khác nhau.
Đặc tính trị liệu :
● Khat có khả năng cho :
- một trạng thái ảo giác hallucinogène,
- chận ngay cơn đói coupe faim,
- chống mệt mỏi anti-fatigue,
- và sự hứng thú exaltation.
Khat không có đặc tính  chữa trị thực sự.
● Những hiệu quả ngay lập tức :
- gia tăng nguy cơ về tim rythme cardiaque,
- áp xuất động mạch pression artérielle,
- hưng phấn euphorie,
- hiếu động thái quá hyperactivité,
- giảm khẩu vị bửa ăn diminution de l'appétit.
● Hiệu quả dài lâu :
- gây bệnh trầm cảm dépression,
- gây sự ảo giác, không thường xuyên hallucinations rares,
- ức chế của những phản ứng chậm trể,
- tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim infarctus du myocarde,
- rối loạn tâm thần trong trường hợp nặng, trong di truyền bẩm sinh.
- ung thư miệng  cancer de la bouche.
● Hiệu quả không xác định :
- cái chết và cơn đột quỵ tiếp sau hội chứng động mạch vành cấp tính.
● Cơ chế hóa học cùa “ Khat ” khi nhai :
- chất cathine,
- và chất cathinone,
được thải ra và được hấp thụ bởi những niêm mạc của miệng và niêm mạc dạ dày.
Hành động của cathine và cathinone trên sự tái hấp thu của :
- noradrénaline,
- và chất adrénaline,
đã được chứng minh ở những động vật trong phòng thí nghiệm, cho thấy rằng chất này hay chất khác của những hóa chất có nguyên nhân làm cho cơ thể tái chế những chất dẫn truyền thần kinh neurotransmetteure chậm hơn, dẩn đến :
- sự thức giấc,
- và mất ngủ kết hợp với sự tiêu dùng cây Khat .
Thụ thể của chất sérotonine có một ái lực mạnh với chất cathinone cho thấy rằng hóa chất này là trách nhiệm của cảm giác hưng phấn sentiments d’euphorie kết hợp với sự nhai cây Khat.
Ở chuột, chất cathinone cho ra một chất cùng loại kích thích thần kinh hay lặp đi lặp lại hoạt động kết hợp với chất amphétamines.
Những hiệu quả của cathinone đỉnh cao pic sau 15 đến 30 phút với 98% của chất chuyển hóa thành chất noréphédrine bởi gan .
Chất cathine biết ít hơn, hoạt động trên các thụ thể adrénergiques gây ra sự thải chất :
- adrénaline,
- và noradrénaline.
Nó có thời gian bán hủy ( demi-vie, là thời gian cần thiết cho một số lượng giảm ½  giá trị của nó đo được ở thời kỳ mới bắt đầu ) khoảng 3 giờ ở người đàn ông.
● Cây Khat chứa một alcaloïde gọi là :
- monoamine cathinone,
- một chất kích thích loại amphétamine,
được cho là chất gây ra :
- sự hưng phấn excitation,
- mất cảm giác ăn ngon perte d'appétit,
- và sự sảng khoái euphorie.
Vào năm 1980, Tổ chức Y tế thế giới (OMS) đã xếp Khat như một loại thuốc có thể sản xuất  từ nhẹ đến trung bình chất phụ thuộc tâm lý (ít hơn thuốc lá và rượu ), mặc dù OMS không xem Khat như thật là một chất gây nghiện, cây này là một mục tiêu của những tổ chức chống ma túy DEA. Khat là một chất đã được kiểm soát trong một số nước, như là Mỹ, Canada, Đức, trong khi sự sản xuất, bán và tiêu thụ là hợp pháp trong một số nước khác, bao gồm Djibouti, Ethiopie, Somalie và Yémen.
● Tác dụng hóa chất chứa trong Khat :
Cây Khat chứa :
Cathinone, là một alcaloïde hoạt chất tâm thần với những tác dụng như chất amphétamines. Là một chất kích thích, những hiệu ứng hơi giống như ở cây éphédra hoặc amphétamine và có những tính chất :
Bao gồm một số đặc tính :
- sản khoái euphorie,
- tăng sự tỉnh táo vigilance accrue,
- và sự kích thích hứng excitation,
- khả năng tập trung capacité de concentration,
- sự tự tin confiance,
- thân thiện amitié,
- sự hài lòng contentement,
- và một sự dòng chảy cho tư tưởng circulation des idées.
Nói khác đi những hiệu quả này chủ yếu là do những kết quả của môi trường xã hội trong đó Khat được sử dụng.
▪ Tháng 6 năm 2006, số báo « Journal de la Société royale de médecine » có một bài báo mang tên « bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ liên kết với nhai cây khat  La cardiomyopathie ischémique sévère associée à khat à mâcher ».
Tài liệu này, trong đó khảo sát chi tiết một bệnh nhân, cho biết nhai lâu dài Khat có thể dẫn đến :
- những cơn đau tim crises cardiaques,
- những tổn thương gan dommages au foie,
- mất răng perte des dents,
- và bệnh ung thư cổ họng cancer de la gorge.
Khat dường như thực hiện :
- sự đông máu coagulation du sang,
- và những sự co thắt có nguyên nhân trong những động mạch cung cấp máu của tim.
Khat được đề cập đến trong một nghiên cứu ở Yémen, được xác định rằng nhai Khat thường có thể tạo ra một sự gia tăng :
- 39 lần nhồi máu cơ tim infarctus du myocarde.
▪ Khat chứa hơn :
- 40 alcaloïdes,
- glycosides,
- tanins,
- những acides aminés,
- những vitamines,
- và những minéraux.
▪ Người ta nghĩ rằng hai (2) phénylalkylamines :
- cathine,
- và cathinone
cấu trúc liên quan đến chất kích thích amphétamines, trách nhiệm cho những hiệu ứng hoạt tính tâm thần.
Sự hiện diện :
- chất kích thích amphétamines,
- và đồng thời chất caféine trong cây Khat cũng đã được loại trừ.
Một số chất khác, như là :
- Cathidin,
- Edulin,
- và éphédrine,
Sự khác biệt trong hiệu ứng của Khat trên những chất kích thích amphétamines có thể là do sự phân bố của sự thay đổi nhẹ giữa :
- những chất kích thích dược động học pharmacodynamiques stimulants,
- những chất thực vật bổ sung trong Khat ( chất tanins chánh ),
- và sự khác biệt trong liều lượng và hệ thống tiêu dùng.
▪ Chất cathinone là tốt, được biết dưới tên alpha-aminopropiophénone. Được xem như chất có hiệu quả hơn trong Khat.
Khat được phân lập và tổng hợp, những hiệu ứng tương tự như chất kích thích amphétamines, nhưng ít mạnh hơn.
Người ta ước tính 7-10 lần mạnh hơn cathinone cathine.
▪ Chất cathine và (+)-norpseudoéphédrine được gọi là  phénylpropanolamine. Chất này lần đầu tiên được phân lập ở cây éphédra, có hiệu quả tương tự như những chất của Khat.
La cathine có một hiệu quả kích thích tâm lý yếu hơn chất cathinone, và những hiệu quả chỉ một thời gian ngắn để người tiêu thụ hầu như lúc nào cũng liên tục nhai lá Khat.
Nó chỉ giử một vai trò nhỏ trong hiệu quả của Khat.
Khi được sấy khô, Cathinon đã bị suy thoái cho ra chất cathine. Khi trích những chất nhai ra của Khat từ những lá tươi chứa chất cathinone, hơn nửa còn tương ứng với tỹ lệ cathine, và do đó thu được một hiệu quả kích thích tốt hơn, không tác dụng phụ.
▪ Những chất hoạt động của Catha edulis hiệu quả trên hai đường “ hóa thần kinh ” :
- chất dopamine,
- và noradrénaline.
▪ Chất cathinone và những chất kích thích amphétamines đổ vào dopamine ( chất dẩn truyền thần kinh ) của những thụ thể dopamine trong hệ thống thần kinh trung ương và gia tăng hoạt động của đường dẩn truyền năng lượng thần kinh voies dopaminergiques.
Người ta mặc nhiên công nhận :
- cathinone,
- amphetaminem,
- sérotonine ,
trong những quan hệ của hệ thống thần kinh trung ương.
Cathinone tác dụng giải thoát trên những nơi tích trử của chất noradrénaline, hỗ trợ cho kết luận rằng chất cathinone dễ dàng vận chuyễn chất noradrénaline.
Drake (1988) đã kết luận rằng chất cathinone và chất cathine, ức chế sự hấp thụ của những nơi lưu trử chất noradrénaline.
● Hiệu quả kích thích của Khat có nguồn gốc của :
- cathine,
- một loại phénéthylamine đã phân lập của cây.
Tuy nhiên, sự cung cấp đã được tranh luận bởi những báo cáo chỉ cho rằng những dung dịch trích của cây với những lá tươi chứa một chất khác có hoạt tính hơn chất cathin.
Vào năm 1975, chất alcaloïde liên quan đến cathinone đã được phân lập và cấu hình tuyệt đối được thực hiện năm 1978. Chất Cathinone không ổn định lắm và bị phá vở để cho ra :
- cathine,
- và  noréphédrine.
Những hóa chất thuộc gia đình của PPA (phénylpropanolamine), một tập hợp con của  phénéthylamines liên quan với :
- amphétamines,
- và adrénaline,
- và noradrénaline catécholamines.
Trong thực tế,
- cathinone,
- cathine có một cấu trúc rất giống với phân tử amphétamine.
Khat đôi khi lầm lẫn với :
- méthcathinone ( còn gọi là “ Mèo ” chat ), được xếp trong phụ lục I, có cấu trúc hóa học tương tự tương tự như :
- cathinone của “ Khat ” một hợp chất hoạt động.
Tuy nhiên, những tác dụng phụ và những đặc tính gây nghiện addictives, của méthcathinone mạnh hơn nhiều so với tổ hợp tiêu thụ của Khat.
Khi cây Khat được sấy khô, chất hóa học càng mạnh hơn.
Chất cathinone, phân hủy trong vòng 48 giờ để lại sau chất hóa học dịu hơn chất cathine.
Như vậy, cây Khat, khi thu hoặch chuyển vận bằng cách những lá và những thân để trong những túi bằng nylon hoặc bằng những bao trong những lá chuối để bảo đảm độ ẩm và giữ cathinone mạnh.
Nó cũng thường xảy ra để rắc bột cây với nước thường xuyên hoặc sử dụng tù lạnh trong khi chuyên chở.

● Hiệu quả và hậu quả :

Hiệu quả :
▪ Hiệu quả phấn khích bắt đầu ngay sau khi nhai Khat đầu tiên, cho thấy niêm mạc miệng hấp thụ nhanh những chất hoạt động.
▪ Hiệu quả của cathinone được biết 15-30 bộc phát / phút, sự xuống cấp biến dưởng chất của cathinone xảy ra một cách nhanh chóng, thường trong giai đoạn đầu bởi hệ gan foie.
Chỉ một phần nhỏ ( khoảng 2% ) dường như không thay đổi trong nước tiểu urines.
▪ Chất cathine bắt đầu làm việc chậm hơn, sau khoảng 3 giờ 50% của chất cathine hấp thu được tìm thấy trong huyết thanh máu. Sau 24 giờ, đã giảm dưới dạng không thay đổi trong nước tiểu.
▪ Thức uống, có méthylxanthines ( thí dụ như, trà và cola ) chứa phản ứng tổng hợp với Khat, làm tăng cường ảnh hưởng của Khat.
▪ Những người đàn ông somalien ở Mogadiscio đang chế biến những lá của Khat.
Hiệu quả gần như :
- những chất kích thích amphétamines ( giảm mệt và đói ), dưới tên hóa học là α-méthyl-phényléthanamine,
- và gây ra một  nguy cơ tim rythme cardiaque,
- huyết áp cao hypertension,
- một sự gia tăng sự hô hấp,
- thân nhiệt cao hyperthermie,
- và một giảm đồng tử mydriase,
Sự sử dụng thường xuyên của nó có thể gây nguy cơ của “một thói quen” trong quá trình thích ứng với điều kiện bên ngoài,
- cũng là một sự lệ thuộc vào vật lý và tâm lý của một chất giảm đau ( như giảm đau, kích thích và tâm thần khác ),
- và có thể gây ra một sự suy dinh dưởng dénutrition,
Về lâu dài, những thay đổi của tâm trạng như :
- nói sảng délires,
- những rối loạn giấc ngủ troubles du sommeil,
- tiêu hóa digestifs,
- và đường sinh dục sexuels voire,
- những tai nạn tim đã được mô tả .
Hậu quả :
● Sự tiêu dùng Khat gây ra :
- một hưng phấn nhẹ légère euphorie,
- và một sự kích hứng excitation, tương tự như kích hứng bởi một cà phê mạnh.
Trường hợp ở những cá nhân trở nên :
- nói rất nhiều dưới ảnh hưởng của cây.
Những tác dụng khi uống chất cathinone xảy ra rất nhanh những hiệu quả so với hiệu quả của thuốc viên amphétamines, ước định khoảng chừng 15 phút từ chất amphétamine.
▪ Cây Khat có thể gây ra :
- những tâm tánh hành vi cuồng loạn kỳ khôi maniaques,
- và một sự hiếu động tương tự như hiệu quả sản xuất bởi chất kích thích amphétamine.
- sự sử dụng Khat cho kết quả táo bón constipation,
- giản nở đồng tử pupilles (mydriase) chứng này chiếm một vị trí quan trọng khi tiêu dùng Khat,
- phản ảnh những hiệu quả tác động của thần kinh giao cảm sympathomimétiques ( một phần của hệ thống thần kinh kiểm soát ) của thuốc, đồng thời cũng được thấy trong những chứng bệnh :
- gia tăng nhịp tim fréquence cardiaque,
- và áp xuất động mạch pression artérielle.
Những triệu chứng cai nghiện có thể tiếp theo sau một sự sử dụng bao gồm :
- trầm cảm nhẹ dépression légère,
- và dễ cáu gắt irritabilité.
Những triệu chứng cai nghiện có thể tiếp theo sau sự tiêu thụ Khat lâu dài bao gồm :
- tính thờ ơ léthargie,
- trầm cảm nhẹ dépression légère,
- cơn ác mộng cauchemars,
- và run nhẹ léger tremblement.
▪ Khat là một chất có hiệu quả ức chế anorexigène efficace ( gây ra sự mất khẩu vị bửa ăn ).
Sự sử dụng lâu dài có thể chất chứa những hiệu quả như sau :
- tác động tiêu cực trên những chức năng của gan fonction hépatique,
- làm cho răng vĩnh viễn có màu sậm tối permanente assombrissement ( pha màu xanh lá cây nhạt ),
- nhạy cảm với những vết loét susceptibilité aux ulcères,
- và khả năng tình dục giảm sút libido diminuée.
▪ Người ta không biết sự tiêu dùng Khat có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần của người tiêu thụ hay không ?.
Thỉnh thoảng, một rối loạn tâm thần có thể dẫn đến, giống như :
- một tình trạng ​​hưng phấn tâm lý nhẹ,
đặc trưng bởi một tâm tánh  cuồng loạn kỳ cục hypomaniaque được thể hiện.
● Tác dụng phụ :
▪ Sự sử dụng Khat (Catha edulis) có thể gây ra sự lệ thuộc ( nghiện ) như :
- những chất kích thích khác.
▪ Khat cũng có thể tương tác với những thuốc thông thường.
▪ Noréphédrine thường là các loại thuốc tác dụng :
- ức chế sự thèm ăn appétit-suppression,
- thuốc chóng cảm lạnh,
- và một cuộc thảo luận cho rằng việc sử dụng Khat có một hiệu quả hiệp đồng effet synergique.
Nghiên cứu :
● Hiệu quả tổng quát :
Khat cho ra những biểu hiện kích thích thần kinh giao cảm, do sự hiện diện của :
- cathine,
- hay norpseudoéphédrine.
Những alcaloïdes này có một cấu trúc gần với amphétamine, nhưng với một hoạt động yếu hơn nhiều. Người ta ghi nhận :
- đồng tử nở to mydriase,
- hay một sự giản nở đồng tử dilatation de la pupille,
- một gia tăng thân nhiệt hyperthermie,
- tăng huyết áp động mạch vừa phải pression artérielle,
- một sự gia tăng hô hấp respiration accélérée,
- gia tăng sự ham muốn tình dục cùng với một sự bất lực.
Ở những cá nhân đã bị suy yếu, người ta được báo trước những :
- nguy cơ tai biến mạch máu nảo hay đột quỵ accidents vasculaires cérébraux.
Nó không có vẻ như là Khat thúc đẩy những nguy cơ động mạch vành accidents coronariens.
Nó xuất hiện những chứng như :
- sự mất khẩu vị bửa ăn ngon perte d'appétit,
- và sự táo bón constipation, trùng hợp với sự gia tăng việc bán thuốc nhuận trường ở những nhà thuốc.
Tình cờ, những răng thường nhai Khat được nhuộm màu nâu.
Hơn nửa, việc tiêu thụ các thức uống ngọt trong mục đích che dấu những vị đắng của Khat gây ra :
- sâu răng caries dentaires.
● Hệ thống thần kinh trung ương :
Trên phương diện hệ thống thần kinh trung ương, người ta ghi nhận :
- mất ngủ insomnie,
- tính nóng nảy dễ bị kích thích nervosité.
Trong trường hợp rối loạn tâm thần psychose đi kèm theo :
- một sự ảo giác hallucinations,
- và ảo tưởng délire de persécution,
với đôi khi có những động tác bạo hành đã được mô tả, người ta bắt đầu chữa trị những bệnh nhân này với những thuốc an thần neuroleptiques như là những nguyên tắc để chữa trị.
▪ Kế đó, người ta nhận ra rằng đủ để phủ nhận chối bỏ việc truy cập vào Khat dùng để chữa trị lành bệnh hoàn toàn cho tất cả những rối loạn không có thuốc chữa nào .
Tính hợp pháp sử dụng Khat :

Sự sử dụng Khat, tính hợp pháp có khác nhau, thay đổi tùy theo mỗi quốc gia

● Kenya

Ở Kenya, Khat được sử dụng hợp pháp. Tuy nhiên, 2 trong số những thành phần hóa chất chứa trong Khat được xếp vào loại chất C.
Á Châu
● Israël
Khat được tiêu dùng bởi những người già Israéliens Mizrahi, và là thực vật đầu tiên được cung cấp và bán trong những chợ ngoài trời. Một cocktail Arak và xay nhuyễn Khat đông lạnh, pha trộn với nước ép bưởi, trở nên thông dụng phổ biến ở phía nam nước này trong những năm gần đây. Vào năm 2003, Hagigat, một thuốc viên căn bản là trích xuất chất cathionone, bắt đầu được bán ở Kiosques ở Israël. Tiếp đến, nhiều trường hợp nhập viện, bộ y tế Israël đã xếp cathinone như là thuốc nghiện nguy hiểm và Khat đã được đặt ra ngoài vòng pháp luật.
Tuy nhiên, cây Khat tươi, được cho phép nhai và được bán, xem như là không tìm thấy vấn để xấu trong một lượng bình thường.
● Yémen
Khat được dùng hợp pháp tại Yémen. Tuy nhiên, việc canh tác và bán những lá được điều chỉnh bởi một loạt quy định.
Vào năm 2007, chánh phủ yéménite đã thông qua một đạo luật trồng trọt, khai thác Khat trong một số đồng bằng nông nghiệp và lưu vực với lượng nước khô ráo cao. Luật liên quan đến vấn đề thuế tiêu thụ năm 2005 đánh trên Khat 20% ở giá thành bán lẽ.
Âu Châu
● Phần lan Finlande
Khat được xếp vào nhóm thuốc nghiện bất hợp pháp ở Phần Lan và sự lưu giữ, sử dụng và bán những chất này bị cấm và bị trừng phạt.
Như những chất thuốc nghiện bất hợp pháp, những người sử dụng một xe có động cơ với một mức lượng có thể phát hiện của Khat hoặc của chuyển hóa chất của nó trong hệ thống con người có thể dẫn đến một tai nạn tội nhân cho những người lái xe dưới ảnh hưởng của Khat, thậm chí người lái xe dường như không phát hiện “ say” biết.
● Pháp France
Khat bị cấm tại Pháp như là một chất kích thích .
● Đức Allemagne
Tại Đức, chất cathinon được liệt kê như  « một chất không thiết thực non-praticable substance », việc tồn trữ, mua, bán Khat tươi là bất hợp pháp. Chất cathine chất dẫn xuất này chỉ có được trong sự đặt hàng mua, trong khi chất norephedrin lại không được liệt kê.
● Islande :
Vào tháng 8 năm 2010, cảnh sát islandaise can thiệp một đường dây buôn lậu Khat lần đầu tiên là 37 kg và đã bị tịch thu.
Thuốc nghiện này có khả năng gởi đi bán ở Canada. Một lần nữa vào tháng 5 năm 2011, ngăn chận và tịch thu khoảng 60 kg.
● Irlande
Khat là một thuốc nghiện, kiểm soát cho mục đích của sự lạm dụng thuốc nghiện và  ghi vào Phụ lục1 của sự lạm dụng thuốc nghiện ở nghị định 1988.
Như vậy việc lưu giữ không được phép và sự cung cấp là bị cấm.
● Pays-Bas
Ở Hòa Lan những thành phần hoạt động của Khat :
- Cathine và cathinone, là những sản phẩm nghiện cô đặc và bị cấm. Sự sử dụng chánh yếu ở trong những cộng đồng somalienne.
Vào năm 2008, Bộ trưởng bộ y tế Ab Klink đã quyết định không để những thực vật chưa biến chế thành thuốc sau khi hội ý với những chuyên viên.
Tuy nhiên, năm 2012, chánh phủ Hà Lan đã công bố một lệnh cấm Khat.
● Norvège
En Norvège, Khat được xếp vào loại thuốc có tính chất gây mê và là thuốc bất hợp pháp để sử dụng và tồn trữ sở hữu.
Phần lớn những người sử dụng là những người nhập cư somaliens và Khat được du nhập lậu từ Hà Lan và Vương Quốc Anh.
Hải quan norvégiennes đã bắt giữ 10 tấn Khat trong năm 2010, số lượng tăng 4 lần hơn năm 2006.
● Ba Lan Pologne
Khat được phân loại như thuốc gây mê và cấm sử dụng, mua bán và sở hữu.
● Vương Quốc Anh Royaume-Uni
Mặc dù mối quan tâm đã được giải thích bởi những chuyên gia bình luận về sức khỏe và những thành viên của cộng đồng người sử dụng Khat ở Anh, đặc biệt bởi những người nhập cư từ Somalie, Yémen và Ethiopie, hiện nay nó là sản phẩm không phải bị sự kiểm soát.
▪ Bởi vì Khat hợp pháp và vì tuổi thọ ngắn của Khat nên Anh là cửa ngỏ chính của Khat, gởi bằng đường hàng không vào Bắc Mỹ.
Trong cuộc tranh luận về tính hợp pháp ngày 11 tháng 01 năm 2012, Vương quốc Anh, một thành viên của Quốc hội, đảng bảo thủ cho biết lượng nhập khẩu Khat vào Anh tăng lên ở mức 10 tấn / mỗi tuần.
Vào ngày 23 tháng 01 năm 2013, Hội đồng tư vấn thảo luận trên sự lợi dụng thuốc nghiện nói rằng “ không đủ bằng chứng ” để cho rằng Khat là nguyên nhân của những vấn đề sức khỏe .
Hội đồng tư vần về lạm dụng thuốc gây nghiện ACMD nói rằng : “ không có bằng chứng nói rằng Khat có liên hệ trực tiếp với những tội phạm nghiêm trọng hoặc những tổ chức, và Khat được nhai để có một kích thích nhẹ và yếu hơn so với những thuốc kích thích, như là những chất amphétamines ”.
Bắc Mỹ Amérique du Nord
● Canada
Ở Canada, Khat là một chất được kiểm soát trong phụ lục IV  như những chất thuốc nghiện và những chất khác, có nghĩa là Khat bất hợp pháp cho việc tìm kiếm hoặc tồn trữ ngoại trừ trường hợp được sự chấp thuận của Bác sỉ.
Hình phạt tối đa cho đường dây buôn bán hoặc tồn trữ trong đường dây buôn lậu là 10 năm tù.
Năm 2008, những nhà chức trách canadiennes chỉ ra rằng Khat là thuốc nghiện bất hợp pháp phổ biến nhất đang được nhập lậu ở những phi trường.
Tuy nhiên, năm 2012, Tòa án phúc thẩm xác định tuyệt đối bác vào năm 2011 kết án một phụ nữ trẻ mang 34 kg Khat vào Canada năm 2009.
Theo lời biện hộ, sự phán quyết công nhận rằng Khat không có bằng chứng dựa theo kinh nghiệm Khat là có hại nuisible.
● Hoa Kỳ États-Unis :
Ở Hoa Kỳ, chất cathinone là một chất trong phụ lục I của chất nghiện, theo luật của Hoa Kỳ, là chất được kiểm soát. Nghị định 1993 DEA đặt cathinone ở phụ lục I, đồng thời ghi nhận lệnh cấm của Khat.
Chất cathinone là một thành phần chánh tác dụng vào hệ thống thấn kinh psychoactif của Catha edulis (khat).
▪ Những lá non của Khat được nhai để có :
- hiệu quả kích thích effet stimulant.
Thông qua sự chấp thuận đạo luật đặt tất cả các vật liệu có chứa chất cathinone vào trong phụ lục I, Khat bao gồm tất cả :
- các bộ phận của cây hiện tại theo phân loại thực vật dưới tên Catha edulis,
- cho dù phát triển hay không,
- những hạt,
- bất kỳ những dung dịch trích của bất kỳ những bộ phận nào của cây,
- cũng như tất cả các hợp chất,
- chế biến,
- muối,
- dẫn chất,
- pha trộn hoặc bào chế của cây, của những hạt hoặc của trích xuất.
Châu Đại dương Océanie
●Úc Châu Australie
Ở Úc, việc nhập khẩu Khat được kiểm soát bởi những hải quan ( cấm nhập ) Theo luật 1956. Những người sử dụng cá nhân phải có giấy cho phép của “ Dịch vụ kiểm dịch và kiểm tra và quản trị sản phẩm điều trị nhập khẩu đến 5 kg / tháng / một người.
Những giấy phép cũng phải có chứng nhận của hải quan Úc theo luật nhập khẩu thuốc trị bệnh.
Vào năm 2003, số giấy phép hàng năm Khat là 294 và tổng số giấy phép cho cá nhân là 202.
Khat được xem như thuốc nghiện nguy hiểm ở phụ lục 2 trong Queensland, xếp trong cùng thể loại như cần sa.


Nguyễn thanh Vân


vendredi 1 mars 2013

Anis - Đại hồi - Badianier de Chine


Badianier de Chine
Anis - Đại hồi - Tai vị
Illicium verum Hooker fill.
Illiciaeae
Đại cương :
Đồng nghĩa : Anice stellato, anis de la Chine (French), anise étoilé (French), anise stars, aniseed, Anisi stellati fructus, badaine, badian, badiana, bunga lawang, Chinese anise, Chinese star anise, eight horns, Illicium anisatum L (Japanese star anise), Illicium verum, Illicium religiosum, Illicium verum Hook f, star anise, Tamiflu®.
Tên gọi khác : Tên gọi thông thường ở Việt Nam còn gọi là Tai vị.
Đại hồi Trung quốc hay badiane chinoise hoặc anis étoilé là một trái badianier Trung hoa (Illicium verum). Gồm một “ đa bao noản ” polyfollicule ngấm chất mộc lignin với 8 lá noản chứa một hạt màu nâu sáng.
Dạng một ngôi sao 8 nhánh rất đặc trưng, vì thế có tên gọi chung là anis étoilé.
Những trái được hái lúc màu xanh trước khi sấy khô dưới nắng mặt trời, lúc bấy giờ có màu nâu đỏ.
Đại hồi được dùng như là thuốc “ nhai ” từ hơn 3000 năm. Trong y học Trung Quốc, đại hồi được sử dụng chống lại :
- những rối loạn dạ dày troubles gastriques.
Trái sao anis được phát hiện từ thế kỷ XVI è bởi Thomas Cavendish, nhà thám hiểm người Anh.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Đại hồi Trung quốc được trồng ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á ( Trung Quốc, Việt Nam ) khác với Đại hồi Nhật Bản Illicium anisatum L và Illicium religiosum mà người ta đã tìm thấy trong những ngôi đền Phật Giáo.
Cây đại hồi được quả quyết có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam.
Ngày nay, sự hiện diện của cây ở trạng thái hoang dả là không biết rõ và được trồng trong vùng nhiệt đới của khu vực Đông Nam Á, nó có thể chịu được vùng ôn đới nhẹ của Âu Châu.
Mô tả thực vật :
Đại hồi Trung quốc là một tiểu mộc, cao khoảng 10 m, luôn xanh, 
Lá, không rụng, có phiến bầu dục thon, dài, mũi giáo ngược, láng 12 x 4 cm mặt trên màu xanh olive đậm, gân phụ rất mịn, khó nhận, mặt dưới màu nâu nâu, gân cũng không rõ, đáy từ từ hẹp trên cuống.
Hoa, hơi lớn, thường cô độc, trên cọng 2,5 cm, thơm, trắng ở ngoài, màu hồng ở bên trong, cao 7-8 mm
Lá noản có kích thước giống như một ngôi sao đều nhau trên một cuống trung tâm, mỗi nhánh ngôi sao, màu nâu bóng sáng, với một mùi anéthole đã được xác định. Đại hồi thường sắp xếp giống như ngôi sao 5 đến 10 cánh ( thường 8 ) hay bao noản phát triển, tỏa xung quanh một cột ngắn trung tâm, mỗi bao noãn đo được 12 - 22 mm dài và 6 - 12 mm chiều cao, trong chứa một hạt.
Trái, manh nang, không lông, cao 2,5 – 3 cm, nâu hồng, rất thơm khi rang, dạng tia.
Hột, 1
Bộ phận sử dụng :
Trái sấy khô, tinh dầu thiết yếu.
Thành phần hóa học và dược chất :
► Thành phần sinh hóa chánh :
● Monoterpènes :
- limonène (0.25%)
● Phénols méthyl éthers :
- (E)-anéthol (88.46%),
- (Z) anéthole (0.51%)
● Sesquiterpènes :
- gamma-himachalène (2.54%),
- béta-bisabolène (0.36%),
- zingibérène (0.25%),
- alpha-himachalène (0.27%),
- béta-himachalène (0.16%)
● Cétones :
- carvone (1.53%)
● Esters :
- 2 méthylbutyrate de pseudoisoeugényle (0.53%)
● Aldéhydes :
- aldéhyde anisique (0.78%)
► Thành phần hóa học :
- Dầu béo,
- flavonoïdes,
- tanins,
- acides phénols (shikimique, caféique...)
► Tinh dầu tiết yếu (5 đến 8 % của cây ) chứa :
- 80 đến 90 % của trans-anéthole,
- limonène,
- alpha-pinène,
- linalol,
- estrragole,
- anisaldéhyde
► Tính độc :
● Trái của loài Illicium religiosum hay anis Nhật Bản được coi như rất độc.
Trong báo cáo về độc tính của sự sử dụng của nước nấu sắc của trái đã được ghi lại :
▪ Theo một số nghiên cứu, tất cả những phần của cây được xem như độc hại.
▪ Tất cả những loài Illicium chứa sesquiterpéniques hợp chất lactone, phần lớn chứa một số trao đổi chất thứ cấp liên quan đến :
- anisatin,
- neoanisatin,
- và pseudoanisatin,
Những độc tố thần kinh mạnh được tìm thấy trong anis Nhật bản.
▪ Mặc dù anis Trung quốc xem như được tiêu dùng trong gia vị và y học, những loài này cũng chứa những hợp chất độc hại như :
- veranisatins A, B và C.
Những veranisatins không phải tính độc như anisatin của anis Nhật bản, nhưng có những triệu chứng thần kinh được quan sát nếu dùng ở liều cao hơn.
● Độc tính
● Sự lầm lẫn và sự giả mạo :
- Một số sưu tập đã lần lẫn với Đại hồi thật (Illicium verum) và họ hàng của nó có tính độc  (Illicium anisatum), bao gồm những tên đồng nghĩa của hai loài trong vùng ( Illicium montanum và Illicium philippinense ).
▪ Sao Anis Trung quốc ( Illicium verum Hook F.) là một gia vị nổi tiếng được sử dụng trong :
- nhiều nền văn hóa y học truyền thống,
- sử dụng trong chữa trị đau bụng trẻ sơ sinh.
▪ Badiane Nhật Bản đã được ghi nhận có 2 độc tính :
- thần kinh,
- và dạ dày ruột.
▪ Điều quan trọng đáng chú ý là đã có những báo cáo về sự giả mạo lẫn lộn giữa anis Trung quốc với Anis Nhật bản.
Đặc tính trị liệu :
► Những đặc tính chánh :
- chống co thắt cơ thần kinh Antispasmodique neuromusculaire,
- hành sử như kích thích tố sinh dục nữ mimétique des œstrogènes,
- trấn thống điều kinh emménagogue,
- lợi sữa galactogène ( hoạt động tăng sữa )
- thuốc dễ tiêu stomachique,
- thuốc tống hơi carminatif,
- lợi tiểu diurétique,
- kích thích toàn bộ tim stimulant général cardiaque,
- tiêu hóa và hô hấp digestif et respiratoire ( với liều dùng thật yếu )
● Dược thảo này sử dụng chống lại những vấn đề về tiêu hóa và đặc biệt là :
- chứng đầy hơi trướng bụng,
- kháng khuẩn antibactérien,
- khai vị apéritif,
- tống hơi carminatif,
- long đờm expectorant;
- vi lượng đồng căn liệu pháp homéopathie,
- kích thích stimulant,
được thể hiện dưới hình thức “ trà ”.
● Trái đại hồi là một chất :
- kháng khuẩn antibactérienne,
- tống hơi carminative,
- lợi tiểu diurétique,
- đau răng odontalgique,
- kích thích stimulant,
- kiện vị bổ bao tử stomachique, ….
● Sử dụng bên trong cơ thể để chữa trị :
- đau bụng douleurs abdominales,
- rối loạn tiêu hóa troubles digestifs,
- và những trường hợp như là đau lưng lumbago.
● Sử dụng bên ngoài cơ thể : 
- thoa xức dầu đại hồi anis tổng hợp ( pha trộn với những dầu thực vật khác hay tinh dầu cần thiết khác ) lên trên bụng abdomen,
- dùng làm hương liệu aromatisant,
- long đờm expectorant,
- chống co thắt hệ tiêu hóa antispasmodique digestif,
- và đường hô hấp voies respiratoires.
▪ Sử dụng ngâm trong nước đun sôi, sẽ loại trừ được những bệnh :
- trướng bụng ballonnements,
- và giảm hơi gaz.
● Đại hồi anis, thường bao gồm trong những đơn thuốc cho :
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs,
- và những sirops chống ho toux,
- với hương vị anis dễ chịu saveur anisée agréable.
Một đơn thuốc có hiệu quả để chữa trị :
- những rối loạn tiêu hóa khác troubles digestifs divers,
● Trái cũng được thường “ nhai ” với một lượng nhỏ sau những bữa ăn để :
- tăng cường tiêu hóa cho bữa ăn,
- và một hương thơm cho hơi thở.
● Trái có một hiệu quả kháng khuẩn giống như thuốc pénicilline.
● Trái chín thu hoặch được sử dụng :
- để nhai,
- để ly trích tinh dầu thiết yếu,
- được sấy khô để dùng trong nấu sắc, dưới dạng bột hay dạng nguyên.
● Một đơn thuốc của vi lượng đồng căn liệu pháp homéopathique được biến chế từ hạt.
● Vỏ được nghiền nát sử dụng trong chế tạo nhang hương.
► Những triệu chứng chánh :
● Hệ thống hô hấp :
▪ nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính,
▪ nhiễm trùng đường hô hấp theo mùa,
▪ nhiễm trùng phế quản với nhiễm trùng lần hai khi đã bị nhiễm surinfections bronchiques,
▪ nhiễm trùng phế quản với cơn ho sâu toux caverneuse và đau.
▪ ho đàm với « mùi hôi » trong cổ họng.
▪ cảm giác ho để loại chất đờm ra liên tục, đẩy những chất nhầy lên ra ngoài.
▪ tiết nước bọt kèm theo ho hoặc kèm theo sự tắc nghẽn phế quản.
▪ khạc đờm, đau, với đờm màu xanh và bị nhiễm.
▪ phế quản viêm nước catarrhe bronchique ( nhiễm trùng thứ cấp mãn tính với sự sản xuất chất nhày phế quản ).
▪ suyễn mãn tính, kèm theo khạc đờm,
▪ khàng giọng enrouement,
▪ viêm xoang hàm sinusites maxillaires,
▪ viêm xoang dị ứng sinusites allergiques,
▪ viêm xoang trán sinusites frontales
▪ viêm xoang theo mùa sinusites saisonnières,
▪ trong tất cả mọi trường hợp, viêm xoang với chảy nước mũi xen với :
- những tắc nghẽn,
- và nghẹt ở gốc mũi.
▪ cảm lạnh mùa đông rhume d’hiver
▪ cảm lạnh dị ứng rhume allergique kết hợp hay không với cảm lạnh mùa đông.
▪ sổ mũi sốt, dị ứng, rhume des foins
▪ phản ứng với phấn hoa réaction au pollen
▪ Trong tất cả mọi trường hợp, cảm lạnh được kèm theo nhiễm trùng thứ cấp của Tai-Mũi-Họng ORL với sự sản xuất  chất nhày bị nhiễm ( như vậy không nhầm lẫn với những cảm lạnh chảy nước mũi trong suốt và nóng thường có trong những dị ứng ).
● Hệ thống tiêu hóa :
▪ đầy hơi flatulences,
▪ ruột già trướng khí, đầy hơi aérocolie,
▪ chứng nuốt hơi aérophagie,
▪ sình bụng ballonnements,
▪ âm thanh ọc ọc trong bụng borborygmes,
▪ đau bụng do sự tích tụ khí trong ruột.
▪ nặng trong dạ dày hay nặng bụng poids dans l’estomac
▪ co thắc đường ruột spasmes intestinaux.
▪ đau bụng coliques,
▪ viêm ruột entérocolite
▪ tiêu hóa chậm lenteurs digestives,
▪ bệnh ăn không tiêu dyspepsie
▪ một số trào ngược ở dạ dày thực quản reflux gastro-oesophagien.
▪ hội chứng của kích ứng viêm đốt côlon irritable,
▪ chứng khó tiêu indigestions,
▪ sự khó khăn hô hấp tiêu hóa oppression respiratoire digestives.
▪ tinh dầu cần thiết của đại hồi là linh nghiệm trong tất cả những vấn đề khó chịu tiêu hóa và đặc biệt cho :
- những chứng đầy hơi sau bữa ăn nặng quá thịnh soạn.
- những chứng căng bụng, sưng bụng abdomens distendus,
- những tiếng ợ chua renvois aigres,
- và những cảm giác nặng trong dạ dày và bụng.
▪ Những tinh dầu cần thiết của đại hồi là chất :
- chống co thắt mạnh của cơ trơn ruột.
- đau bụng coliques,
- những đau nhức khác douleurs diverses,
- tích tụ khí accumulations de gaz,
- đau co thắt đại tràng colites spasmodiques douloureuses,
- viêm đại tràng gastrites,
- ợ hơi éructations,
- và nuốt quá nhanh hầu như không nhai.
▪ Nhờ tinh dầu thiết yếu với anéthol, đại hồi anis được biết để :
- kích thích tiêu hóa,
- giảm những co thắt ruột spasmes intestinaux.
▪ Cũng như hành động chống co thắt, tinh dầu đại hồi được chọn để chữa trị :
- tất cả những trường hợp khó tiêu indigestions,
- hay khó chịu trong tiêu hóa sau bữa ăn nhiều chất béo và nuốt qua nhanh trong tình huống hoặc trong trong những tình trạng căng thẳng quan trọng.
▪ Hầu hết những hình thức khó tiêu tập hợp thành nhóm những triệu chứng lớn hoặc nhỏ tùy thuộc vào những cá nhân khác nhau và sự đơn giản khó chịu như :
- trướng bụng  ballonnements,
- đầy hơi flatulences,
- nồng độ acid cao hyperacidité,
Hay viêm nhiều hay ít của niêm mạc dạ dày - ruột.
▪ Sự rối loạn tiêu hóa có thể có nguồn gốc của cơ quan với những tổn thương như :
- loét dạ dày ulcéreuses de l’estomac,
▪ Ngoài những triệu chứng khó tiêu, tinh dầu hoa đại hồi còn có những đặc tính rất tốt cho :
- giảm đau do trướng khí ruột già aérocolie, trong trường hợp tích tụ khí ở ruột làm cho sưng bụng ( nhất là ở vành đai ),
- nén bức đường hô hấp hay tức ngực oppression respiratoire (phần ở trên dạ dày ),
- đau dưới rốn douleurs sous ombilicale,
- âm thanh kêu từ ruột đôi khi trong dạ dày trong quá trình tiêu hóa  borborygmes,
- và đầy hơi flatulences.
Do đặc tính đặc biệt mạnh và không phải lúc nào cũng dung nạp tốt, người ta dùng dầu này duy nhất để đắp bằng cách cho vài giọt vào một băng lưới compresse nóng và đắp vào vùng đau nơi bụng.
● Hệ thần kinh trung ương :
▪ kiệt sức épuisement,
▪ suy yếu cơ thể affaiblissement de l’organisme,
▪ chứng suy nhược asthénie,
▪ đột ngột giảm năng lượng, đột ngột mệt mõi « coups de pompe » cuối mùa đông,
▪ phục hồi của những bệnh dài hạn Convalescence de longues maladies,
▪ cơ quan bị ngộ độc bởi những chất độc organes intoxiqués par les toxines,
▪ chất béo dư thừa.
▪ chức năng tiêu hóa “ lười biếng ” fonctions digestives paresseuses,
▪ tiêu chảy diarrhées,
▪ hơi thở hôi mauvaise halein,
▪ Tinh dầu thiết yếu trái đại hồi được xem như một thuốc bổ tốt cho cơ thể nói chung.
Người ta sử dụng với lý do là để chống đột quỵ ở cuối đông với :
- những luồng cảm lạnh rhumes,
và viêm phế quản, mang lại cơ thể sự yếu sức cạn kiệt bởi :
- những sự nhiễm trùng infections,
- và phải dưởng bệnh tiếp theo sau cơn bệnh.
▪ Tương tự, tinh dầu thiết yếu hoa đại hồi được coi như :
- một chất kích thích rất tốt cho hệ thống cơ của cơ quan bị suy yếu.
Nhưng không chỉ thế, bởi tinh dầu đại hồi cũng tác dụng và nhất là :
- sự giải độc cơ quan bằng cách kích thích những chức năng của hệ tiêu hóa,
- và bằng sự thoát nước những cơ quan yếu kém.
Là một bằng chứng tuyệt vời cho chức năng loại trừ, tinh dầu hoa đại hồi luôn chứng minh giá trị của mình để :
- ngừng tiêu chảy stopper une diarrhée,
- hoặc để giải quyết những vấn đề của hơi thở hôi thối, nhờ chức năng hoạt động thanh lọc của gan.
Lưu ý nhớ rằng, tuy nhiên, người ta không bao giờ sử dụng tinh dầu ở :
- dạng nguyên chất với nồng độ cao quan trọng,
- hoặc ở một bình diện rộng trên cơ thể,
- và thậm chí hạn chế sử dụng bên trong của cơ thể .
● Hệ thống kích thích tố :
▪ kích thích tố không đủ insuffisance hormonale (œstrogène)
▪ kích thích tình dục bouffées de chaleur,
▪ sự đỏ mặt, cảm giác hồi hộp flush ( đỏ nóng mặt có hoặc không mồ hôi ),
▪ lo âu angoisses,
▪ trạng thái kích động agitation,
▪ nghẹt thở étouffements,
▪ đánh trống ngực palpitations,
▪ trạng thái trầm cảm états dépressifs,
▪ mất ngủ insomnie,
▪ rối loạn tình dục liên quan đến thời kỳ mãn kinh troubles sexuels liés à la ménopause.
▪ loãng xương ostéoporose,
▪ khí sắc rối loạn troubles de l’humeur,
▪ chóng mặt vertiges,
▪ rối loạn trí nhớ và sự chú ý troubles de la mémoire et de l’attention.
▪ hạ huyết áp hypotension.
▪ Tinh dầu thiết yếu của hoa đại hồi được biết với những đặc tính :
- kích thích tố sinh dục nữ oestrogéniques,
- hay kích thích tố sinh dục thực vật œstrogène-like ( là kích thích tố có nguồn gốc thực vật còn gọi là phytơestrogène ),  chúng có hoạt động như œstrogène hoặc thay thế kích thích tố này.
Trong số những vấn đề khó khăn, dựa vào đó tinh dầu hồi có thể hoạt động, người ta có thể kể đến :
- vấn đề thiếu hụt kích thích tố insuffisance de l’hormone précitée,
- một số trường hợp suy buồng trứng insuffisance ovarienne,
- hậu quả trực tiếp của kinh nguyệt cạn kiệt tarissement des règles ( thời kỳ mãn kinh ménopause)
- Rối loạn ( thường khác nhau ) của tiền mãn kinh préménopause và thời kỳ mãn kinh  ménopause :
▪ Kích thích tình dục bouffées de chaleur :
Những kích thích này thường xảy ra chủ yếu là vào ban đêm và / hoặc trong một không gian kín, với :
- một cảm giác nóng trong khắp thân thể,
- mặt đỏ ( nóng đỏ mặt có hoặc không có mồ hôi ),
- đỏ ở cổ, ở gáy và ở ngực.
Ghi nhận, sự kích thích tình dục, trước tiên vào ban đêm, sau đó lan ra những ngày kế tiếp và kích hoạt theo sau một cảm xúc hoặc cuối một bữa ăn dồi dào, thịnh soạn hoặc không lý do cụ thể nào.
▪ Lo lắng angoisses : với một kích động lớn tạm dứt của thời kỳ kiệt sức. Mồ hôi và cảm giác tức ngực, se thắt trong lồng ngực. Đánh trống ngực và hơi thở ngắn, với hay không kích thích tình dục liên tục không ngừng .
▪ Giai đoạn trầm cảm épisodes dépressifs : thường xuyên hơn và lâu hơn với sự kích thích và tình trạng chán nản. Mất cảm giác ăn ngon và giấc ngủ. Mọi sự nổ lực ( kể cả những ý niệm đơn giản trong tương lai ) tiêu mất. Cảm giác cuối cùng của cuộc sống là sự buồn chán lớn, cái chết như đến gần.
▪ Rối loạn tình dục troubles sexuels : liên quan tới thời kỳ mãn kinh với :
- sự yếu kém tình dục  affaissement de la libido,
- mất sự ham muốn, nhưng đôi khi đôi khi tự cung cấp sự ham muốn nhưng lại mất sự thích thú giao hợp phái tính,
- khô âm đạo sécheresse vaginale,
- và mất sự đàn hồi âm hộ élasticité vulvaire,
 hai yếu tố sau thường dẫn đến sự đau đớn khi giao hợp làm nổi bật đến sự không quan tâm ở những người phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh cho cuộc sống tình dục của họ.
- thường xuyên nhiễm đường tiểu và âm đạo xảy ra ở thời kỳ mãn kinh.
- thất thoát calcium ở xương với một nguy cơ bị loãng xương ostéoporose,
- và gẩy xương  fractures trong lúc tập dượt.
- tăng cân do sự do sự giảm hạ của hoạt động kích thích tố.
Với cùng một lý do :
- da dày lên,
- móng tay và tóc bị hư hại ongles et les cheveux s’abiment.
- nguy cơ về tim mạch bởi sự giảm sự điều chỉnh kích thích tố.
thường xuyên tâm trạng rối loạn fréquents troubles de l’humeur :
- giận dữ emportement,
- tình trạng kiệt sức prostration,
- khó chịu agacement,
- tánh tình cay đắng caractères aigris.
Những triệu chứng có thể kèm theo :
- chóng mặt vertiges,
- rối loạn bộ nhớ và sự chú y mémoire et de l’attention.
thường xuyên giảm hạ huyết áp động mạch với :
- đau đầu céphalée,
- chóng mặt vertiges,
- đổ mồ hôi sueurs.
▪ Hành kinh khó và đau dysménorrhées ou đau bụng kinh algoménorrhées :
Thuật ngữ này ám chỉ nghĩa rộng cho những trường hợp hành kinh đau. Cái đau này này thường xảy ra ở ngày thứ hai của kinh nguyệt, đột ngột và trở nên trầm trọng hơn ở những ngày sau đến khi chấm dứt chu kỳ kinh nguyệt.
Những sự đau này có đặc điểm của cái đau bụng kinh, nó kích hoạt và trầm trọng bởi dòng chảy kinh nguyệt, cái mà người ta thấy là một sự khác biệt quan trong với những cái đau trầm trọng bởi sự giữ kinh và  giảm đau bởi  dòng chảy kinh.
● Hệ thống sinh dục :
▪ Đau bụng kinh sơ cấp dysménorrhées primaires hay đau bụng kinh algoménorrhées ( kinh nguyệt đau règles douloureuses)
▪ khởi đầu đau với dòng chảy kinh nguyệt apparition des douleurs avec l’écoulement menstruel,
▪ một số triệu chứng hợp chứng tiền kinh nguyệt tương tác những triệu chứng khác tinh thần và thể chất.
▪ co thắt với cái đau kiểu co rút ,
▪ triệu chứng đường tiêu hóa symptômes digestifs,
▪ đau đầu céphalées,
▪ buồn nôn nausées,
▪ chóng mặt vertiges,
▪ vô kinh aménorrhée.
Dùng với liều cao, có thể bị kích thích hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central.
Chủ trị : indications
● Chủ trị nói chung chánh :
- rối loạn tiêu hóa dyspepsies,
- ói mữa vomissements,
- chứng nuốt hơi aérophagie,
- viêm cứng đại tràng colite spasmodique,
- chứng đau dạ dày, vị thống gastralgie,
- khó tiêu indigestion,
- kinh nguyệt bất thường règles irrégulières,
- đau khi có kinh douleurs menstruelles,
- thời mãn kinh ménopause,
- trước khi mãn kinh  pré-ménopause,
- đánh trống ngực palpitations,
- đau mỏ ác cardialgie,
- mệt mõi fatigue,
- bại liệt paralysie,
- đau lưng douleurs lombaires,
- bệnh giật cơ spasmophilie,
- cảm lạnh rhume,
- ho co thắt toux spasmodique,
- thấp khớp rhumatismes,
● Những rối loạn tiêu hóa sau bữa ăn :
- tiêu hóa trướng bụng ballonnement digestif,
- tiêu hóa chậm lenteur à digérer,
- ợ hơi éructation,
- đầy hơi flatulences,
- khí gaz trong ruột gaz intestinaux ( ruột già trướng khí aérocolie)
● một số viêm cứng đại tràng colites spasmodiques ( khả năng chống co thắt không kiểm chứng bằng thực nghiệm )
● những cơn đau nhức đầu, điểm khởi đầu của đường tiêu hóa ( sự lên men tiêu hóa )
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Ở Trung quốc, chất độc đại hồi được sử dụng như áp dụng nơi đau trong chữa trị những dạng :
- đau răng maux de dents,
- và một số bệnh viêm da dermatite,
- và loài ký sinh nhất định parasitisme.
Tinh dầu dễ bay hơi được dùng cho :
- đau bụng ở trẻ em coliques chez les enfants.
▪ Cũng tại Trung hoa, những trái đại hồi dưới dạng bột được xem như :
- chất kích thích stimulant,
- và là thuốc tống hơi carminatif.
▪ Tại Malaisia, người ta cũng xem đại hồi như là một dược thảo có tác dụng :
- kích thích stimulante,
- và lợi tiểu diurétique.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Không sử dụng lâu dài. Bởi vì đại hồi Trung quốc Illicinum verum có tiềm năng gây độc thần kinh neurotoxicité.
● Nghiêm cấm bán đại hồi :
Cây mùi thơm này đã được nghi rằng nguồn gốc của những vụ ngộ độc ở Âu Châu và Bắc Mỹ vào cuối thập niên 90 và năm 2000.
Người ta nhận ra rất nhanh chóng một số hàng “ bột anis đại hồi ” được chuyễn giao có một sự pha trộn của nhiều giống Illicium như là Illicium anisatum = Illicium religiosum còn gọi là đại hồi Nhật Bản.
Đại hồi Nhật Bản Illicium religiosum, trái rất giống với đại hồi Trung Quốc Illicium verum về hình thái học rất khó phân biệt, nhỏ hơn, không đều, cuối cùng bởi một điểm có dạng như cái móc. Có chứa một hợp chất độc “ co giật ” lactones sesquiterpéniques :
- anisatine,
- néoanisatine,
- pseudoanisatine.
Những cơ quan y tế Âu Châu, đã nhanh chóng phản ứng nghiêm cấm vào năm 2001 nhập khẩu và thương mại hóa những đại hồi dưới dạng bột. Những tai hồi nguyên có thể được bán vì chúng có thể phân biệt được giữa 2 loài Trung Quốc và Nhật Bản .
● Ở những người đàn bà có thai hay đang thời kỳ cho con bú, cũng như ở trẻ em và trẻ sơ sinh ( mặc dù đây là một phương thuốc truyền thống ) không nên sử dụng.
● Đại hồi anis là một nguồn anéthole (trans), là một phân tử rất được sử dụng trong :
- kỹ nghệ industrie agro-alimentaire,
- trong kỹ nghệ bánh ngọt pâtisserie,
- ngành công nghiệp rượu liquoristerie.
Nó cũng chứa một lượng tương đối lớn :
- acide shikimique được dùng trong tỗng hợp thuốc TAMIFLU, thuốc chống siêu vi khuẩn  antiviral được đề xuất, trong số những thuốc khác, để chống lại bệnh cúm gia cầm.
● Biện pháp phòng ngừa sử dụng :
▪ Sự sử dụng tuyệt đối bằng những phương cách :
- hít vào inhalation,
- hay đắp vào chổ đau fomentation,
- hay chà xát với dung dịch pha rất loãng : 1 giọt tinh dầu anis / 10 giọt dầu thực vật .
▪ Tinh dầu anis rất mạnh và có tiềm năng :
- gây hại nocive,
- công kích agressive,
- hoặc dị ứng allergisante.
▪ Không bao giờ dùng những tinh dầu này cho :
- trẻ em,
- đàn bà có thai,
- thời kỳ cho con bú,
- người cao tuổi,
- hay người bị dị ứng.
▪ Lý do hành động đặc biệt :
- mạnh và sâu rộng,
▪ Tinh dầu đại hồi không nên sử dụng tinh chất pure nguyên chất trên da cũng như không xoa bóp trên bình diện rộng trên thân thể .
▪ Đối với những lý do này, tinh dầu thiết yếu đại hồi dành riêng cho những người chuyên môn. Trong trường hợp nghi ngờ, mặc dầu rất nhẹ, không bao giờ ngần ngại hỏi những lời khuyên với những chuyên viên về chất mùi.
▪ Trong trường hợp không may, tai nạn nuốt phải ingestion accidentelle hay dùng quá liều, tức khắc liên lạc với trung tâm chống độc và nhập bệnh viện.
Ứng dụng :
● Đại hồi Trung quốc cũng được sử dụng trong chế biến :
- acide shikimique.
Acide này không có hoạt động gì chống virus, sẽ chuyển đổi nhiều lần truớc khi trở thành  phosphate d'oseltamivir, phân tử hoạt động của thuốc Tamiflu, một loại thuốc :
- chống bệnh cúm antigrippal của phòng thí nghiệm Roche, sử dụng để chống bệnh cúm cho người và không một loại thuốc nào khác, chống những bệnh cúm gia cầm và lợn. 
▪ Công việc bào chế tinh dầu đại hồi không qua giai đoạn chưng cất như những loại tinh dầu khác.
Tuy nhiên, chất oséltamivir ngày nay có thể thu được từ những quá trình chế biến khác nhau như :
- sự lên men sinh học bio-fermentation,
- tổng hợp hóa học synthèse chimique,
- những cây khác ),
Giá thành có thể giảm xuống .
● Đổ 150 ml nước đun sôi trên một muỗng cà phê ( khoảng 3 g ) đại hồi đã nghiền nát và lọc sau 10 đến 15 mn. Uống một tách / 1 lần / ngày .
Trường hợp sử dụng :
Trong trường hợp :
- ho,
- viêm đường hô hấp,
- rối loạn tiêu hóa,
rối loạn tiêu hóa đi kèm theo :
- chuột rút crampes,
- trướng bụng ballonnements,
- đầy hơi flatulences.
● Ngâm trong nước đun sôi : " tai đại hồi " trong một tách nước đun sôi, ngâm trong khoảng 10 đến 15 phút, lọc và uống sau bữa ăn.
● Dung dịch ngâm trong rượu teinture mère : 30 đến 50 giọt trong một ly nước, không được quá 150 giọt / ngày .
● Tinh dầu thiết yếu không bán tự do.


Nguyễn thanh Vân