Tâm sự

Tâm sự

mardi 12 juin 2012

Củ khoai từ - Lesser yam - Asiatic yam

Lesser yam - Asiatic yam
Củ khoai từ
Dioscorea esculenta L.
Dioscoreaceae
Đại cương :
Dioscorea esculenta, thường được gọi là Yam Lesser, Việt Nam tên gọi là Khoai từ hay củ từ, là một giống của khoai ngọt ignam, nhưng củ nhỏ hầu hết so với những loại khoai khác. Khoai từ dioscorea esculenta kích thước gần giống như củ khoai tây hay khoai lang.
Khoai từ được trồng ở Trung quốc, Đài Loan, có nguồn gốc ở Ấn Độ, Malaysia,Tân Guinea và Thái Lan, Việt Nam, từ lâu được trồng ở Châu Á vùng nhiệt đới.
Được biết Khoai từ được trồng ở Trung Quốc khoảng ít nhất 1700 năm. Những dạng không gai có thể được lựa chọn từ lúc ban đầu của khoai từ có gai.
Khoai từ được trồng ở vùng nhiệt đới hay cận nhiệt đới, vùng đồng bằng thoát nước pH khoảng 5,5 đến 6,5.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Củ thường có từ 4 đến 10 cho mỗi dây, sản xuất từ đỉnh nhánh của căn hành, màu vàng sáng, trơn,
R có gai nhỏ hay không. Rể gai thường có ở những dây khoai từ trong thiên nhiên hoang dại. gai ở phía dưới ít hơn ở bên trên. Củ từ trưởng thành hơi có hình trụ, đôi khi có thùy 8-20 x 2-5 cm, da màu nâu hay xám nâu, mỏng, thịt nạt trắng. Vắng mặt chồi con.
Thân leo quấn từ bên trái với dạnh chữ T, có lông mềm.
đơn, nguyên, mọc cách, cuống lá khoảng 5 đến 5 cm, dài hơn phiến lá, thường có 2 gai nhỏ ở gốc cuống, phiến lá hình trái tim rộng, 15 x 17 cm, đặc biệt có những lông dạng hình chữ T, gân lá 9 đến 13, phần bên dưới hình trái tim đỉnh lá nhọn.
Phát hoa đơn tính.
Hoa đực : thường đơn độc, mọc ở nách lá, thường mang một hoa dọc theo trục, ít khi kết thành chùm 2 đến 4, không cuống hay cuống ngắn, bẹ hoa hình bầu dục, bao hoa lồi ra bên ngoài, được bao phủ lông mịn, những thùy bên ngoài rộng hình mũi giáo, 1,8 mm, bên trong hơi ngắn so với bên ngoài. Nhụy hoa 6 gắn vào ống bao hoa, ngắn so với thùy bao hoa.
Hoa cái : cô độc, độc lập 40 cm. Mọc ở nách phía trên khoảng 40 cm dài.
Nang rất hiếm thấy trưởng thành, 3 cm, phần dưới cụt, đỉnh hơi có khía nhỏ dợn sóng, cánh 1,2 cm rộng.
Hạt : ở giữa nang, có cánh chung quanh.
Phát hoa vào đầu hè.
Bộ phận sử dụng :
Củ
Thành phận hóa học và dược chất :
► Thành phần hóa học gồm :
 Trong khoai từ có chứa những chất chánh như :
- saponine được biết rỏ,
- dioscine.
- aglycone,
- diosgénine,
   - genine,
- Tinh bột 83%,
- Chất đạm protein 12% ,
- vitamine B nguồn tốt, 
- ß-sitosterol,
- stigmasterol,
- cardiac glycosides,
- Chất béo,
- và tinh bột .
Khoai từ thực phẩm ăn được là một chất polyphenolique có năng suất gồm những chất :
- catéchins,
- epicatechins,
- chlorogenic acids,
- leucoanthocyanidins
- và antocyanins.
► Thành phần dinh dưởng: 
Củ khoai từ lớn được lột vỏ, đun sôi, nấu chín thành phần trong 100 gr phần ăn được :
- nước 70-80 g,
- chất đạm protein 1.3-2.1 g,
- chất béo lipide 0.1-0.3 g,
- đường glucide 26-36 g ( tinh bột 25 g, đường 1-11 g),
- chất xơ thực phẩm 0.2-1.5 g,
- tro 0.5-1.2 g,
- vitamin A 0.017 mg,
- vitamin B1 0.08 mg,
- vitamin B2 0.02 mg,
- và vitamin C 20.3 mg,
► Thành phần nguyên tố khoáng :
- sắt Fe,
- Mangane Mn
- Đồng Cu,
- Molybdène Mo,
- Potassium K,………….
► Giá trị dinh dưởng khoai từ Dioscorea esculenta cho 100 gr :
▪ năng lượng  494 kJ (118 kcal)
▪ Glucide  27.9 g
▪ đường  0.5 g
▪ chất xơ thực phẩm  4.1 g
▪ chất béo lipide  0.17 g
▪ chất đạm protein 1.5 g
▪ Vitamin A tương đương.     7 μg (1%)
▪ Thiamine (vitamine. B1)  0.112 mg (10%)
▪ Riboflavin (vitamine. B2) 0.032 mg (3%)
▪ Niacin (vitamine. B3)  0.552 mg (4%)
▪ Vitamin B6  0.3 mg (23%)
▪ Vitamin C   17.1 mg (21%)
▪ Vitamin K  2.3 μg (2%),
▪ Calcium 17 mg (2%)
▪ sắt Fe  0.5 mg (4%)
▪ Magnesium Mg  21 mg (6%)
▪ Phosphore P  55 mg (8%)
▪ Potassium K           816 mg (17%)
▪ Kẽm Zn  0.24 mg (3%)
Percentages are relative to US recommendations for adults.
Source: USDA Nutrient Database
Đặc tính trị liệu :
► Là những vật liệu chính sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất kích thích tố stéroidiennes.
● chất diosgenine đã được sử dụng để tổng hợp một phần của cortisone.
- Diosgénine là chất đã được sử dụng hằng trăm năm để chữa trị :
- phong thấp rhumatismes
- đau viêm khớp arthrite-tis (Krochmal et al, 1973;. British Herbal Pharmacopoeia, 1983; Sofowora, 1993).
Ngoài ra được dùng để :
- trị ho,
- tiêu chảy co thắt,
- và buồn nôn ở những phụ nữ mang thai. 
● Chất genine được dùng trong tổng hợp “semi-hormones” phái tính, của progestérone và testostérone,
► Củ khoai từ được sử dụng như các loại thuốc khác nhau trong y học truyền thống Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bản.
● Trong khoai từ có chứa hợp chất allantoine. Allantoine là một hợp chất hóa học azote có công thức C4H6N4O3 nguồn gốc hửu cơ hay thực vật được tìm thấy bởi Louis-Nicolas Vauquelin trong dung dịch ammoniotique con bò, cũng được tìm thấy trong nước tiểu con bò con ( Friedrich Wohler ) và một số loài động vật có vú. Và là sản phẩm trong quá trình oxy hóa acide urique.
Chất này có tác dụng:
- gia tăng hóa sẹo lành vết thương.
Allantoine được dùng trong trường hợp :
- vết thương,
- phỏng
- và cũng được dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm
● Đun sắc cũng được dùng để :
- kích thích khẩu vị bữa ăn
- và để giảm ngứa kích thích khí quản và ho.
► Kinh nghiệm dân gian :
▪ Củ khoai từ được áp dụng để chữa trị :
- trên chỗ sưng,
▪ Ở Đông Dương sử dụng :
Nấu sắc củ khoai từ dùng để chữa trị :
- chứng phong thấp,
- lợi tiểu.
▪ Ở Nigeria người ta dùng bên ngoài để chữa trị :
- loét,
- nhọt,
- ung mủ áp xe.
▪ Ở Trung hoa, dùng chữa trị bệnh béri béri là chứng bệnh do thiếu vitamine B1 suy dinh dưởng, gây ra những bệnh:
- suy tim
- và rối loạn thần kinh,
những sự mệt mõi là triệu chứng của bệnh béri-béri.
► Sự lợi ích sức khỏe của khoai từ :
● Khoai từ hoang được sử dụng dưới nhiều hình thức của y học cổ điển Trung Hoa dược thảo trong một thời gian dài. Chủ yếu được sử dụng hoạt động tốt trong trường hợp :
- thận yếu,
- hệ thống nội tiết của phụ nữ.
Thí dụ, rể khoai từ đã được y học truyền thống công nhận ở phụ nữ trong thời kỳ cho con bú.
Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng nào để hỗ trợ lý thuyết này và sự nghiên cứu đang còn thiết lập và kết nối giữa chất diosgenine ( một chất hóa học được tìm thất trên khoai từ ) và chức năng nội tiết phụ nữ.
● Khoai từ hoang cũng giúp :
- duy trì mực nước thấp trong cơ thể,
- và giảm buồn nôn trong thời kỳ thai nghén.
● Khoai từ có hàm lượng cao vitamine B6, một vitamine bổ sung rất phổ biến ở phụ nữ bị chứng trầm cảm do hội chứng trước khi có kinh nguyệt hay gọi là “ tiền kinh nguyệt PMS ”.
Thường xuyên dùng vitamine B6 cũng có lợi ích đối với một số điều kiện :
- bệnh tim
- và tai biến mạch máu não hay còn gọi là đột quỵ,
bởi vì chúng được giúp đở trong sự phân hũy một hóa chất gọi là homocystéine. Mức độ cao của chất này là nguyên nhân gây ra sự hư hại trực tiếp trên những thành vách mạch máu dẫn đến một số vấn đề cho sức khỏe.
● Tỷ lệ chuyển đổi những carbohydrate phức tạp và những chất xơ thực phẩm hiện diện trong khoai từ biến thành đường sucre rất chậm và tốc độ hấp thu trong tuần hoàn máu cũng rất chậm.Vì vậy mà khoai từ giúp giử duy trì mức đường trong máu.
Ngoài ra, còn lý do hàm lượng chất xơ cao, những khoai ignames giúp kiểm soát trọng lượng cơ thể, bởi sự phân bố đồng đều trọng lượng không cần chuyển trọng lượng phụ trội tích tụ ở hông háng và vòng eo.
● Khoai từ giàu chất mangane Mn, là một yếu tố cần thiết cho sự chuyển hóa carbohydrate và chất chống oxy hóa bảo vệ cơ thể. Mn cũng là đồng yếu tố trong một số phân hóa tố có liên quan đến sản xuất năng lượng. 
Khoai từ Lesser Yam Mexicaine hoang là một dược thảo có đặc tính :
- chống co thắt rất hiệu quả và được dùng trong những điều kiện như quặng thắt kinh nguyệt ( crampes menstruelles ),
- đau,
- tuần hoàn không đủ,
- đau dây thần kinh,
- căng thẳng thần kinh,
- đau quặng bụng dưới và đường ruột,
- và ngay trong giai đoạn viêm khớp và phong thấp. Rheumatoid arthritis RA.
● Khoai từ Yam cung cấp những yếu tố quan trọng cho chức năng:
- những tuyến hoạt đông tối ưu
- và những lợi ích cho những hệ thống hô hấp,
- đường tiểu
- và thần kinh.
● Một đặc điểm tích cực của khoai từ Lesser Yam là giúp kiểm soát huyết áp động mạch hay cao huyết áp. Đây bởi vì lý do trong khoai từ lesser Yam là nguồn nguyên tố potassum K, giúp duy trì mức huyết áp động mạch.
● Khoai từ cũng giúp dễ dàng cho sự tiêu hóa, bằng cách giản nở những đường ống dẫn và kích thích dòng chảy của mật. 
Nghiên cứu
● Chống viêm / hợp chất hóa thực vật :
Nghiên cứu chiết xuất trong méthanol khoai từ Dioscorea esculenta được đưa ra sự ức chế quan trọng mà liều lượng tùy thuộc, gây ra chứng phù thũng bởi hợp chất carragénine ( chất carragénine là chiết xuất trích từ rong biển hồng tảo, gel và thực phẩm nhủ tương hóa đặc biệt dùng để gây ra viêm phù thũng trong những thí nghiệm ) và được hỗ trợ sử dụng của dân gian trong trường hợp viêm sưng. Do sự tìm kiếm dấu vết của hóa thực vật đã mang lại những chất :
- saponines,
- disgenin,
- ß-sitostérol,
- stigmastérol,
- glycosides cardiaques,
- chất béo ,
- và tinh bột.
Chất chống oxy hóa :
Nghiên cứu sàng lọc hàm lượng hợp chất phénolique khác nhau của những cây trồng ở Phi luật Tân, bao gồm dây khoai từ Dioscorea esculenta, được tìm thấy ở các loại cây trồng giàu hợp chất phénolique với hoạt động chống oxy hóa. 


Nguyễn thanh Vân 


vendredi 8 juin 2012

Cây Trứng cá - Panama berry - Calabur

Panama berry - Calabur
Cây Trứng cá
Muntingia calabura L.
Muntingiaceae
Đại cương :
Cây trứng cá Muntingia calabura, là một loài duy nhất trong giống Muntingia, một loài thực vật có nguồn gốc từ miền nam Mexique, vùng Caraibes, Trung Mỹ, và tây Nam Mỹ về phía nam Pérou và Bolivie.
Tên thông thường, thường gặp bao gồm (English) Jamaican cherry, Panama berry, Singapore cherry, Bajelly tree, Strawberry tree; (Spanish) bolaina, yamanaza, cacaniqua, capulín blanco, nigua, niguito, memizo hay memiso; (Indonesia) kersen; và (Filipino) aratilis, aratiles, manzanitas, sarisa và Việt Nam gọi tên cây Trứng cá do đặc tính của trái, hạt bên trong giống như trứng cá.,
Đây là một trái nhỏ nhưng nổi tiếng và lành mạnh, được mang bởi một cây đa dụng và có giá trị. Ở Florida được mệnh danh là cây dâu tây vì hoa giống như hoa dâu
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :  Được ghi nhận ở Thái Lan, Java và Việt Nam. Tại Việt Nam có một thời gian, người ta đốn bỏ hết ???, nhưng hiện nay hình như có sự phục hồi trồng lại nguồn tài nguyên này.
Mô tả thực vật :
Cây trứng cá là một cây có sự tăng trưởng phát triển rất nhanh, với dáng thanh mảnh dể uốn, đạt tới 7,5 đến 12 m chiều cao, với tàng lá, nhánh gần như nằm ngang.
trứng cá không rụng thường xanh, mọc cách, hình mũi giáo hay dạng gần hình chữ nhật, dài nhọn ở đỉnh, tròn xiên ở dưới đáy lá 5 – 12,5 cm dài, xanh lá cây đậm và có lông ở mặt trên lá, màu xám hay nâu có lông ở mặt dưới, và có răng không đều.
Hoa, đơn độc hoặc 2 hay 3 ở nách lá 1, 25 đến 2 cm rộng, 5 đài hoa màu xanh lá cây và 5 cánh hoa trắng, nhiều tiểu nhụy vàng nổi bật. Thời gian trổ hoa chỉ 1 ngày, những cánh hoa rơi rụng trong buổi chiều cùng ngày.
Trái, nhiều phong phú, 1 – 1,25 cm rộng, màu đỏ đôi khi màu vàng, láng, mịn, da căng mỏng, và màu nâu sáng, mềm, nạt ngọt ngon mọng nước, rất ngọt thơm,
Hạt màu vàng, nhiều như trứng cá kích thước 0,5 mm, nhuyễn mịn được chú ý khi ăn.  
Bộ phận sử dụng :
Vỏ cây, lá và hoa.
Thành phận hóa học và dược chất :
► Thành phần hóa học :
▪ (-)-3’-methoxy-2’,4’,bet âtrihydroxydihydrochalcone,
▪ (2R,3R)-7-methoxy-3,5,8-trihydroxyflavone,
▪ (2S)-5-hydroxy-7-methoxyflavone,
▪ (2R,3R)-(-)-3,5-dihydroxy-6,7-dimethoxyflavone,
▪ (2S)-7,8,3’,4’,5-pentamethoxyflavan,
▪ (2S)-5’-hydroxy-7,8,3’,4:-tetramethoxyflavan,
▪ (2S)-(-)-5’-hydroxy-7,3’,4’-trimethoxyflavone,
▪ (2S)-5’-hydroxy-7,3’,4’-trimethoxyflavanone,
▪ 2,3-dihydro-4,3’,4’,5’-tetramethoxydihydrochalcone,
▪ 2,3-dihydroxy-4,3’,4’,5,-tetramethoxydiohydrochalcone,
▪ 2’,4’-dihydroxychalcone,
▪ 2’,4’-dihydroxy-3’-methoxydihydroxychalcone,
▪ 2’,4’-dihydroxychalcone,
▪ 2’,4’-dihydroxy-3’-methoxychalcone,
▪ 4’-hydroxy-7-methoxyflavanone,
▪ 4,2’,4’-trihydroxychalcone,
▪ 4,2’,4’- trihydroxy-3’-methoxydihydrochalcone,
▪ 5,7- dihydroxy-3-methoxyflavone,
▪ 5,7- dihydroxy-6-methoxyflavone,
▪ 5,4’- dihydroxy-3,7-dimethoxyflavone,
▪ 7-hydroxyisoflavone,
▪ 7,3’,4’- trimethoxyisoflavone,
▪ methyl gallate
▪ muntigone
► Thành phần chất dinh dưởng :
● Giá trị dinh dưởng cho 100 g của phần ăn được
- Độ ẫm 77.8 g,
- Chất đạm protein 0.324 g,
- Chất béo lipide 1.56 g,
- Chất xơ thực phẩm 4.6 g,
- Tro 1.14 g,
- Calcium Ca 124.6 mg,
- Phosphore P 84.0 mg,
- Sắt Fe 1.18 mg,
- Carotene 0.019 mg,
- Thiamine 0.065 mg,
- Riboflavin 0.037 mg,
- Niacin 0.554 mg,
- Ascorbic Acid 80.5 mg
*Analyses made in El Salvador.
● Hầu hết trái cây có chứa acide ascorbique, phân hóa tố, bioflavonoïdes, giàu nguyên tố khoáng như Chrome Cr, kalium K, và magnésium Mg v…v… cũng như các vitamines B, acides amines.
Đặc tính trị liệu :
Bệnh thuộc vị trường Gastro-intestinal :
● Trà biến chế từ hoa của cây trứng cá Muntingia calabura, được sử dụng trong :
- chứng khó tiêu indigestion.
Tại Phi luật Tân, trứng cá được xem như là :
- chống chứng khó tiêu antidyspeptique,
- và chống sự co thắt antispasmodique.
Những cây trứng cá, mặt khác có đặc tính :
- chống tiêu chảy.
► Sử dụng trong phụ khoa Gynnaecological :
Rể của cây trứng cá Muntingia calabura được xem như là :
- một dược thảo có đặc tính phá thai,
- và được dùng bởi những nữ hộ sinh theo truyền thống là một đơn thuốc cho :
- chứng mất kinh nguyệt amenorrhoea
- và kinh nguyệt không đều menstruration irregula.
► Bệnh rối loạn thần kinh :
Trà chế biến từ hoa trứng cá Muntingia calabura có hiệu ứng :
- trấn thống giảm đau
- và làm dịu cơn cuồng loạn,
- làm giảm cơn co quấp cơ, cơn động kinh clonic
► Các chứng khác :
Những hoa trứng cá được xem như là một dược thảo bổ tổng hợp. Hoa trứng cá chữa trị  :
- bệnh đau đầu,
- bệnh cảm lạnh,
- và đau răng.
Trong y học cổ truyền, hoa trứng cá được sử dụng như :
- một chất khử trùng ,
- và điều trị đau thắt bụng dưới les crampes abdominales.
- giảm đau đầu,
- cảm lạnh,
- chống co thắt,
- và làm mềm.
► Kinh nghiệm dân gian :
▪ Hoa trứng cá chống co thắt,
- Nấu sắc hoa trứng cá để chữa trị đau thắt vùng bụng ( như chuột rút ),
- chống co giật,
- trị nhức đầu.
- Nấu sắc cũng được dùng như chất làm mềm émolliente.
▪ Nấu sắc lá dùng chữa một vài bệnh về gan,
▪ Hoa được sử dụng như là:
- chất khử trùng
- và để điều trị những trường hợp co thắt.
▪ Cũng được dùng để làm giảm :
- cảm lạnh  rhume,
- đau đầu,
▪ Dung dịch trích có nồng độ 50% từ cây trứng cá có tác dụng :
- làm dịu cơn đau có nguồn gốc do tác động vào thần kinh trung ương,
▪ Dung dịch trích từ alcool của cây trứng cá có tác dụng:
- diệt bào,
- chống lại các tế bào ung thư.
▪ Tại Antiles, trứng cá được sử dụng như chất :
- chống sự co thắt antispasmodique.
▪ Ở Martinique, nấu sắc vỏ cây trứng cá được sử dụng như:
- một chầt nhầy,
- và chất làm mềm émolliente
► Nghiên cứu :
● Hoạt động kháng khuẩn :
1- Nghiên cứu kết luận rằng Cây trứng cá Muntingia calabura có đặc tính tiềm năng kháng khuẩn so với thuốc kháng khuẩn antibiotique tiêu chuẩn thường được sử dụng. Nghiên  cứu cũng cho thấy sự hiện diện của một hợp chất cực mạnh kháng khuẩn.
2- Nghiên cứu các phần phân đoạn sắc ký của một chiết xuất được phân lập từ méthanol của Multingia calabura với một hoạt động chống tụ cầu.
● Thành phần flavanone :
Nghiên cứu phân lập một flavanone cùng với 24 hợp chất được biết đến, chủ yếu là chất flavanones và flavon
● Antinociceptive / hạ sốt chống viêm :
Nghiên cứu kết luận rằng cây Trứng cá Muntingia calabura có đặc tính :
- hoạt động chống viêm, hạ sốt, chứng minh cho việc dùng thuốc trong dân gian của Pérou.
● Gây độc tế bào cytotoxic / chống ung thư :
▪ Tác nhân chống ung thư của thực vật, chất gây độc mới, ly trích từ rể cây Muntingia calabura :
12 chất flavonoïdes đã được phân lập ( 7,3 flavanes là những flavones, 2 biflavanes ). Phần lớn những chất phân lập cho thấy một hoạt động gây độc tế bào và một số hiện diện những hoạt động được chọn đánh giá với một số dòng tế bào ung thư của con người.
▪ Nghiên cứu lá và thân cây trứng cá Muntingia calabura. Lá và thân đã mang lại chất flavonoïdes gây độc tế bào như :
- chrysin, 2',4'- dihydroxychalcone
- và galangin 3, 7- dimethyl ether.
Những hợp chất đã hoạt động chống lại một hay nhiều nhóm dòng tế bào con người và chuột
● Bảo vệ tim / chống ung thư :
Một tiền trị liệu được thực hiện với chiết xuất lá cây trứng cá Muntingia calabura, có hiệu quả  bảo vệ hiệu quả tim chống lại chất isoprotérénol gây ra bởi chứng nhồi máu cơ tim..
Muntingia calabura còn dẩn đến sự giảm đáng kể trong các hoạt động phân hóa tố, ghi nhận tim có thể giảm mức độ tổn thương cơ tim và hạn chế của sự tươm chảy, rỉ phân hóa tố từ cơ tim. 
● Chống giảm đau Antinociceptive / thụ thể opoïde Connect :
Dung dịch trích xuất của Muntingia calabura cho thấy hoạt động chống giảm đau quan trọng dẩn đến những kích thích độc hại so với những  chất hóa học và nhiệt độ. Những hợp chất hoạt động sinh học chịu trách nhiệm của những hoạt động, làm việc một phần thông qua hệ thống những thụ thể opioïdes là một dạng thuốc phiện tổng hợp hoặc một dạng peptide có tác dụng tương tự như thuốc phiện. 
● Chất chống oxy hóa :
Nghiên cứu cho thấy mức độ cao của những hoạt động chống oxy hóa trong dung dịch trích của trái trứng cá. Có một hoạt động chống oxy hóa giữa những tương quan và hàm lượng những flavonoïdes phénolique.
● Chống ung thư / antiprolifératif chống sự sinh sản bất thường  / chống oxy hóa :
Nghiên cứu cho thấy cây trứng cá để lại những hoạt động chống lại những sinh sản bất thường và tiềm năng chất chống oxy hóa mà có thể là do hàm lượng cao bởi những hợp chất phénolique.


Nguyễn thanh Vân

mardi 5 juin 2012

Củ khoai mỡ tím - Igname pourpre


Igname pourpre
Củ khoai ngọt-khoai mỡ tím
Dioscorea alata L
Dioscoreaceae
Đại cương :
Dioscorea alata này đã được nhập tịch hóa khắp vùng nhiệt đới Nam Mỹ, Châu Phi, Nam Úc Châu, Đông Nam Hoa kỳ. Dioscorea alata có nhiều tên khác nhau tùy theo vùng phân phối.
Ngoài tên khoai mỡ tím, còn những tên khác bao gồm : Khoai mỡ lớn, rể huỳnh tinh Guyane, khoai mỡ mười tháng, khoai mỡ nước, khoai mỡ trắng, khoai mỡ có cánh, hay tên gọi đơn giản “ khoai mỡ ”, thuộc họ Dioscoreaceae .
Trong những nền văn hoá khác và ngôn ngử khác, được biết dưới tên uhi ở Hawaii, ratalu hay khoai mỡ tím violet de l’igname ở Ấn Độ, ube ở Phi luật Tân và khoai mỡ ở Việt Nam….
Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, được biết từ thời cổ đại.
Trồng dây khoai mỡ, đòi hỏi cần thiết một một khu vực sản xuất lớn khoảng 5 triệu mẫu tây hectares. Khoai mỡ dioscorea alata tăng trưởng trong thời gian 8 đến 10 tháng và sau đó nằm trong chế độ tình trạng “ ngủ đông mode hibernation” khoảng 3 đến 4 tháng.
Về thổ nhưỡng tính chất đất cứng, pH khoảng 5,5 đến 6,5 thích hợp cho sự tăng trưởng của cây. Nhiệt độ không khí thích hợp cho sự phát triển là 40 – 70 độ C. Về độ ẫm khoảng 1500 mm lượng nước mưa bắt buộc đối với các loại cây để nuôi trồng.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Khoai mỡ là loại cỏ thân thảo, dây khoai mỡ tím có thể phát triển đạt tới hơn 9 m dài. Chúng lan tràn khắp những khu vực rừng rậm ở cực đông nam Hoa Kỳ.
Thân lóng dây khoai mỡ hình vuông với các góc được nén thành những cánh.
mọc đối , 8 cm dài và hẹp hình trái tim, cuống lá dài.
Phương tiện chính của sự nhân giống tái sản xuất như củ khoai tây trên không nằm ở nách lá và những củ khoai nằm ngầm dưới đất.
Dây khoai mỡ ít khi thấy trổ hoa. Những hoa khoai mỡ rất nhỏ, sinh ra từ nách lá, có hình dáng đẹp và phát triển khác nhau giữa các loài của Dioscorea.
Khoai mỡ có thể hình thành một khối lượng dây leo dày đặc, những dây leo chằng chịt bao phủ, có thể hại chết những thực vật bản địa chung quanh chúng kể cả những cây thân mộc.
Rể khoai mỡ, phù lớn, thịt, và phát triển rất sâu nếu chúng được canh tác đúng mức. Củ khoai mỡ ăn được có chứa lượng lớn chất đạm protéines  và chất đường glucides.
Dây khoai mỡ là nguồn thực phẩm trong những năm 1800. Ở một số nước, hiện nay trồng khoai mỡ để sử dụng trong lãnh vực y học.
Bộ phận sử dụng :
Rể củ
Thành phận hóa học và dược chất :
▪ Thành phần hóa học Củ khoai mỡ tím :
- anthocyanines,
- glycosides stéroïdiens,
- cholestérol,
- campestérol,
- β-sitostérol
- stigmastérol,
- diosgénine,
- sapogénine,
- alcaloïde
- và tinh bột amidon.
▪ Khoai mỡ còn chứa một số chất như :
- stérols
- những acides trans-crotonique,
- férulique
- và acide palmitique (Ghani, 2003).
▪ Những vitamine thiên nhiên, những nguyên tố khoáng chất và những chất dinh dưởng được tìm thấy trong củ khoai mỡ :
- Glucides,
- Vitamin B1 (Thiamin),
- Vitamin B6,
- Vitamin B9 (Folate, Folique Acide),
- Vitamin C,
- Chất xơ thực phẩm,
- Phosphore P,
- Manganèse Mn,
- Potassium,
- Đồng Cu .
Thành phần dinh dưởng khoai mỡ tím Dioscorea Alata :
► Hàm lượng dinh dưởng chủ yếu :
● Hàm lượng năng lượng :
Khoai mỡ tím giàu năng lượng, một lượng khoai mỡ tím 125 g, cung cấp 177 calories. Số năng lượng này bao gồm khoảng 9 % so với tổng lượng đề nghị hằng ngày là 2000 calories, Người ta có thể đốt cháy tiêu thụ 177 calo trong vòng 30 phút với nhịp điệu thể dục ở những động tác nhẹ nhàng yếu.
● Hàm lượng glucides :
Khoai mỡ tím giàu glucides, mỗi 125 g khoai mỡ tím cung cấp 42 g glucides.
Không có một glucides nào đến từ đường, trong khi 6 g chất xơ thực phẩm khoai mỡ, một chất dinh dưởng giúp cho cơ thể có một cảm gíác no. Khoai mỡ tím là nguồn glucides tốt hơn glucide của khoai lang, lượng 125 g khoai lang chỉ chứa 26 g glucides, với 8 g đường và 4 g chất xơ.

● Hàm lượng Proteine :

Khoai mỡ tím, giống như những mẫu khoai khác như khoai tây pomme de terre và các loại củ giàu tinh bột, nghèo chất đạm protéine.
Một lượng 125 g khoai mỡ tím chỉ chứa 2 g chất đạm protéine. Protéine là một chất dinh dưởng cần thiết giúp đở hình thành những tế bào và những mô trong cơ thể con người.
Thường con người tiêu thụ khoảng 50 g đến 65 g chất đạm mỗi ngày để bảo đảm tốt cho sức khỏe. 

● Hàm lượng chất béo :

Khoai mỡ tím thiên nhiên ít chất béo. Mỗi phần 125 g khoai mỡ tím chứa 0,25 g chất béo.
Những chất béo thực phẩm giàu năng lượng nhưng chúng không đưa đến một lợi ích dinh dưởng nào, bao gồm sự hổ trợ sự hấp thu một số chất dinh dưởng và giúp đở sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh.
Đặc tính trị liệu :
Dây khoai mỡ Dioscorea alata có lợi ích cho sức khỏe. Do thành phần dược chất có trong khoai mỡ nên rất hữu ích trong việc khắc phục các loại bệnh lý và những vấn đề khác nhau.  
► Những lợi ích có thể liệt kê như sau :
● Sự hiện diện ở mực độ cao vitamine B6 trong khoai mỡ làm giảm chứng trầm cảm ở người phụ nữ.
● Tốc độ của sự chuyển đổi carbohydrate glucides hiện diện trong khoai mỡ thành đường rất chậm, do đó mà có thể giúp hạn chế sự gia tăng lượng đường máu trong cơ thể con người.
● Những yếu tố thành phần của Khoai mỡ mang lại lợi ích cho hệ thống đường tiểu con người, hệ thống hô hấp và thần kinh.
● Hàm lượng manganèse Mn trong Khoai mỡ cao làm gia tăng mức độ năng lượng trong cơ thể.
► Ngoài lợi ích tổng quát Khoai mỡ có những lợi ích cho sức khỏe như :
● tăng cường chức năng miễm nhiễm,
● bảo vệ chống lại những bệnh về tim.
● làm chậm sự lão hóa,
● sửa chữa nhiễm thể ADN và bảo vệ chúng.
● giảm những rủi ro bệnh tim mạch.
● chống lại sự gia tăng huyết áp (áp suất động mạch cao ),
● bảo vệ ngăn ngừa chứng Alzheimer.
● bảo vệ sự loãng xương ostéoporose,
● phòng chống rủi ro của chứng bệnh tai biến mạch máu nảo AVC
● bảo vệ chống oxy hóa,
● phòng ngừa chứng co giật động kinh épilepsie,
● phòng chống chứng rụng tóc alopécie ( hói đầu )
Sử dụng :
Khoai mỡ được sử dụng nhiều, ăn được, y học do hàm lượng glucides cao ở dưới dạng tinh bột.
Củ khoai mỡ này rất giàu chất dinh dưởng và được xem như nguồn lý tưởng cho các protéin và năng lượng.
▪ Khoai mỡ ăn được :
- Khoai mỡ có thể được sử dụng trong các món ăn tráng miệng khác nhau.
- Hương vị thơm của khoai mỡ có thể được sử dụng làm tarts, cookies, bánh ngọt, kem đá, sữa v…v…
- Ở Phi luật Tân, khoai mỡ được sử dụng như mức ngọt,
► Sử dụng trong y học :
● Khoai mỡ được sử dụng như loại thuốc :
- trị giun sán,
- nhuận trường trong thực hành chữa những bệnh khác nhau
● Được sử dụng rộng rãi để chữa trị :
- bệnh trĩ  nội, nơi trĩ ở trong có cảm giác nóng cháy,
- sốt fièvre,
- bệnh lậu gonorrhée,
- các khối u tumeurs,
- bệnh phong cùi lèpre
- và những chứng khác .
●  Giải quyết một số vấn đề tiêu hóa,
● Kiểm soát tác động của huyết áp động mạch .
● Hổ trợ làm giảm :
- sự căng bắp cơ,
- căng thẳng thần kinh,
- đau dây thần kinh,  
- và chuột rút crampes.
► Trong y học cổ truyền, khoai mỡ được sử dụng như :
- thuốc nhuận trường và trục giun sán,
- và như thuốc trị sốt fièvre,
- bệnh lậu gonorrhée,
- phong cùi lèpre,
- những khối u tumeurs,
- và những chứng trĩ trạng thái nóng phỏng bên trong hémorroïdes enflammées.
- những giun đường ruột vers intestinaux,
- hội chứng thời kỳ mãn kinh,  
- và tình trạng yếu sức tổng quát .
► Theo kinh nghiệm dân gian :
Bột khoai mỡ được sử dụng như một đơn thuốc cho :
- bệnh lậu gonorrhée,
- và áp dụng bên ngoài trên vết thương .
► Tiêu dùng khoai mỡ trong thời kỳ thai nghén :
Khoai mỡ dioscorea alata dùng như một thành phần thiết yếu trong sự giử nước tối thiểu và đồng thời giúp làm nhẹ bớt :
- các triệu chứng nôn mửa,
- và bệnh tật trong thời kỳ thai nghén.
Nghiên cứu :
● Hoạt động chống oxy hóa :
Rể cây như là một chất chống oxy hóa. Một nghiên cứu năm 2006, người tiêu dùng thường xuyên những rể cây trồng ở Phi luật Tân ( Kamote, Ipomoea, batata, khoai mỡ tím, Dioscorea alata, …) cho thấy rằng những rể giàu hợp chất phénolique với hoạt động chống oxy hóa, cao nhất là rể khoai lang, tiếp theo là taro, khoai tây, khoai tím, kém nhất là carotte.
Nghiên cứu cho thấy hyperhomocysteinemia gây ra bởi methionine có thể làm được đảo ngược bằng cách cho ăn khoai mỡ dioscorea alata. Dioscorea alata cho thấy những hiệu quả chống oxy hóa.
● Chức năng GI ( Gastro-ìntestinale Dạ-dày Ruột ) / Chống oxy hóa :
Dung dịch trích từ củ khoai mỡ đã chứng tỏ hoạt động nhặt rác gốc tự do. Nghiên cứu khoai mỡ Chinoise và khoai mỡ Nhật bản đã đem lợi ích :
- sức khỏe cho hệ ruột
- và ngăn ngừa quá trình oxy hóa
● Hoạt động œstrogène :
Nghiên cứu dung dịch trích người ta phân lập được một hợp chất mới và cho thấy một sự kích hoạt các thụ thể œstrogène alphabêta. Kết quả cho thấy lợi ích của khoai mở đối với phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh.
● Dioscorine / sự chuyển đổi của angiotensin ức chế phân hóa tố enzyme/ hạ huyết áp :
Dioscorine là một protéine được tồn trữ trong củ khoai mỡ và quá trình thủy phân của nó, sự hiện diện sử dụng có tiềm năng để kiểm soát tăng huyết áp.
● Hạ cholestérole :
Nghiên cứu cho thấy thức ăn thực phẩm khoai mỡ có hiệu quả giảm 50 % trên mức cholestérole trong huyết tương plasma và gan có thể thông qua chất béo trong phân và bài tiết stéroïdes tăng lên. 
● Hiệu ứng oestrogénique ở những phụ nữ thời kỳ mãn kinh :
Trong một nghiên cứu ở người phụ nữ thời kỳ mãn kinh với chế độ ăn uống gạo được thay thế bằng khoai mỡ trong 30 ngày cho thấy có cãi thiện kích thích tố giới tính ( estrone, sex hormone binding globulin, estradiol ), những chất béo lipides trong máu và các chất chống oxy hóa. Cho thấy có thể có lợi ích giảm thiểu :
- ung thư vú
- và bệnh tim mạch
ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh.
● Hiệu ứng bảo vệ xương :
Khoai mỡ ngăn chận sự thất thoát của DMO ( densité minérale osseuse mật độ nguyên tố khoáng trong xương ) và cải thiện tình trạng calcium mà không cần phải kích thích sự phì đại utériine ở chuột ovariectomized. TNG khoai mỡ có thể lợi ích cho phụ nữ mãn kinh để ngăn ngửa chứng mất xương, tình trạng calcium trong xương thoái hóa .
● Hiệu ứng bảo vệ thận / bảo vệ gan :
Những nghiên cứu dược lýsinh hóa, người ta chứng minh khoai mỡ có cả hai tác dụng bảo vệ gan và bổ gan ở chuột acetaminophen. Kết quả cung cấp căn bản cho việc sử dụng khoai mỡ trong y học truyền thống Trung Quốc do sự thiếu hụt của “ âm ” ganthận “ âm ” hư.
Tác dụng phụ :
Dioscorea alata tác dụng phụ
Khoai mỡ tím có một vài tác dụng phụ cần thiết chú ý trước khi dùng :
● Người thường xuyên dùng khoai mỡ tím dioscorea alata có thể dẫn đến những vấn đề sức khỏe khác nhau liên quan đến :
- tiêu chảy,
- đau đầu,
- nôn mửa,
- và nhiều nữa.
● Khoai mỡ tím hoạt động như một yếu tố œstrogène do đó cần phải tránh cho những người có dị ứng nghiêm trọng với chúng.
● Khoai mỡ tím khuếch đại nguy cơ hình thành những cục máu ( caillots ) ở những người có sự thiếu hụt chất đạm protéine S cấp tính. ( thiếu protéine S là một rối loạn liên quan với sự tăng huyết khối tĩnh mạch ).


Nguyễn thanh Vân

dimanche 3 juin 2012

Cây Trâm - Jamblon - Jamelonier


Jamblon - Jamelonier
Cây Trâm
Syzygium cumini (L.) Skeels
Myrtaceae
Đại cương :
Cây Trâm, tên gọi jamblon hay jamelonier là một cây vùng nhiệt đới, không thay lá thuộc họ Myrtaceae.
Cây Trâm có mức độ tăng trưởng nhanh, có thể đạt đến 30 m chiều cao và có thể sống hơn 100 năm. Tàn lá rậm cho một bóng mát và được trồng chủ yếu có giá trị làm cảnh, trang trí trong vùng. Gổ cứng, không mục. Đây là lý do người ta dùng gổ cây trâm làm đường rầy sắt và cày đặt trong những giếng nước. Đôi khi người ta dùng để chế tạo đồ dùng trong nhà với  giá thành rẻ.
Cây Trâm bắt đầu trổ hoa vào tháng 3 đến tháng 4. Những hoa Trâm có mùi thơm và nhỏ, khoảng 5 mm đường kính. Trái phát triển vào tháng 5 hay tháng 6 và hình dáng là những quả nạc, trái Trâm hình bầu dục, màu xanh lúc bắt đầu, trổ sang màu hồng và cuối cùng màu tím đen bóng khi trưởng thành chín mùi. Một biến thể của cây cho ra trái màu trắng.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Thực vật kích thước trung bình nguồn gốc Bangladesh, Ấn Độ, Népal, Pakistan và Nam Dương.
Mô tả thực vật :
Cây thân mộc, cao 6 – 20 m. Cành cây màu xám trắng khi khô, hình trụ.
, mọc đối, trên nhánh dài, phiến lá nguyên, rộng, hình ellip, hẹp ở đầu lá, 6 – 12 x 3,5 – 7 cm, dai cứng láng, màu hơi nhạt khi khô, trục màu nâu đen hơi bóng khi khô, 2 mặt với những tuyến nhỏ, gân phụ nhiều,
Phát hoa chùm có hoa hình chùy, hoa mọc trên cành không lá đôi khi mọc trên cuối nhánh, có đỉa mật thơm và quyến rủ ong mật, dạng pyriforme giống hình trái lê 4 mm – 7-8 mm. Đài hoa có thùy 0,3 đến 0,7 mm, cánh hoa 4, màu tím hay tráng sáng, dính nhau, hình bầu dục và hơi tròn khoảng 2,5 mm. Tiểu nhụy 3 – 4 mm. Vòi nhụy dài giống tiểu nhụy.
Trái màu đỏ đen, dạng ellip giống như cái bình lớn khoảng 1 – 2 cm, chứa 1 hạt, ống đài cón lại 1- 1,5 mm, không trưởng thành cùng một lúc trên cành.
Trái là những quả nạc nhỏ có dạng như trái olive, hình bầu dục tròn thon, xanh lúc ban đầu, chuyển sang màu hồng, và cuối cùng màu tím đen và bóng láng khi trưởng thành chín mùi. Một điều, là trái trâm phải tách rời khỏi cuống trái, trái ăn được, nếu không trái sẽ có vị đắng và không tiêu thụ được.
Nạc thịt của trái mát, để lại ở lưỡi và miệng một màu tím đen khi ăn, lý do trong trái có chứa nhiều chất anthocyanine , giàu chất vitamine A và vitamine C.
Ở giữa trái duy nhất một hạt cứng, hình bầu dục, màu nâu nhạt, hạt có thể dùng để tạo giống, thành phần màu xanh lục.
 Hoa trổ  vào tháng hai-ba hoặc 4 và 5, kết trái tháng 6 và tháng 7.
Cây Trâm mọc ở rừng thứ cấp, trên những vùng cao, vùng đất hoang dưới 100 đến 1200 m.
Ở Trung quốc, Quảng đông, Phúc kiến….. Ấn độ, Nam Dương, Lào, Việt Nam, Mả Lai, Thái Lan ……Úc Đại Lợi.
Bộ phận sử dụng :
Gổ dùng chế biến đồ dùng, trái để ăn….
Thành phận hóa học và dược chất :

Dinh dưởng và hoá thực vật :
Thành phần hoá thực vật được thể hiện tóm tắc như sau :
Đặc tính trị liệu :
Hạt trâm còn được dùng trong “ y học thay thế ” khác ( thuật ngữ y học thông thường được mô tả  là một phương pháp chăm sóc thay thế còn được gọi là thuốc thay thế, thuốc bổ sung …. ) như y học ayurvédique để kiễm soát :
- bênh tiểu đường chẳng hạn .
Y học Yunani hoặc Unani ( thuốc có nguồn gốc của nó trong giả kim thuật thời trung cổ và các phương pháp trị liệu phương Tây của Hy Lạp cổ đại. Yunani có nghĩa là "Hy Lạp" trong nhiều ngôn ngữ phương Đông (tiếng Ả Rập, Hindustani, Ba Tư, Tamil, vv). Từ này xuất phát từ tiếng Hy Lạp "Ionia," tên của bờ biển Hy Lạp Tiểu Á hoặc y học Trung quốc cho :
- những bệnh của hệ tiêu hóa.
● Vỏ cây và hạt được sử dụng như là :
- thuốc trị bệnh tiểu đường,
- dường như có tác dụng giảm nồng độ đường trong một thời gian ngắn.
● Lá và vỏ cây được sử dụng để :
- kiểm soát huyết áp động mạch,
- và điều trị viêm lợi nướu răng.
● Trái cây : Trái cây chỉ ăn được khi tách rời khỏi cuống trái, nếu không sẽ có vị đắng và không ăn được.
Nạc thịt trái trâm có vị ngọt, hơi chua và làm giảm sự co thắt.
Nạc của trái chín tươi nhuộm lưỡi một màu tím đen, nhuộm tay, và những quần áo ….  bởi vì trái này có chứa chất anthocyanine một chất chống oxy hóa. Ngoài ra trái chứa nhiều vitamine A và vitamine C.
Trong y học cổ truyền :
- nước trái cây được sử  dụng để loại bỏ những vấn đề về dạ dày.
Người ta loại bỏ các chất chát bằng cách ngâm trong nước muối trước khi nấu.
Trong y học truyển thống ngày nay, được dùng :
● Trái cây nguyên :
- chất làm giảm co thắt,
- thuốc dể tiêu stomachique,
- thuốc tống hơi carminative,
- thuốc trị hoại huyết antiscorbutique,
- và thuốc lợi tiểu.
Trái cây nấu đậm đặc, được ăn làm :
- dịu bệnh tiêu chảy cấp tính.
● Nước ép trái chín hoặc nước nấu sắc trái trâm jambolan có thể dùng chữa trị ở Ấn Độ trong những trường hợp :
- lá lách phù to hypertrophie de la rate,
- bệnh tiêu chảy mãn tính,
- và duy trì nước tiểu rétention d’urine,
Nước trái cây pha loãng với nước dùng :
- như nước súc miệng cho bệnh viêm họng,
- và là một loại nước kem cho bệnh ghẻ chóc da đầu.
● Hạt trâm dưới dạng lỏng hay bột được dùng uống,
▪ 2 hay 3 lần / ngày cho những người mắc :
- chứng bệnh tiểu đường diabète
- hay chứng đường trong nước tiểu glycosura.
Trong nhiều trường hợp dùng, mức đường trong máu giảm rất nhanh và không có hiệu quả xấu.
Lá trâm ngâm trong rượu, được quy định chữa bệnh tiểu đường.
Nước ép của lá có hiệu quả trong chữa trị bệnh lỵ dysenterie.
Dùng riêng hay phối hợp với những nước ép khác như soài ….
Những lá jambolan có thể sử dụng dưới dạng thuốc dán cataplasme lên chổ đau trên da.
Lá, thân, nụ hoa, hoa nở và những vỏ có hoạt tính như chất kháng sinh.
► Nấu sắc vỏ cây được dùng trong cơ thể :
- chống bệnh kiết lỵ,
- chứng khó tiêu,
- chứng bệnh tiêu chảy.
- và được dùng như thuốc thục bôm rữa ruột.
Vỏ rể cây cũng được dùng trong cơ thể như trên.
► Nấu sắc vỏ được dùng trong trường hợp :
- suyễn,
- viêm phế quản,
- và dùng để súc miệng gargariser,
Hay dùng như rữa miệng có hiệu quả giảm sự co thắc trên :
- những chứng lơét miệng,
- lợi răng xốp,
- và viêm miệng.
► Tro của vỏ, pha trộn với nước được chữa trị :
- sự lan rộng trên những bộ phận viêm sưng,
- hay trộn với dầu đắp vào những chổ mụn nước.
Chủ trị : indications
● Lá chủ trị kháng khuẩn và được sử dụng để củng cố nướu răng.
● Trái cây và hạt hương vị nhọt, chát, chua dùng làm thuốc bổ và tính hàn.
Được sử dụng trong trường hợp bệnh tiểu đường, tiêu chảy và nấm ngoài da.
● Vỏ cây là chất :
- giảm sự co thắt, ngọt hơi chua,
- tác dụng lợi tiểu,
- giúp tiêu hóa,
- và trục giun sán.
● Ngoài ra lá trâm còn dùng dưới dạng thuốc dán đắp trên những chứng bệnh ngoài da.
● Nước sắc của trái trâm dùng trong trường hợp :
- trương nở lá lách rat.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Trong phương pháp trị liệu hiện nay, chất tanin không còn được công nhận để điều trị da bị phỏng bởi vì tanin được hấp thụ và có thể nguyên nhân gây ra bệnh ung thư.
Dùng uống quá nhiều, những sản phẩm thực vật có chứa nhiều chất tanin, cũng có thể nguy hiểm cho sức khỏe.


Nguyễn thanh Vân