Tâm sự

Tâm sự

lundi 5 décembre 2011

Cây mù u - Takamaka

Takamaka
Cây mù-u
Calophyllum inophyllum L.
 Calophyllaceae
Đại cương :
Cây mù u Calophyllum inophyllum là một thực vật đại mộc vùng nhiệt đới luôn luôn trạng thái xanh, người ta thường tìm thấy nhiều ở bờ biển Ấn Độ  và Thái bình dương  và những sinh thái thực vật liên hệ tới biển. Việt Nam thường gặp ở đồng bằng sông cửu long khắp miền nam Việt Nam.
Mù u takamaka  thích sống môi trường mặn và cát, trang hoàng và tươi mát phong cảnh, sự phát tán phân phối của mù u nhờ có trái nổi và trôi đi theo dòng nước di chuyển nơi khác.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Cây mù u có nguồn gốc ở vùng ven biển Đông Phi, miền nam Ấn Độ và Úc. Hiện nay chúng di chuyển khắp nơi những nơi có môi trường nước lợ ven biển ở Thái bình Dương, Đại tây dương và chúng cũng được trồng trên lục địa Mỹ.
Mô tả thực vật :
Cây mù u takamaka thân đại mộc, 8 đến 20 m cao ( có cây đạt đến 25 m ) và cành lá có khi đạt đến 35 m đường kính.
Thân cây phức tạp đôi khi nghiêng, đường kính 1,5 m, được bao bọc bởi lớp vỏ cứng, màu vàng ánh đỏ bên ngoài nhưng càng ngày trở nên dày, mềm, thành tầng, màu hồng đỏ đôi khi biến ửng nâu dưới ánh mặt trời..
Hình dạng tàng lá hình chóp nón bán nguyệt, tạo nên do những cành nhánh tròn với dạng vuông khi cây còn non.
Chồi ngọn hình cầu và kích thước 4 đến 9 mm dài.
màu xanh la cây đậm, hình bầu dục, dầy mịn, phủ lớp bóng, 8 cm – 20 cm dài trung bình ( 5,5 cm tối thiểu và 23 cm tối đa ), 5 – 9 cm rộng, không lá bẹ và gân lá phụ nhuyển, song song và rỏ  trên mặt dưới lá .
Phát hoa ở ngọn, thông thường chia nhánh ( tối đa 3 nhánh ), chùm 5 đến 20 hoa ( tối đa 30 hoa ).
Hoa, có mùi thơm nhẹ, bao gồm 1 vành hoa xoắn ốc, lá đài 4 trắng, cánh hoa 4 màu trắng, tiểu nhụy nhiều, màu vàng tập hợp thành nhóm 4 và bao phấn vàng kaki hay nâu, sinh sản bằng phái tính, thường đôi khi lưỡng tính.
Bầu noản tròn, màu hồng, bóng, không lông và biến thành trái hình cầu 2 – 5 cm đường kính, da thay đổi từ màu xanh lá cây đến màu nâu, trơn, mịn, một lớp vỏ cứng bao bọc, 1 hạt duy nhất được bảo vệ bởi một lớp xốp.
Hạt, 2 – 4 cm đường kính, màu nâu gồm 2 tử diệp lớn và 1 rể nhỏ.
Cây mù u takamaka  có mũ dính, mờ đục và màu trắng hay vàng .
Bộ phận sử dụng :
Thân, lá, trái, tinh dầu
Thành phận hóa học và dược chất :
Người ta tìm thấy trong mù u :
- Sắc tố flavonoïdes,
- Dẫn suất của coumarine : calophylollide inophylollide
- Terpénoïdes, cung cấp chất mùi hương vị cho mù u,
- Những triacylglyrérols, thành phần acides béo như sau :
acide oléique 49%.
acide linoléique 21% ,
acide palmitique 15%,
acide stéarique 13%,
acides eicosanoïques 1.7%,
acide linolénique 0,3%.
Những chất tanins, được tập trung trong vỏ cây nhưng cũng có thể trích từ lá, chất trích được nấu sắc và được dùng để làm cứng và nhuộm lưới đánh cá của dân chài.
Chất béo của cây mù u takamaka  được bào chế dầu như dầu domba, pinnai hay dầu dilo : đặc tính mùi hôi, nhớt, màu thay đổi vàng xanh đến xanh lá cây đậm, thành phần gồm :
- Oléique,
- Palmitique,
- Stéarique,
- linoléique.
Gổ và vỏ cây mù u chứa các nhóm lớn của xanthones, một trong nhóm chất jacareubine chỉ  được sản xuất bởi calophyllum.
Tinh dầu mù u cũng tiết ra ở những vết nứt của vỏ cây một cách tự nhiên những nhựa màu xanh lá cây, nhưng không một tài liệu nói về sự kiện và tính chất của nhựa này.
Đặc tính trị liệu :
Tinh dầu trích từ trái mù u takamaka  đã được dùng như phương thuốc chống :
- Chứng phong thấp rhumatismes,
- Loét ulcères,
- Phỏng brûlures
- và những bệnh ngoài da .
Vỏ mù u :
- Tác dụng co thắc astringentes, dùng phương pháp nấu sắc trộn với mủ latex để chống lại chứng tiêu chảy.
- Chống lại những bệnh ngoài da và mắt,
- Chống bệnh phong thấp rhumatismes
- hay giúp đở những bà mẹ sau khi sanh đẻ.
Hoa, lá, và những hạt đôi khi được dùng trong y học cổ truyền.
Dầu mù u hiện nay là một chủ đề sản xuất công nghiệp để làm mỹ phẩm trong các nước miền nam Thái bình dương.
Người ta cũng được biết đến những đặc tính trị liệu y học :
- Mù u takamaka  có khả năng chống sự nhiễm trùng,
- Chống sự viêm sưng,
- Tạo sẹo lành vết thương do hiệu quả kháng sinh trực tiếp và gián tiếp bởi sự kích thích hoạt động thực bào của những tế bào hệ thống mạng lưới nội mô ( réticulo-endothélial ) (macrophages )..
- Mù u có sức mạnh khả năng giảm đau và chống nhức đầu bởi hiệu quả thoa tinh dầu trực tiếp nơi đau.
- Có khả năng bảo vệ hệ thống mạch máu ( nhất là tĩnh mạch và mao quản ).
- Có khả năng chống bệnh phong thấp bởi dùng trực tiếp tại chổ nơi đau hoặc uống .
Ứng dụng tại chổ vết thương :
Những vết thương được nuôi dưỡng bởi dầu mù u như :
- vết thương mạch máu, loét nằm liệt giường chẳng hạn loét sau xương khu khi bệnh nằm không vệ sinh lâu ngày,
- loét nhiệt đới,
- vãy mục hay gia bì thứ cấp do sự rối loạn động mạch ngoại vi,
- rối loạn dinh dưỡng những bệnh nhân tiểu đường.
- Những vết phỏng không nhiễm trùng bởi sự ăn da, nước sôi, phỏng do khí đốt, tinh dầu mù u sẽ làm dịu mát cũng như dịu đau những vết phỏng.
- Những những vết phỏng nắng « coups de soleil », với sự cẩn thận và trộn tinh dầu mù u với những dầu khác thí dụ như 90% dầu dừa, 10% dầu mù u tamanu..
Dầu tamanu hay dầu mù u :
- Những vết nứt ở hậu môn ( fissures anales ),
- chứng trĩ máu nội ( khi những vết nứt ở màng hậu môn gây chảy máy nhỏ và đặc lại tạo thành những cục máu caillots sanguins ),
- những hiệu quả tạo sẹo và chống viêm sưng, thêm vào một hiệu quả khả năng chống đông máu nhẹ, khả năng ngừa sự đông máu khác.
- Những bệnh ngoài da khác như :
- Thủy bào chẫn herpès,
- phát chẫn éruptions,
- côn trùng ( ong chẳng hạn ) chích làm ngứa với vết trầy do sự ma sát mạnh. 
Ma sát hay xoa bóp :
- Đau khớp xương,
- Viêm gân,
- Bông gân,
- Đau cơ ( viêm cơ myopsie, rách hay đứt cơ claquage ).
Trong kỹ nghệ :
Dầu mù u còn dùng để chế tạo savon, làm bóng, dùng trong y học truyền thống hoặc pha lẫn với chất nhựa résine của cây Vateria indica để sơn, trét tàu thuyền ở miền duyên hải.
Dầu sơn này có thể có 10% - 30% tinh chất résine ( cho một mùi hôi khó chịu ) được dùng như vernis.
Những lá mù u chứa những chất :
- Saponine,
- Cyanure d’hydrogène,
2 độc chất trên dùng để đánh cá.
Chất mũ mù u takamaka , tự nó là dẫn chất coumariniques, có đặc tính diệt côn trùng insecticides và thuốc cá piscicides.
Hiệu quả xấu và rủi ro : :
Dầu mù u tamanu có thể làm nổi mận nhẹ, cho ra cảm giác nóng như viêm nhẹ sau khi dùng cho những da nhạy cảm, ở những trẻ em, trên mặt tóm lại những vùng có da non.
Trái mù u ăn được thường dùng nấu trong nước nhưng phải được cẩn thận nấu chín vì mù u chứa những độc tố.
Một vài nhà trị liệu khuyên nên giới hạn tĩ lượng 10 – 20% lượng tinh dầu mù u pha chế dầu xoa bóp và tránh sử dụng ở trẻ em và những dàn bà mang thai.


Nguyễn thanh Vân

samedi 3 décembre 2011

Cây Sả - Citronnelle

Citronnelle
Sả
Cymbopogon citratus (DC.) Stapf,
Poaceae
Đại cương :
Sả citronnelle có nguồn gốc ở phía Nam Ấn Độ. Một loại thân thảo rất thông thường gần gủi với mọi người mọi tầng lớp giai cấp Thái Lan, Việt Nam, Mả Lai, Cambodge, Nam Dương và hầu hết trong lục địa Châu Phi và Châu Mỹ trong lãnh vực thức ăn và y học.
Là một thực vật thân thảo vùng nhiệt đới thuộc họ Poaceae ( Graminae ), người ta trồng bằng thân và lá, có phẩm chất mùi ( hương vị chanh ), do trong sả chứa chất citronellol.
Tên thông thường gọi : Citronnelle, Cỏ chanh, Verveine Ấn Độ, Jonc odorant….
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Như đã nói phần trên, sả có nguồn gốc từ Ấn Độ, người ta cũng tìm thấy trong những vùng khác nhau ở Phi Châu và những vùng Antilles.
Mô tả thực vật :
Cây sả với một hình dạng đẹp của họ poaceae, đơn tử diệp, với một cụm bui dày đặc tán tròn như tựa một tấm nệm.
có màu xanh lá cây hơi xanh dương cho một mùi thơm có hương vị chanh mạnh và liên tục. Hình dạng khác thường với các loại cỏ khác của họ và tỏa một hương vị thơm nên sả là một cây rât thú vị cho mọi người. Lá sả có công dụng nhiều trong lãnh vực phép nấu ăn và thức uống .
Loại cỏ có căn hành ( rể ), rất bền và chịu đựng, sống đa niên được bảo vệ chống với khí hậu tương đối khó khăn.
Thân thảo, lá thon dài thẳng, 90 cm đến 2 m dài, cạnh nhám và bén sắc, màu xanh lá cây hơi xanh dương.
Thân rỗng, dạng củ ở phấn dưới, được bao bọc bởi những bẹ lá bao quanh.
Phát hoa ít gặp ( vì thường hay bị cắt ), chùm tụ tán thưa, chùm từng cặp lẽ, dài 1,5 – 2 cm, có mo, gié hoa hẹp, có cọng và không cọng, không gai.
Nhân giống :
Mua lấy thân sả, phải màu rất xanh ở chợ hay siêu thị còn phần gốc. Ngâm 3 nhánh, tùy nhiều ít trong  một ly nước lớn với giọt nhỏ phân nước và để trong nơi mát, bóng râm. Rể con sẽ được hình thành sau 10 ngày sau đó đem trồng xuống đất.
Bộ phận sử dụng :
Phần trên không màu trắng ngà ( phần phù ra trên rể trên lá ), lá xanh.
Thành phận hóa học và dược chất :
Thành phần hóa học chánh chứa trong sả chanh :
- Citral hay lemonal,
- Một aldéhyde giữ trách nhiệm tạo ra mùi thơm duy nhất của chanh.  Citral cũng có đặc tính mạnh chống vi khuẩn và kháng nấm.
Ngoài ra, những bộ phận mỏng của sả chứa những chất khác của tinh dầu chẳng hạn như :
-  Myrcène, chất giảm đau và chống khuẩn,
-  Citronellol,
-  Citronnelle,
-  Méthyl heptenone,
-  Dipentène,
-  Géraniol,
-  Limonène,
-  Acétate de géranyle,
-  Nérol ….v..v..
Bộ phận trên không chứa khoảng 0,5 % đến 0,7 % tinh dầu sả ( citral, néral, myrcène…), và alcaloïdes.
Thành phần chánh trong lá :
- 0.2-0.5% tinh dầu sả,
- 35% cis-citral
- 40% trans-citral
- 14% myrcene
- 3% geranyl acetate
- 2% methyl heptenone
- 1% linalool
Dùng phương pháp chưng cất hơi nước, ngưng tụ và làm lạnh bằng dòng nước chảy qua hệ thống chưng cất phân đoạn để tách rời tinh dầu và nước.
Hydrosol hay hydrolate màu vàng là một sản phẩm phụ qua quá trình chưng cất là một loại nước tinh dầu nguyên chất thiên nhiên dùng để chế tạo sản xuất những sản phẩm nước dưỡng da, như kem, hay nước để rữa da mặt.
Sản phẩm chánh tinh dầu nguyên chất sinh học  dầu sả dùng trong tinh dầu thơm liệu pháp.
- Sả chanh có rất ít năng lượng calorie, chứa khoảng 99 calo / 100 g nhưng không chứa cholestérol.
- Phần thân phù và lá rất tốt có chứa acide folique ( 100 g lá và thân cung cấp khoảng 75 mg hay 19% AJR Apports Journaliers Recommandes ) Folate rất quan trọng trong việc phân chia tế bào và tổng hợp DNA.
Khi dùng trong thời kỳ péri-conception có thể giúp ngừa những khuyết tật về ống thần kinh ở những trẻ em.
Phần lá mỏng sả chanh rất giàu một số nhiều vitamine, vitamine cần thiết như :
- acides pantothénique ( vitamine B5 ) ,
- Pyridoxine ( vitamine B6 ),
- và thymine ( vitamine B1 ).
Những vitamine này cần thiết trong chiều hướng là cơ thề cần lấy từ bên ngoài để tái tạo lại.
Sả tươi cũng chứa những vitamine với lượng nhỏ chống sự oxy hóa như là vitamine C và vitamine A.
Đặc tính trị liệu :
Sả chanh cymbopogon citratus thường được bán dưới dạng thân.Trong khi sả có thể trồng trong những vùng nóng ấm ôn đới ( như Anh Quốc ),  Sả không khả năng chịu đựng khí hậu lạnh đóng băng.
Những nghiên cứu thực hiện trong phòng thí nghiệm cho thấy sả có đặc tính :
- Bảo vệ tế bào ( như bảo vệ tế bào dạ dày ) Cytoprotecteur,
- Chống oxy hoá Antioxydante,
- và  chống viêm sưng anti inflammatoire.
Phần phù ở gốc màu trắng vàng lợt được sử dụng trong phép nấu thức ăn ở Chấu Á như Campuchia, Nam Dương, Việt Nam, Mả Lai, Viet Nam …) để làm hương vị trong thịt, gà, cá, sò ốc….). Lá tươi hay phơi khô dùng bằng phương pháp ngâm trong nước sôi chữa trị :
- làm tươi mát cơ thể 
- và tiêu hóa.
Người ta ly trích tinh dầu mà những chất hoá học chánh là :
citral, géranial, néral , nérol, limonène, linalol, ß-caryphylléne, myrcène) có những đặc tính như :
- chống kích ứng,
- Làm nổi mận ở da,
- Chất diệt côn trùng,
- Chống nấm mốc,
- và chống nhiễm.
- Thuốc giảm đau analgésique,
- Chống viêm sưng anti-inflammatoire,
- Chống sự co thắc antispasmodique nhất là ở hệ tiêu hóa,
- Long đờm expectorante
- và huyết áp cao ( giảm huyết áp động mạch ),
Cẩn thận không được để tiếp xúc với mắt.
Những đặc tính xếp vào danh sách hương liệu tinh dầu thiết yếu Sả Cymbopogon citratus là :
- Giản mạch ( làm tăng tầm cở các mạch máu ) cải thiện tuần hoàn,
- Chống viêm sưng và
- Thuốc an thần sédative.
Đối với tinh dầu loài sả Cymbopogon nardus, phân loại loài này đồng nghĩa với cymbopogon citratus giống nhau ở tinh dầu sả nhưng người ta ít ăn vì hương vị không thoải mái lắm. Cũng có đặc tính :
- Chống truyển nhiễm  Anti-infectieuse,
- Kháng vi trùng antibactérienne,
- Kháng khuẩn antifongique,
- Sát trùng không khí antiseptique aérienne,
- Diệt côn trùng insectifuge (diệt muổi),
- Chống co thắt antispasmodique (hệ tiêu hóa),
- Chống viêm sưng anti-inflammatoire.
- Co cứng viêm đại tràng colite spasmodique
- Nhìễm trùng đường ruột entérocolite infectieuse (đau đường ruột),
-  Đau xương chậu douleurs pelviennes,
-  Bệnh phong thấp rhumatismes,
-  Viêm khớp arthrite.
Cây cỏ sả, dù tươi hay khô, giàu nguồn khoáng chất như potassium, kẽm Zn, sắt Fe, manganèse Mn, đồng Cu và magnésium Mg.
- Potassium là nguyên tố quan trọng cho tế bào và dịch chất của cơ thể, nó giúp đở kiểm soát nhịp tim và huyết áp động mạch.
- Manganèse được cơ thể sử dụng như một đồng yếu tố của phân hóa tố chống sự oxy hóa « superoxyde dismutase »
Chủ trị :
- Chứng thất điều thần kinh thực vật Dystonie neurovégétative ( tính cứng thiếu linh hoạt bất thường của chức năng tự động cơ quan ),
- Yếu cơ faiblesse musculaire
- Rối loạn tiêu hóa troubles digestifs : đau bụng coliques, đầy hơi flatulences, khó tiêu dyspepsie.
- Bệnh gan Insuffisance hépatique
- Viêm mô dưới da hay mô tổ ong Cellulite
- Viêm động mạch Maladie des artères (artérite)
- Ghẻ gale,
- Bệnh truyền nhiễm  ( tả choléra, bệnh sốt nhiệt đới fièvres tropicales)
- Khử trùng désinfection : chí poux
- Mồ hôi nhiều transpiration excessive,
- Thần kinh căng thẳng tension nerveuse.
Hiệu quả xấu và rủi ro : :
Cây sả không có những hiệu quả xấu, cũng không có những điều ngược lại sự chỉ định ( contre indication ). Lời khuyên cần thiết là lọc trà đúng cách để tránh những thiệt hại cho niêm mạc thực quản do microfilament là những « hay filament actin sợi actin » là những đồng phân của actin hiện diện trong lá sả.
Thân của sả chỉ dùng phần phù ra ở dưới cây sả màu trắng vàng ngà « tép sả », phần lá xanh mảnh ở trên có chứa những lông ngứa đau. 


Nguyễn thanh Vân

vendredi 2 décembre 2011

Rau tần dầy lá -Húng chanh - - Panikoorkka

Panikoorkka
Rau cần(tần) dầy lá – Húng chanh
Coleus aromaticus Benth.
Plectranthus amboinicus (Lour.)
Labiatae

Đại cương :
Nguồn gốc : Plectranthus amboinicus tên gọi của cây thân thảo sống đa niên, có lá dày mập thịt nằm trong họ Lamiaceae với một mùi vị giống như cây origan, nguồn gốc ở Nam Phi và Đông Phi Châu, đã được trồng rộng rãi và nguồn gốc nguyên thủy trong vùng nhiệt đới củ và mới trên địa cầu.
Tên gọi khác nhau như Việt Nam gọi Húng chanh hay rau tần dày lá, Thym ở Tây ban Nha, Origan Brujo ở Porto Rico, như thym mexicaine, la reine des herbes, menthe mexicaine …..ở Trung Quốc gọi Zuo shou xiang….
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Húng chanh thuộc loài thân thảo, đứng, tàng lan rộng, phân nhánh, tinh dầu nặng mùi gắt, màu xanh lá cây nhạt tươi, với những thân mềm dòn .
có vị mùi thơm nhờ có những tuyến tinh dầu trong tế bào lá, và cay, lá rộng hình trứng, dài 4 – 9 cm, thường thì lá có hình trái tim, có lông mịn, bìa lá tròn  có răng .
Hoa nhỏ, phát hoa dài ở ngọn, hoa gắn theo luân sinh nhiều hoa, dài có lông, răng trên to và đứng, vành có lông, màu tím nhạt 5 lần lớn hơn đài với hình ống ngắn, họng ống phồng lên và những môi ngắn. Đài hoa dạng hình chuông, ống mịn bên trong với 2 môi :
- môi trên hẹp, hình bầu dục và mỏng, tai cạnh nhỏ,
- môi dưới to có 4 răng hẹp và dài, tiểu nhụy 4 chỉ dính nhau một phần, thô dài.
Bế quả màu nâu  
Bộ phận sử dụng :
Lá và tinh dầu
Thành phận hóa học và dược chất :
Lá tươi, chứa năng xuất 0,005 tinh dầu bay hơi,
- Chủ yếu là carvacrol,
- Thymol,
- và long nảo camphre và được lấy từ thân cây.
Đặc tính trị liệu :
Lá húng chanh cũng có rất nhiều công dụng về y học truyền thống, đặc biệt chữa trị :
- Hạ sốt
- Đau cổ họng,
- nghẹt mũi,
- Rối loạn sự tiêu hóa dyspepsie,
- Hen suyễn asthme,
- Ho mãn tính toux chronique,
- Viêm phế quản bronchite,
- Đau bụng colique,
- Đầy hơi flatulence,
- Thấp khớp  rhumatisme,
Trong y học truyền thống Ấn Độ Ayurveda, những lá húng chanh dùng để chữa trị :
- viêm phế quản,
- hen suyễn,
- tiêu chảy,
- động kinh,
- sốt,
- khó tiêu,
- kết thạch đường tiểu Néphro-cystolithiases
- rối loạn dạ dày,
- cảm lạnh rhume
- những chứng ho,
- đau đầu thông thường.
- kháng sinh antibiotique,
- thuốc tống hơi, tiêu gaz carminatif,
- dịu đau trấn thống emménagorgue,
- đổ mồ hôi sudorifique,
- thuốc bổ tonique ,
- kích thích stimulante,
- và là chất chống sự oxy hóa, chimiopréventive.
Ở Nam Dương, húng chanh là một thực phẩm truyền thống dân gian sử dụng như thức ăn để kích thích tạo sửa cho con bú trong tháng hoặc sau khi sanh đẻ.
Kinh nghiệm dân gian :
  Ở Phi luật Tân, lá húng chanh tươi, giả nát đắp bên ngoài vết phỏng.
▪ Những lá chết thâm tím dùng trường hợp bò cạp hay rết chích. Ngoài ra còn dùng đắp trên màng tang và trán chữa trị nhức đầu, sử dụng dùng băng lưới ( bandage ) để giử khỏi rơi.
  Lá ngâm trong nước sôi hay dưới dạng nước đường sirop dùng như :
- chất mùi
- và thuốc tống hơi;
- dùng cho chứng khó tiêu
- và cũng là toa thuốc cho bệnh hen suyễn.
Những người Trung hoa sử dụng nước ép lá húng quế với đường, chữa trị :
- ho cho trẻ em,
- suyễn
- và viêm phế quản,
- động kinh,
- các rối loại co giật kinh luyến convulsifs.
Lá được nhai ngậm trong miệng chữa trị :
- vết nứt ở góc của miệng,
- tưa miệng hay đẹn muguet,
- đau đầu,
- chống sốt như xoa bóp.
Dùng để chữa trị đau bàng quangđường tiểutiết dịch âm đạo.
Ứng dụng :
▪ Một muỗng soupe nước ép lá tươi / mỗi giờ cho người lớn và muỗng cà phê cách 2 giờ, 4 lần / ngày cho trẻ em.
Dùng như trà :
▪ 50 – 60 g  cho nữa lít nước sôi, uống như trà 4 – 5 tách / ngày..
Dùng cho trẻ em ½ tách 4 lần / ngày.
▪ Dùng trị đau lổ tai otalgie, dung dịch tươi vào lổ tai trong 10 phút ( theo tài liệu nhưng để biết, những chữa trị liên quan nội cơ quan như lổ tai, mắt  nên cẩn thận ).
- Trị nhọt đầu đinh furoncle,
- bong gân,
- sưng đau.
▪ Đấp lá cây giả nát vào vùng bị ành hưởng đau 4 lần / ngày.
- Đau cổ họng,
▪ Nấu sắc 2 muổng soups lá nghiền khô trong 1 lít nước sôi, dùng trước hay sau bữa ăn 1 giờ.
▪ Nấu sắc lá, dùng sau khi sanh .
 « Phương thuốc đơn giản và hiệu nghiệm để trị sốt »
1- Nước ép lá húng chanh được dùng lượng 1 hay 2 muỗng cà phê dùng cho trẻ em và 1 – 2 muỗng soup cho người lớn để hạ sốt.
2- Dung dịch trích từ lá hay lá được nghiền nát trong nước sôi và dùng để xông hơi trị nghẹt mũi.
3- Trường hợp hen suyễn khí quản và ho. Dùng phương pháp nấu sắc lá với lượng 5 – 10 ml cho trẻ em và 20-30 ml cho người lớn.
4- Nấu sắc lá được đề nghị cho những :
- bệnh viêm khớp
- và rối loạn dạ dày như bụng đầy hơi chẳng hạn.
5- Rau húng chanh là một dược thảo rất hay dùng cho tất cả các căn bệnh của trẻ em.
Thực phẩm và biến chế :
- Gia vị :
Người dân Ấn dùng húng chanh làm gia vị thức ăn,
- Mùi thơm thức ăn aromatique,
Lá húng chanh có hương vị rất mạnh và có tác dụng bổ sung gia vị tuyệt vời cho thịt và gà ….
Lá húng chanh thái nhỏ, có thể sử dụng cho những món ăn đặc biệt thịt nhất là thịt bò, thịt cừu và thịt heo rừng.

Nguyễn thanh Vân

jeudi 1 décembre 2011

Củ dền đỏ - Betterave

Betterave
Củ dền đỏ
Beta vulgaris L. .
Chenopodiaceae
Đại cương :
Củ dền đỏ là một cây trồng đề lấy rể củ cho nhiều nạt mềm sử dụng như rau xanh trong thực phẩm của con người, cũng như thức ăn gia súc hoặc nguyên liệu cho đường.
Có 3 loại củ cải đỏ :
- Củ cải đường , giàu chất đường saccharose,
- Củ cải cho gia súc ăn,
- Củ cải đường vườn, còn gọi là củ cải đỏ, carotte đỏ hay rể đỏ.
Hiện có rất nhiều thứ loại ( variété ), người ta sắp xếp phân biệt tùy theo những loại. Những củ cải đường chứa nhiều chất đường, màu trắng và chôn rất sâu dưới đất. Người ta xếp loại theo trữ lượng đường có trong củ, mức đề kháng đối với những bệnh như là rhizomanierhizoctone brun và mức chịu đựng đối với những loài giun nématodes.
Những dền vườn được phân biệt khác nhau ở màu sắc, khác nhau ở hình dạng và sâu hay cạn ở dưới đất. Người ta xếp loại chủ yếu căn cứ vào trữ lượng khô trong thân củ.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Betterave được biết đến như là rau cải từ thời cổ xưa. Những vết tích được ghi lại đầu tiên từ những người Hy Lạp ở thế kỷ thứ V trước công nguyên. Thứ loại chánh của betterave đã được ghi lại thời Trung cổ. Nguồn gốc dùng làm thực phẩm những rể betterave hình như là trong vùng đồng bằng lớn ở Đức tới Nga.
Có nhiều hình dạng hoang dả của betterave vulgaris dọc theo bờ biển Địa trung hải, mở rộng về phía đông đến Nam Dương và về phía tây dọc theo bờ biển Đại tây dương đến quần đảo Canaries và miền nam Na Uy.
Người ta trồng để lấy lá, Beta vulgaris đã được trồng chung quanh Địa trung hải và Trung Đông và được đề cập đầu tiên trong văn học vùng Lưỡng hà thế kỷ thứ IX trước công nguyên. Những món ăn rể betterave được ghi vào thế kỷ thứ III sau công nguyên, nhưng thật ra củ dền đỏ xuất hiện ở Âu Châu vào thế kỷ thứ XVI .
Mô tả thực vật :
Cỏ trồng hằng niên hay nhị niên, lá láng mịn, hình trứng hay hình trái tim, màu xanh lá cây hay màu nâu đỏ nhạt, thường kết họp dạng bụi hoa hồng ở gốc dưới đất.
Rể : phù to lên ở gốc với thân tạo thành hệ thống rể dày đặc và lan rộng trong vòng 25 cm đường kính. Ở betterave vườn, phần trên ngắn của rể chủ yếu tạo thành một củ phù to đáng kể, hình cầu, phẳng hay hình nón, tế bào có màu đỏ đậm .
có nhiều gân lá dày kết hợp thành dạng hoa hồng, cuống lá dài, hình bầu dục 20-40 cm dài, bìa lá gợn sóng ngoại trừ betterave épinard, tế bào những lá nhô lên giữa những gân lá, hơi láng, màu xanh lá cây đậm hay đỏ, thường bóng láng, không lông, ở những betterave à carde cuống lá và gân lá nhô phòng lên.
Phát hoa : Chùm tụ tán mang gié dài 10-15 cm, dài chùm hoa hình chùy khoảng 150 cm. Hoa không cuống, lưỡng phái thường chung nhóm 2-3 hay 5 màu xanh lục. Vành hoa 5 phần, màu xanh lục dày quay về phía dưới khi trái chín ; 5 nhụy đực, bầu noản 1 buồng, bao chung quanh một đĩa, với 2-3  nuốm.
Trái : Hột nhỏ, dạng như bế quả nhưng phần vỏ rất cứng dày 3-7 mm đường kính, cho ra quả 1-6 quả tự khai hình cầu nhỏ.
Hạt : hình quả thận 1,5-3 mm đường kính.
Betterave là một cây tăng trưởng 2 năm :
Năm thứ nhất : cho ra co quan dinh dưởng phát triển cho ra lá và thành lập rể mập, dự trữ tích tụ đường đây là giai đoạn cây trồng.
Năm thứ hai : cho ra hoa và sản xuất hạt.
Bộ phận sử dụng :
Lá, củ
Thành phận hóa học và dược chất :
Những rể của Beta vulgaris chứa một lượng đáng kể :
- vitamine C
và những lá là nguồn cung cấp :
-  vitamine A.
Cũng là nguồn của :
- Chất xơ fibres,
- Acide folique
- và là chất chống oxy hóa antioxydants.
Rể rất giàu :
-  bétaïne (N,N,N-trimethylglycine).
La betterave est riche en
Betterave giàu chất đạm  nitrates  được chuyển đổi thành nitrites nhờ vi khuẩn có trong miệng.
Một chén ( 225,8 g ) betterave cắt lát mỏng chứa :
- 31 kcal (130 kJ)
- 1.5 g chát xơ thực phẩm,
- 53.2 µg  vitamine B9
- 32 mg  phosphore
- 259 mg  potassium
- 1.5 g  protéines.
Betterave vườn sống ( củ cải đường vườn ) chứa bởi 100 g phần ăn được :
-  nước 87,6 g,
-  Năng lượng 180 kJ (43 kcal),
-  Thành phần đạm protéines 1,6 g,
-  Chất béo lipides 0,2 g,
-  Đường glucides 9,6 g,
-  Chất xơ fibres 2,8 g,
-  Ca 16 mg,
-  P 40 mg,
-  Fe 0,8 mg,
-  Thiamine 0,03 mg,
-  Riboflavine 0,04 mg,
-  Niacine 0,33 mg,
-  Folate 109 μg,
-  Acide ascorbique 5 mg.
Những đường glucides được thành lập hầu như duy nhất bởi đường saccharose.
Thành phần củ cài đường épinard thô bởi 100 g ( củ cải đường épinard ) par 100 g của bộ phận ăn được  như sau :
- Nước 92,0 g,
- Năng lượng 79 kJ (19 kcal),
- Thành phần đạm protéines 1,8 g,
- Chất béo lipides 0,1 g,
- Đường glucides 4,0 g,
- Chất xơ fibres 3,7 g,
- Ca 119 mg,
- P 40 mg,
- Fe 3,3 mg,
- Thiamine 0,10 mg,
- Riboflavine 0,22 mg,
- Niacine 0,40 mg,
- Folate 15 μg,
- Acide ascorbique 30 mg.
Thành phần  betterave Thụy sỉ ( bette à carde ) sống cho 100 g của bộ phận ăn được như sau :
- Nước  92,7 g,
-  Năng lượng 79 kJ (19 kcal),
-  Thành phần đạm protéines 1,8 g,
-  Chất béo lipides 0,2 g,
-  Đường glucides 3,7 g,
-  Chất xơ fibres 1,6 g,
-  Ca 51 mg,
-  P 46 mg,
-  Fe 1,8 mg,
-  Thiamine 0,04 mg,
-  Riboflavine 0,09 mg,
-  Niacine 0,40 mg,
- Folate 14 μg,
- Acide ascorbique 30 mg (USDA, 2002).
Những tác nhân tạo màu của của cải đỏ không phải là anthocyanes, mà là những glucopyranoïdes, thông thưòng chủ yếu màu đỏ betterave hay bétanine ( C24H27N2O13-E162 ), tan trong nước và nhạy cảm với nhiệt độ cao, với dưởng khí oxygène và ánh sáng. Những betterave còn chứa géosmine, cho ra mùi đặc trưng của đất.
Lá, được biết 100 g lá chứa :
- Năng lượng 45 calories,
- Nước H 2 O 86,4 g,
- Thành phần đạm protéines 3,2 g,
- Chất béo lipides 0,4 g,
- Đường glucides toàn phần 8,1 g,
- Chất xơ fibres 3,8 g,
- tro 1,9 g,
- Ca 114 mg,
- P 34 mg
- Fe 3,1 mg,
- b -carotène quivalent 3152 m g,
- Thiamine  0,07 mg,
- Riboflavine  0,22 mg,
- Niacine  0,6 mg
- Acide ascorbique 50 mg.
Phân tích sâu rộng cho ta thấy :
- Nưóc 76,6%,
- Thành phần đạm protéines 1,1%,
- Tinh dầu 0,1%,
-  Đường glucides tan trong nước 20,4,
- Chất xơ 1,1%,
- Tro 0,7%.
Trên căn bản 0% tính độ ẩm, rể chứa :
- Năng lượng 339 - 336 calories,
- Thành phần đạm protides 12,6 à 14,3%,
- Chất béo 0.8 à 1.6%,
- Đường glucides toàn phần 77,9 - 79,4%,
- Chất xơ 6,3 à 9,0%,
- Tro 6,0 - 8,7%,
- Ca 115 - 182 mg  ,
- P 259 - 323 mg  ,
- Fe 5.5 - 8.7 mg,
- Na 286 - 472 mg  ,
- 2619 - 2638 mg  K,
- b -carotène tương đương 0,0 - 94,5 m g,
- Thiamine 0,08 - 0,24 mg  ,
- Riboflavine 0,32 - 0,39 mg,
- Niacine 1,64 - 3,15 mg  
- Ascorbique 23 - 79 mg (Duke et Atchley, 1984).
Nạt củ dền đò, sau khi ly trích đường, chứa :
- Acide galacturonique 30% dưới dạng chất pectiques. Acide này căn bản là chất vitamine C tổng hợp.
- Allantoïne,
- Saponines,
- Đồng Cu ,
- và chất bétaïne cũng được nói đến.
Manuel Hager đã tìm được :
- Betaxanthines,
- Vulgaxanthine I và II vulgaxanthine,
-  Glycoside kaempférol,
-  Acide chlorogénique
- và caféique.
Rể củ dền đỏ chứa :
-  Leucine,
-  Tryptophane,
-  Valine,
-  Alanine,
-  Phénylalanine,
-  Tyrosine,
-  Glutamine,
-  Acide glutamique,
-  Ornithine,
-  5 acides amine khác,
-  0,01% tinh dầu với farnesol.
Lá chứa :
-  Glucoside quercitine,
-  Một sự hóa hợp vitexine với đường glucose,
-  Xylose,
-  3-hydroxytyramine,
-  b -sitostérol,
-  và một chuổi  acides hữu cơ ,
- Oxalique-,
- Tricarballyl,
- Aconitique-,
-  Férulique-.
Những rể, thân, hạt đều chứa :
- raphanol,
- và coniférine (C 16 H 22 O 8 ),
- Vitamine. A, B và C, và bétaïne.
Rể còn chứa một dầu thô với :
- Palmitique,
- Oléique,
- Érucique,
- và acides gamma-aminobutyrique,
- Invertase tự do và dính kết nối,
- Phân hóa tố pectolytiques.
Đặc tính trị liệu :
Phương pháp nấu sắc, được điều chế dung dịch từ hạt là một đơn thuốc dân gian để điều trỉ ung bướu ( tumeur ) đường ruột.
Hạt, đun trong nước, để chữa trị khối u ( tumeur ) cơ quan sinh dục.
Dung dịch nước ép hay những bộ phận khác của cây cũng chữa trị :
- Ung bướu,
- Bệnh bạch cầu,
- và những  hỉnh thức của ung thư, thí dụ như ung thu vú, ung thư thực quản, tuyến giáp trạng, đầu, đường ruột, chân, môi, phổi, tuyến tiền liệt, trực tràng, tỳ tạng, dạ dày, và tử cung .
Trong những chất, chất bétacyanineanthocyanine là quan trọng trong sự trao đổi chất của tế bào ung thư.
Một ghi chú quan trọng khác là 2 trong số acides amines :
- cholinebétaïne là một chất chống oxy hóa, sự vắng mặt, nguyên nhân gây khối u ở chuột ( Liste et Horhammer, 1969-1979 )
Nước ép đã được dùng trị loét.
Lá và rể dùng như thuốc dịu đau trấn thống.
Trong thời gian xưa, nước ép củ dền đỏ đã được khuyến cáo dùng cho :
- chứng thiếu máu,
- vàng da,
- tai ù bourdonnantes,
- và giảm đau răng.
Chuyển hóa chất đạm nitrate thành nitrite có liên quan đến sự giản mạch vasodilatation và loãng máu fluidification, giúp cải thiện lưu lượng máu trong một vài vùng nhất định của nảo, theo thời gian ít lưu chuyễn.
Một liều mỗi ngày có thể giãm chứng mất trísuy giảm nhận thức nhờ sự luân lưu máu nuôi não bộ.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Nuôi bầy cừu bằng củ cải đường để gây ra chứng sạn thận gồm acide urique và acide phosphorique với vôi.
Lá betterave tươi cũng có thể là nguyên nhân nhiễm độc do acide oxalique trong 1% ở người.
Lá cũng có thể chứa một mức độ nguy hiểm của acide HCN và hay hoặc những nitrate hay nitrites.
Chất bétaïne hoạt động như một diurétique nhẹ.
Phấn hoa betterave có thể là nguyên nhân của sốt rơm = bệnh nhảy mũi kinh luyến ( coryza spasmodique périodique ).
Đường hình như có gây ra chứng lỡ chóc trong 2/3 số công nhân làm việc trong bộ phận kết tinh thành tinh thể đường.
Ứng dụng :
- Củ cải đường Betterave sucrière : là một sản phẩm cho đường.
Sau khi cắt nhỏ rể, trước hết người ta ly trích chất đường bằng nước nóng ; những củ cải betterave được cắt nhuyễn người ta lấy tinh chất đường dưới dạng sản phẩm « nạt betterave » và dùng phương pháp thu lấy nước bằng máy ép.
Kế tiếp xác bã còn lại được xấy và làm thức ăn cho gia súc.
Nước ép được làm tinh khiết, cô đọng.
Giai đoạn kế tiếp cho lên men, dùng phương pháp chưng cất cho ra alcool hoặc đun kết tinh thu hồi tinh thể đường. Tạp chất được hình thành một chất gọi là mật đường vẫn còn chứa khoảng 50% chất đường ;
Tạp chất được dùng phương pháp chưng cất rượu cho ra alcool, phần hèm còn lại trộn lẫn với sản phẩm khác tạo ra thức ăn gia súc. 


Nguyễn thanh Vân