Tâm sự

Tâm sự

mardi 12 juillet 2011

Cây tai thỏ - Aconit napel

ACONIT NAPEL
Cây tai thỏ
Aconitum napellus L.
Ranunculaceae
Đại cương :
Aconit napel, là một cây mọc nhiều ở vùng núi trong dãy Pyrénées. Cây cho hoa màu xanh tím, với hình dáng chiếc mũ an toàn, thành chùm.
Toàn cây được thu hoặch sau thời trổ hoa và được điều chế thành dung dịch hòa alcool ( teinture mère ).
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Âu Châu, Miền Bắc châu á, thường trong rừng trong đồng cỏ ẩm ướt, nhất là ở vùng núi độ cao trên 1800 m.
Mô tả Thực vật :
- Thân thảo lớn cao 1 – 2 m
- Lá xẻ sâu
- Hoa hình tròn úp giống như nón bảo hiểm, màu xanh đậm, hợp lại thành chùm rậm ở ngọn thân.
- Tăng trưởng bởi củ (tubercules) giống như củ cải trắng.
Nơi và trồng trọt : : Cây đa niên, lá xẻ thành thùy, xanh lá cây đậm và thân dài mang những chùm hoa màu tím violettes hay xanh dương ( 1,5 m chiều cao ).
Trồng làm cây cảnh. Đào lấy củ vào mùa thu.
Phần sử dụng : 
- Rể, ít khi dùng lá   
Thành phần được chất : 
● Alcaloïdes diterpéniques :
- Aconitine
- Ipaconitine
- Mésaconitine
- Néoline
- Néopalline 
-  0,3 à 2% esters d’alcaloïdes terpéniques, thành phần chánh là aconitine.
Đặc tính trị liệu :
- Aconitine : Chất độc cực mạnh (Hypertoxique) nhưng tác dụng chống viêm với liều cực nhỏ
Dung dịch pha loảng :
- Tê không cảm giác (Analgésiques)
- Chống chứng đau dây thần kinh (Antinévralgiques)
- Dịu đau trấn thống (Sédatives)
- Kích thích hệ hô hấp .
Úng dụng :
( Trên lý thuyết ứng dụng trên phải cẩn và những thuốc phải được bào chế tinh luyện với thành phần vi lượng thích hợp tránh tai nạn có thể xảy ra )
Cây độc (toxique), trừ trường hợp dùng với lượng ít,
Cây aconit ít khi có quy định trường hợp dùng trong nội tạng. Thông thuờng người ta xữ dụng trên da để giảm vết bầm.
Ở y học cổ truyền Ấn Độ, người dự trù trường hợp viêm thần kinh mặt, suyển và suy tim ( tim hoạt động yếu, cảm cúm, khàn giọng khan tiếng, viêm khí quản và dịu đau trấn thống .
vi lượng đồng căn liệu pháp : Người ta dùng để an thần, dịu đau.
- Trị đau dây thần kinh mặt ( trijumeau)
- Hạ sốt trường hợp cảm cúm. Khan cổ, khan tiếng, viêm cổ,
- Viêm thanh quản,
- Ho khó thở ( toux spastique  trẻ em dưới 2 năm ).
Hiệu quả xấu và rủi ro :
Toxique người ta biết từ thời cổ
* Rất độc, chỉ dùng với sự kiểm tra y học
Chất độc chánh : alcaloïdes terpenoïdes, napeline, napelonine, aconine, aconitine. (1 miligramme d’aconitine đủ để chết một người ).
Rể cây aconit chứa nhiều những chất toxine, nhất là thời kỳ phát hoa .
Theo phương pháp « vi lượng đồng căn liệu pháp » cây aconitum napellus là nguồn gốc của triệu chứng :
- Trong trường hợp sốt đột ngột kèm với : nhịp tim tăng, cơn khát với lượng nước nhỏ, lo lắng và bồn chồn.
- Trường hợp say nắng hay bị đột quị bởi nhiệt độ, kèm da nổi đỏ và khô.
- Trường hợp đau một dây thần kinh, trầm trọng thêm bởi nhiệt độ lạnh kèm theo tê cóng và ngứa ngái.
- trường hợp chảy máu cam.
- Trường hợp rối loạn hệ tim mạch : huyết áp cao, tăng nhịp đập tim, mặt đỏ. Cá nhân lo lắng, kích động và lo sợ chết.
- Trường hợp mất ngủ với thức giấc nửa đêm và khoảng 1 giờ sáng. Cá nhân thức với sự lo lắng  và một cảm giác nóng trong cơ thể ( không mồ hôi ).
- Trường hợp ngừng đột ngột kinh nguyệt tiếp theo sợ sệt và cảm lạnh.   
Hiện tượng nhiễm độc : Với những nguồn gốc sự chỉ định trên nên :
Aconit napel là một cây thuộc họ Renonculaceae, có chứa một alcaloïde độc : aconitine.
Sự ngộ độc aconitine xảy ra rất nhanh, cấp tính và ác tính. Những triệu chứng như :
- Huyết áp cao
- Những đóm đỏ ở mặt.
- Xuất huyết có thể với máu đỏ tươi và nóng.
- Sốt.
- Lo lắng, bất an bồn chồn và sợ sệt.
- Đau dây thần kinh.
Đây là vấn đề nhạy cãm, là một đề tài nóng bỏng và mạnh mẽ. Người mới bịnh, đột nhiên bệnh tiếp theo, nhất là sự thay đổi trạng thái đột ngột và mạnh mẽ.
- hoặc lạnh buốt và đột ngột như là một cơn gió lạnh khô ( Mistral, gió Bắc ) hay tắm lạnh đột ngột.
- hoặc tiếp xúc với sức nóng thật nóng : như cảm nhiệt, say nắng trong mùa hè nóng bỏng.
Những triệu chứng như :
- Thân nhiệt tăng cao bất thường thường bắt đầu bởi sự ớn lạnh rét.
- Da đỏ khô, không đổ mồ hôi.
- Rất khát nước, uống nhiều với số lượng lớn.
- Tinh thần căng thẳng, bồn chồn sợ chết.
Thu hoạch :
Tất cả các phần của cây đều chứa những alcaloïdes, đặc biệt độc. Aconit nằm trong nhóm cây độc hiếm. Như vậy, nếu tháng 6 đến tháng 7 chúng ta gặp hoa đẹp Aconit, chúng ta nên để chúng làm kiểng cảnh quan thì tốt hơn.

Nguyễn thanh Vân

dimanche 10 juillet 2011

Cây Tầm xuân - Églantier


Eglantier commun-Cynorhodon
Cây tầm xuân
Rosa canina L.
Rosaceae
Đại cương :
Tên khác : Hồng rừng, hồng hoang., tên Á Rập Bédégar
Hoa : Hoa Tầm xuân
Chồi nụ : Nụ Tầm xuân
Trái : Quả Tầm xuân .
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : : Âu Châu  
Mô tả thực vật :
Bụi thường mọc ven, bờ đường, hàng rào, cao 1 đến 4 m, nhánh trường, có gai, người ta sử dụng lá, chồi và trái.
- Lá kép, mọc xen, lá chét có căng cưa bìa,
- Hoa màu hồng nhạt, đơn độc hay họp thành tản phòng.
- Tâm biều nhiều rời, chèn trên một màng phía trong bầu đựng, sẽ trở thành quả thịt khi chín và cấu tạo « quả tầm xuân » gọi « gỉả quả ».
Quả Eglantier hay trái tầm xuân, chứa lượng rất cao vitamine và tác dụng lợi tiểu nhẹ.
Dùng tươi, trái sẽ cung cấp cho cơ thể một lượng dinh dưỡng quan trọng dưới dạng hấp thu nhanh. Cũng như sirop eglantier, cần cho trẻ em.
Thu hoặch : mùa xuăn
Bộ phận sử dụng :
Lá, trái và chồi hoa.
- Quả thịt mềm của trái ( hay Quả tầm xuân ).
- Dạng quả giả, cứng, màu đỏ nâu nhạt, ít hay nhiều nếp nhăn.
- Mẫu cắt dọc xuất hiện nhiều bế quả bên trong có lông cứng có đặc tính làm đau rát khó chịu.
Thành phần hóa học và dược chất :
- Vitamine C (1 - 2 % trọng lượng khô )
- Sắc tố caroténoides, flavonoides
- Acides hữu cơ : procyanidols, catéchols
- tanins catéchiques
- Pectine (20 - 25 % )
- « Trái » hay « quả tầm xuân » (cynorhodon) là một phần thuốc và tương đối ít nốt ghẻ bédégar
- Những hạt và những cánh hoa.
Trong trái người ta thấy :
- Chất pectine (dùng làm mứt confiture)
- Chất đường (chất sorbitol)
- Những polyphénols (tanins) : proanthocyanidols cũng như những flavonoïdes
- Vitamines : vitamine C (acide ascorbique) 0,5 - 1,7 % (số lượng cao),
- Những vitamines nhóm B
- Những acides hữu cơ khác : citrique, malique.
- Bệnh ghẻ của cây ( bédégar ) chứa nhiều tanin.
Những hạt ( ít nghiên cứu ) chứa một tinh dầu thực phẫm có thành phần được lưu ý :
- acide palmitique (1,7 - 3,1 %),
- acide stéarique (1,7 - 2,4 %),
- acide oléique (14,7 - 18,4 %),
- acide linoleique (48,6 - 54,4 %),
- acide linolénique (16,4 - 18,4 %),
- acide arachidique (1,8 - 2,6 %).
Đặc tính trị liệu :
Đặc tính phối hợp sinh tố C ;
▪ Được xem như một thuốc bổ, và được phối hợp với cây khác như Karbadé ( Hibiscus sabdariffa L ; thuộc họ Malvaceae )
▪ Chống lại bệnh tiêu chảy ( nhờ sự hiện diện tanins )
▪ Cây tầm xuân là đơn thuốc để chống lại những ký sinh trùng đường ruột và xem như là một thuốc bổ thông thường.
▪ Đồng thời chữa trị :
- những kết thạch thận hay sạnthận,
- phù thũng,
- xuất huyết.
Dùng ngoài da : Trị những vết thương phỏng .
▪ Đối với những thuốc được bào chế từ cây tầm xuân được xem như là :
- thuốc bổ,
- chống sự bạc nhược ( asthénique )
- và chống sự viêm nhiễm :
▪  Trong trạng thái mệt mõi thông thường, hồi sức sau cơn bệnh truyền nhiễm.
▪ Chữa trị bằng liều thuốc quá mạnh tác dụng cho trường hợp :
- cảm cúm
- và những sự nhiễm siêu vi trùng theo mùa.
Do có chứa nhiều chất tanin và những chất flavonoïde nên Rosa canina coi như thuốc chữa :
- Bệnh tiêu chảy nhẹ.
- Xem như chất « bảo vệ mạch máu » ( mao mạch dể tổn thương, suy tĩnh mạch ( insuffisance veineuse ), mặc dù đây không phải là một chủ định của y học truyền thống.
▪ Chất trích hay toàn thể những hoạt chất và trị liệu của cynorhodon cho ta sự trị liệu tốt cho :
- Cải thiện trạng thái triệu chứng chứng thấp khớp, chữa trị thời gian lâu dài.
▪ Phương thức để chữa trị arthrose :
Ít nhất 5 gr / ngày dung dịch trích nguyên chất trong thời gian nhiều tháng.
Ứng dụng :
Theo kinh nghiệm daền gian cho biết :
- Chất làm se thắt astringent ,
- chống tiêu chảy  antidiarhéiques,
- thuốc bổ tonique,
- lợi tiểu diurétique (dùng uống)
* Nấu sắc : 30 gr / lít, nấu sắc trong 10 phút, lọc bằng vải mỏng để loại trừ mông bên trong có thể làm đau ngứa ), dùng 1 lít / ngày.
Nấu sắc : đun 5 đến 10 trái trong một tách nước sôi ; uống 4 tách / ngày.
* Sirop quả tấm xuân : Cắt dọc mở trái ra lấy tất cả hạt ra, với mũi dao nhọn, rửa sạch.
- 500 gr trái trong 1 lí nước, đun sôi trong 5 phút, lọc qua vải the loại bỏ tạp chất và lông cứng.
- Thêm 300 gr đường và đun sôi tiếp cho đến khi đặc lại dung dịch. Người ta có thể biến chế thành mứt confiture. Bảo quản kỹ giữ rất lâu .
Kiểm chứng bởi dược lý học :
- Nguồn vitamine C
Biến chế và công dụng :
Những sử dụng khác :
● Sửa soạn những khẩu phần về chế độ ăn uống khác ( có Vitamine C ).
● Trong thẫm mỹ học : nổi tiếng nhưng chưa chứng minh được hiệu quả chống nếp nhăn.
Trong vài phương pháp dược thảo trị liệu đề nghị chồi hay nhánh non củ Rosa canina ngâm trong glycérin 1 D :
● Trong những tác động dị ứng về đường hô hấp có hay không có nhiễm ( như viêm soang mũi suyễn mãn tính ).
▪ Dùng 50 đến 100 giọt trong nhiều tuần .
● Trong chứng đau nửa đầu migran, để hổ trợ bắt đầu cho một bữa ăn :
Dùng 50 đến 100 giọt / ngày trong nhiều tuần.
Bédégar ( tên gọi Á Rập ) người ta dùng để bào chế cho một dung dịch giảm co thắc :
▪ 50 gr bédégar trong 1 lìt nước sôi, đun khoảng 10 phút, dung dịch có màu đậm rất có lợi trong trường hợp bị tiêu chảy không bị sốt ( ½ ly, 2 đến 3 lần / ngày ).
● Để giúp :
- cho lành sẹo vết thương
- và loét mãn tính,
-  chống lại sự xuất huyết
- và giúp làm sạch miệng ( hygène ), như dùng trong trường hợp loét miệng ( aphtes ) .
▪ Người ta chế tạo dung dịch với alcool 1/5 dùng được như thuốc sát trùng .( dùng nguyên chất hay pha loãng ) .
► Cánh hoa dùng :
- giảm co thắc nhẹ,
- dùng rữa da,
- rữa mặt,
- trị mụn trứng cá,
- hay trong trường hợp viêm sưng.
▪  Dùng 5 đến 10 gr cánh hoa ngâm trong ¼ lít nước sôi ( khoảng 10 phút )
► Cánh hoa đang thời gian nụ, nghiền nát thêm đường số lượng 3 lần trọng lượng hoa và một ít sirop thường, cho đến khi thấy sệt ….tác dụng nhuận trường nhẹ.
▪ Dùng 50 – 60 gr / ngày cách xa bữa ăn .
* Nhiệt độ sẽ hũy mất vitamine C, hay ít nhất một phần, những dung dịch điều chế để chống bệnh hoại huyết ( anti scorbutique ) cần phải thực hiện trong điều kiện lạnh.
▪ Đun ngâm như trên người ta thích nếu có thể giữ trái cây tươi, nghiền nát cẩn thận với lượng đường những trái cắt đôi và loại bỏ hạt với lông, dung dịch sửa soạn này có thể dùng để tăng sức đề kháng của cơ thể , dùng 100 đến 200 gr / ngày )
► Cây tầm xuân cynorhodons, căn bản của trà églantier rất bình dân trong tất cả Trung Âu, chữa trị :
- Giảm co thắc,
- lợi tiểu,
► Tầm xuân, giàu :
- vitamines A,
- vita B1, B2
- và nhất là vitamine C có khoảng 0,5 đến 1,7 gr cho 100 gr trọng lượng khô.
● Với lượng vitamine C này cho ta đặc tính chữa trị :
- chống sự hoại huyết,
- kháng sinh
- và chống trị cảm cúm.
● Giảm co thắc và thuốc bổ, trái cynorhodon đã dùng thành công chống lại chứng tiêu chảy và chứng suy nhược hệ tiêu hóa.
▪ Người ta ngâm trái khô, sắp xếp, lượng 30 – 60 gr / lít nước sôi khoảng ½ giớ, lọc qua vải the loại bỏ lông và tạp chất.
► Trái khô ( xếp thành lớp mỏng để gấn nơi nhiệt độ, trong lò xấy ) .
Nấu sắc cho ta công dụng :
- lợi tiểu
- và mát.
- Đây còn là nước uống tuyệt dịu cho bệnh sốt, cũng như cho những người già để tác dụng giảm hay tăng cường sức đề kháng tự nhiên trong cơ thể.
▪ Đun 30 – 50 gr trái églantier trong 1 lít nước, đun sôi trong 5 phút với lữa nhỏ, sau đó ngâm thêm 15 phút, lọc, và uống tùy thích.
► Hạt, người ta thu hoặch bảo quản, tác dụng dịu đau trấn thống ( sédative ) .
▪ Đun ngâm 1 – 3 % , chống lại chứng mất ngủ và căn thẳng tinh thần ( stress ), dịu đau, hồi hộp tim đập mạnh.( thêm vào một ít nụ để có một thức uống chua chua )


Nguyễn thanh Vân



jeudi 7 juillet 2011

Dâu tằm - Mûrier

Mûrier blanc
Dâu tằm
Morus alba L.
Moraceae
Đại cương :
Cây dâu trắng ( Morus alba L.), Việt Nam gọi là « dâu tằm » là một loài cây ăn trái, thuộc họ Moraceae, có nguồn gốc ở Trung Quốc. Cây dâu trắng được trồng rất rộng rãi ở Trung Quốc, Việt Nam người ta dùng lá để nuôi tằm, nguyên liệu để sản xuất tơ lụa. Lá là thức ăn cần thiết cho « Tằm, ver à soie »
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Cây mûrier blanc ( dâu tằm ) được trồng từ cổ xưa ở Trung Hoa đến Trung Đông, được lan rộng trong vùng vịnh Địa trung Hải vào thế kỹ thứ VIII ème liên quan đến việc « nuôi tằm ». Olivier de Serres, đem trồng đầu tiên trong vườn Tuileries năm 1600.
Tiếp tục phát triển lan rộng tất cả vùng nhiệt đới và ôn đới trên thế giới .
Mô tả thực vật :
Chồi non dâu phát triển rất mạnh.
Mûrier blanc, cây đồng chu có thể đạt 30 m chiều cao. Tên gọi không phải tên gọi màu chồi non mà là tên gọi màu của trái.
Cũng như những cây của họ moraceae cây cho chất mủ trắng.
Lá : Lá dâu có thể đạt đến 30 cm dài, thường 5 – 12 cm và thùy sâu và phức tạp, với những thùy tròn, mọc xen, thường thường hình soan bầu dục nhọn và có thể có những dạng khác trong cùng môt cây. Cuống lá có khía rảnh và cho lá bẹ. 2 mặt lá không lông, xanh lá cây sáng và răng cưa không đều ở mép lá.
Trên những cây già, những lá thường từ 5 đến 15 cm dài, tất cả thùy có dạng trái tim phần dưới lá và tròn nhọn trên chót lá, và răng cưa bìa lá.
Lá rụng mùa đông, nhưng những cây trồng ở vùng nhiệt đới có thể kéo dài .
Phát hoa :
Hoa đơn phái, phát hoa đuôi mèo, những gié đuôi mèo đực và cái đều hiện diện ở mỗi cây.
Phát hoa đuôi mèo đực từ 2 đến 3,5 cm dài, và phát hoa cái từ 1 đến 2 cm dài.
Vào mùa xuân ( tháng tư tháng năm tùy theo khí hậu ). Phát hoa đưôi chồn nở ở nách lá gồm những hoa nhỏ, những phát hoa cái sẽ biến thành trái mûres, xanh lá cây vàng.
Những hoa đực tập họp thành phát hoa đuôi mèo chaton hình chùy, những hoa cái đuôi mèo dàng gần giống hình cầu, sau lần thụ tinh, phần phía dưới biến thành nhóm trái trắng, hồng hay tím gọi là mûres.
Những hoa nhỏ tập họp lại thành nhóm hình chùy giống đuôi mèo nên gọi la chaton 2 cm dài 4 đài hoa4 tiểu nhụy. Hoa đực dạng chùy nhiều hơn hoa cái.
Trái : dài 1 – 2,5 cm, ở những loài trạng thái hoang dại, màu tím đậm, nhưng phần lớn cây trồng, trái biến đổi từ trắng sang hồng nhạt có vị chua, khi biến sang đỏ tím có vị ngọt dịu, nhạt, trái với hương vị đậm đà của dâu, đỏ và đen ở dâu tằm.
Hạt dâu được phát tán bởi những loài chim khi chúng ăn trái và thải ra hạt.
Tháng 6 và tháng 8 thành mûres, hình chùy hồng đến đỏ đậm.
Những trái gồm nhiều tâm bì họp lại, ngọt, ăn được, có thể có nhiều màu sắc khác nhau. Cuống dài, trái chín đến cuối thu bước qua hè, thích hợp cho những loài chim.
Bộ phận sử dụng :
Lá, vỏ, vỏ rể, trái.
Thành phận hóa học và dược chất :
Lá : chứa các thành phần bay hơi như tinh dầu (0,0035%),
● Thành phần không bay hơi gồm :  protein, carbohydrat, flavonoid, coumarin, vitamin…
Flavonoid :
- rutin,
- quercetin,
- moracetin (quercetin-3-triglucosid),
- quercitrin (quercetin 3- rhamnosid),
- isoquercitrin (quercetin-3- glucosid).
Dẫn chất coumarin :
- umbeliferon,
- scopoletin,
- scopolin.
-  Rutoside và DNJ (1-Deoxynojimycin),
- Moracin M,
- Steppogenin-4'-O-β-D-glucosiade,
- Mullberroside A cô lập từ vỏ rể cây dâu morus alba
- Vitamin B, C, D, caroten.
Sterol :
- β-sitosterol,
- campesterol,
- β-sitosterol glycosid,
- β- ecdyson
- và inokosterol.
▪  Acid hữu cơ :
- oxalic,
- malic,
- tartric,
- citric,
- fumaric,
- palmitic
- và ester ethyl palmitat.
Vỏ rễ :
- chứa mulberin,
- cyclomulberin,
- mulberochomen,
- cyclomulberochromen,
- mulberanol,
- oxydihydromorusin(morusinol),
- kuwanon,
- mulberofuran,
- albanol,
- albafuran,
- albafuran B, C.
► Ngoài ra, vỏ rễ còn chứa :
-  p-tocopherol,
- umberiferon,
- socopoletin,
- ethyl 2,4 - dihydrobenzoat,
- 5,7-dihydroxychoromon,
- morin (3,5,7,2’,4’- pentahydroxyfalavon) dihydromorin,
- dihydrokaemferol,
- acid betulenic,
- 2,4,4’,6-tetrahydroxybenzophenol (R=H),
- macrulin (2,3’,4,4’,6-pentahydroxybenzophenol (R=OH),
- sitosterol,
- resinotanol,
- moran A (glucoprotein).
Đặc tính trị liệu :
Lá : Còn gọi là tang diệp ( tang = dâu, diệp = lá )
- Giàu acides amines, giàu vitamine C và chống lại sự oxy hóa.
- Chống viêm sưng.
- Chống lão hóa và duy trì sức khỏe.
- Cân bằng huyết áp động mạch điều chỉnh máu,
- giảm lượng glucose trong máu,
- gia tăng biến dưỡng .
- chống bệnh tiểu đường.
- ức chế chống lại chất phân hóa tố a-glucosidase.
Rể :
 - Chứng thở khò khè.
- Phù thũng
- thông đường tiểu.
Đồng thời cũng được dùng để chữa trị :
- sốt
- đau đầu.
- mắt đỏ, khô và đau.
- ho
- hiệu quả chữa bệnh bạch cầu ( leucémie ) .
Vỏ rể : ( Cortex Mori albae radici )  gọi là Tang bạch bì
- Tác dụng kháng vi trùng chống lại những sự nhiễm độc thực phẫm vi sinh vật.
- Chứng tăng cao acid uric trong máu ( hyperuricémie ) và bệnh goutte.
- Tác nhân chống lại sự căng thẳng (tress).
- Hiệu quả giảm đường máu .
- Hiệu quả giảm lượng chất béo lipide
Trái dâu
- Bổ máu 
- Chữa trị bón và tiểu đường .
- Hiệu quả bảo vệ hệ thần kinh ( trái dâu )
- Chống sự oxy hóa bởi bột tinh chất ( lyophilisé ) Morus alba L. của trái dâu.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không thấy trường hợp nào xảy ra
Ứng dụng :
 Lá (Folium Mori albae) Tang diệp :
Lá dâu được xem như một loại cỏ rất tốt ở Trung Hoa, trong chức năng :
- chống lại sự viêm sưng
- chống lại sự lão hoá
- và duy trì sức khoẻ.
Lá dâu chứa rất nhiều acides aminés, vitamine C và chống lại sự oxy hóa.
Từ những thành phần, hiệu quả nhất là RutosideDNJ ( 1-Deoxynojimycine ) hiệu quả :
- cân đối huyết áp động mạch điều chỉnh máu,
- giảm lượng glucose trong máu
- và gia tăng biến dưỡng.
Do đó, chúng được dùng thường xuyên như là nguyên liệu căn bản để chữa trị bệnh tiểu đường.
* Vỏ cây dâu được sử dụng để :
- chữa ho,
- hơi thở khò khè,
- phù thủng
- thông đưòng tiểu.
- trị sốt,
- đau đầu,
- mắt khô đỏ và đau.
● Vỏ rễ (Cortex Mori albae radici) Tang bạch bì.
Vỏ rễ  Morus alba được dùng trong y học truyền thống thống ở những nước Á Châu và có tác dụng :
- Kháng vi trùng chống lại những sự nhiễm độc thực phẫm bởi vi trùng. Hoạt chất chống kháng trùng đã được xác định như chất kuwanon G….ly trích từ vỏ rể khô bằng méthanol.
- Hiệu quả giảm lượng chất béo lipide ( glycéride hay cholestérol ) lưu thông trong máu ( hypolipidémiants ) và chống sự oxy hóa bởi bột tinh chất Morus alba L. của trái dâu.
- Hiệu quả bảo vệ thần kinh .
- Chữa trị lượng acide urique trong máu cao và bệnh thống phong (goutte).
Tinh chất trích từ rể dâu morus alba bằng méthanol :
Cho ta thấy Morus alba hoạt động adaptogène,( tăng khả năng của cơ thể thích ứng với điều kiện căng thẳng ) cho thấy tính hữu dụng có thể là một tác nhân chữa trị bệnh căng thẳng tinh thần. 
Albanol, đã được ly trích từ vỏ rễ có thể có thành phần được theo dỏi và phát triển thành dược phẫm chữa trị bệnh bạch cầu ( leucémie ).
Moracin M, Steppogenin-4'-O-β-D-glucosiade, Mullberroside A đã được ly trích từ vỏ rễ cây Morus alba và có tác dụng chữa trị hạ đường máu.
Thực hiện và biến chế :
Mô tả : Vỏ rể đả làm sạch cạo bỏ lớp dơ bẩn, hình ống hay máng, phẳng hay nhăn. Dày 1 – 4 mm, mặt ngoài trắng hay vàng nhạt, tương đối nhẵn. Mặt trong vàng nhạt hay vàng xám, nếp nhăn.
Chất nhẹ dai, sợi chắc, khó bể, dể tước thành sợi.
Mùi nhẹ, vị hơi ngọt.
Thu hoặch lá : Sau khi mới có sương (vào mùa thu), thu hái lá, loại chất bẩn, rửa sạch đem phơi trong bóng râm hoặc sấy nhẹ đến khô. Dùng trị cảm mạo phong nhiệt, phế nhiệt ho ráo, chóng mặt, nhức đầu hoa mắt, mắt xây xẩm, đau mắt đỏ.
Nấu sắc : Ngày dùng 5-12 g .
Chế biến: Thu hoạch vào cuối mùa thu, khi lá rụng, đến đầu mùa xuân, trước khi cây nảy mầm, đào lấy rễ dưới đất, cạo bỏ hết lớp vỏ ngoài thô màu nâu vàng, rửa sạch, bổ dọc, bóc lấy vỏ rễ màu trắng ngà, phơi hay sấy khô.
 Công dụng: Phế nhiệt ho suyễn, thủy thũng đầy trướng, tiểu tiện ít, cơ và da mặt, mắt phù thũng. Vỏ rễ trị huyết áp cao.
Nấu sắc : Ngày dùng 6-12 g.
Giai thoại :
Đối với cảnh quan, cây dâu đã không thành công nhưng đã được khai thác và phát triển từ sự lai giống đột biến để tạo ra nhiều thứ mûrier dùng làm trang trí mà không có trái .
Hiện nay cấy trồng từ mûrier blanc ta có một mûrier blanc « pleureur » Morus alba pendula là một loại cây cảnh rất phổ biến.
Hiện tại có khoảng mươi loài mûrier :
Morus alba L hay mûrier blanc gọi dâu tằm trồng để lấy lá nuôi tằm và rất hiếm để lấy trái ăn được, trái rất ngọt, đen, trắng, đỏ, vàng…).
Morus alba nigra, hay mûrier noir, cho trái màu đỏ đậm, ngọt và chua. Đây là loại dâu được thích nhất.
Morus alba platanifolia ( đồng nghĩa Morus kagayamae ), hay mûrier platan, dâu này dùng làm cây cảnh, cho trái ăn được.
Morus pappyrifera, còn gọi là dâu giấy, vỏ cây dùng để chế tạo giấy.
Morus alba magrophylla, mûrier lá lớn, dâu lá lớn, trái ăn được ngọt, màu hồng đỏ và đỏ sậm.
▪ Morus alba pendula, Mûrier pleureur hay dâu rũ, dâu khóc. Dùng làm cây cảnh……


Nguyễn thanh Vân


dimanche 3 juillet 2011

Dum dâu - Ronce a mûre

Ronce à Mure
Dum dâu
  Rubus fruticosus L.
Rosaceae
Đại cương :
Dạng bụi dọc bờ rào và trong rừng, trảng, cao khoảng 0,20 đến 2 m. Người ta dùng lá, hoa, trái.
Lá cây mâm sôi còn gọi là ronce hay mûre, tác dụng giảm co thắc mạnh và có thể dùng để chữa trị loét loang mạnh nướu răng.
Cây ronce thông thường ( hay mûrier hoang dại ) là một loại bụi gai có họ với họ hồng rosaceae, gặp nhiều trong vùng ôn đới, cây cho trái ăn được, gọi tên là mûron hay mûre, tên việt nam gọi trái mâm sôi.
Không nên lầm lẫn với mûrier cây «  dâu tằm ăn » cho ra trái cũng gọi là  « mûre » mặc dù trái rất hơi giống nhau cã ngoại hình lẫn hương vị có hơi khác.
 Tên thông dụng bản xứ : Ronce thông thường, ronce hàng rào, ronce rừng, cây mâm sôi, mûrier hoang dại, mûrier hàng rào, cây mûrier cáo,…
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Vùng ôn đới Âu Châu, đồng cháy bỏ hoang, bờ dậu hàng rào, rừng cây.
Mô tả thực vật :
Cây mâm sôi, hay ronce thông thường là một tiểu mộc, dạng bụi nhất niên bởi thân ngầm dưới đất, phát triển mỗi năm thân mới trên không, nhiều nhánh trường có gai nhiều, sống khoảng 2 năm, chỉ đậu trái ở nhánh năm thứ hai. Thân và lá phụ mang nhiều gai nhọn.
- Thân bò trường có thể đạt đến 4 thước chiều dài và đầu ngọn có thể chúi xuống đất năm thứ hai và mọc rể bởi sự chiết cành, cho ra một cây mới phát triển lan ra thành tập đoàn rộng lớn trên đất.   
Đây là loại cây chịu đạm phát triển nhanh tạo thành bụi rậm gai dày khó cho sinh vật xuyên qua .
- Lá kép  lẽ, lá phụ mọc đối, hình soan, có răng cưa thường có 5 hay 7 lá gọi là « bụi mâm sôi ».
- Hoa trắng hay màu hồng nhạt, 2 hay 3 cm đường kính, tập họp thành tản phòng ( corymbe ). 5 cánh 5 đài và nhiều nhụy đực nhiều tâm bì. Hoa xuất hiện trên thân từ năm trước.
- Trái chùm, quả nạt, màu đỏ hồng rồi đen xanh khi chín, khoảng tháng 9, ngọt hay chua tùy vùng và đất, ăn được, người ta gọi là trái « mûre ». Đây là những trái tập họp của những tâm bì sửa đổi và biến thành  những nhóm nhỏ quả hột cứng tập họp kết dính lại cùng chung một cuống hoa.
Bộ phận sử dụng :
Lá - quả nạt
Thành phần hoá học và dược chất :
Lá :
▪ Tanins hydrolysables (= gallotanins và ellagitanins, 8 đến  14 % )
▪ Acides hữu cơ :
- citrique,
- isocitrique
▪ Flavonoïdes
▪ và acides triterpéniques pentacycliques
Trái :
- Anthocyanes
- Pectine
- Vitamine C
- Acides trái cây
Đặc tính trị liệu :
- Giảm sự co thắc
- Chống lại chứng tiêu chảy nhờ tác dụng của tanin
- Kháng trùng
- Bảo vệ mạch máu
- Giúp  thần kinh co mạch
- lành vết thương hóa sẹo .
Lá cây mâm sôi phơi khô và đọt non mới mọc lên men dùng thay trà công dụng làm :
- giảm sự co thắc.
Cây chứa nhiều chất taninsinh tố C.
Lá non mọc vào mùa xuân được chủ ý dùng trong « mầm non liệu pháp - gemmothérapie », y học không quy ước ( non conventionnelle )
Ứng dụng :
- Tiêu chảy
- Súc miệng bằng lá mâm sôi ( mûre ) chữa trị bệnh viêm tuyến nước bọt và viêm yết hầu, loét miệng, sưng nướu.
- rửa sạch và hóa sẹo vết thương.
- tĩnh mạch trương và bảo vệ mao mạch .
- trái chín chữa trị chứng viêm sưng cổ họng.
Trong « mầm non liệu pháp », được chỉ định đặc biệt là chồi non.
- hô hấp yếu, tắc nghẽn.
- viêm cuống phổi mãn tính, nghẽn.
- khí thũng
- và giảm VEMS ( Volume expiré maximal par seconde )
Trong cách nấu sắc, được dùng làm ngưng :
- tiêu chảy
- và dịu những chứng trĩ.
Trong cách dùng như trà hay dung dịch súc miệng chữa trị :
- ho,
- đau cổ họng
- và viêm miệng.
Đồng thời cũng chữa trị :
- Tiêu chảy,
- viêm yết hầu,
- bạch đới khí hư,
- tiểu đường,
- xuất huyết,
- kết thạch,
- bần niệu ( tiểu ít ).
Dùng ngoài cơ thể :
- Loét miệng,
- viêm nướu,
- khàn tiếng,
- viêm cổ họng,
- lở loét,
- vết thương, bạch đới khí hư,
- lác hắc lào. 
- Ngâm : nấu 1 muỗng súp lá, đun sôi 2 phút, đoạn ngâm trong 10 phút ; 3 tách / ngày giữa bữa ăn .
- Nấu sắc : Đun 1 nắm lá trong 1 lít nước đun sôi trong 15 phút, thêm vào 2 hoặc 3 muỗng mật ong ; dùng để súc miệng ( gargarismes và bains de bouche )
Gia chánh và biến chế :
Trái « mûres », rất giàu nhiều hình thức khác nhau của Vitamine B ( trừ B12 ) và vitamine C ( 36 mg / 100 gr ), ăn sống riêng hay dùng chung « salades trái cây », hay  dùng chín, làm tartes, chế tạo sirops, thạch, mứt… . Ngoài ra còn biến chế như rượu mûre, crème mûre, v…v…
Những trái cũa những loài khác cũng ăn được như « ronce »
Đối với các nhà trồng vườn, cây mâm sôi có nhiều chất đạm nên người ta dùng :
Cắt nhỏ rể, phần rể của những cành chiết, màu trắng, cắt nhỏ và ngâm trong nước. Dung dịch sẽ cho chất kích thích tố nẩy chồi rất tốt.
Ngoài ra toàn cây cắt nhỏ ngâm trong nước nhiều ngày, mục nát dùng phân bón cây rất tốt.
Phản ứng xấu và phụ :
Không thấy ghi nhận.


Nguyễn thanh Vân

vendredi 1 juillet 2011

Cúc nút áo - Pâquerette

Pâquerette
Cúc nút áo
Bellis perennis L
Astéraceae
Đại cương :
Pâquerette còn gọi là : Fleur de Pâques và Petite marguerite.
Mùa xuân, Pâquerette trổ hoa ngay vào ngày lễ Pâques, nên tên gọi Pâquerette và phát hoa kéo dài nhiều tháng.
Ban đêm và những ngày mưa pâquerette tự mình khép cánh lại và hoa sẽ phát triển mới trở lại khi ánh mặt trời trờ lại với hoa.
Pâquerette tự phát tán hạt và có thể phát triển lan tràn, một vài nơi và vườn cỏ xem pâquerette như loài cỏ dại .
Môi trường và thực vật :
Pâquerettes thân thảo sống đa niên trên những cánh đồng, bải cỏ, ven đường và những đồng cỏ. Cao từ 10 – 20 cm.
Phát hoa : Cũng như tất cả các hoa họ Cúc Asteraceae, phát hoa của pâquerettes thuộc nhóm hoa đầu gồm rất nhiều đơn vị hoa hợp lại,
Gồm 2 loại hoa :
- một loại hình lưởi ( liguliflore ) bao chung quanh thật sự màu trắng ở những loài hoang trong thiên nhiên đôi khi ( lai giống ) cho những loài màu hồng hay đỏ.
- một loại hình ống ( tubuliflore ) ở trung tâm màu vàng .
- Hoa cái ở trung tâm hoa màu vàng, hình ống.
- Hoa lưởng phái
Hạt tự phát tán nhờ gió gọi là phong môi và phát ra mùi nên quyến rủ côn trùng đến .
Bộ phận sử dụng :
- Hoa và lá
Thành phần hóa học và dược chất :
Pâquerette với số lượng lớn  :
- saponines
- tanins,
- anthoxanthine
- flavonoïdes
- Một tình dầu gồm 18 à 21% thành phần  polyacétyléniques, có tính sát trùng
Đặc tính trị liệu :
- Co rút
- Làm dịu, trấn tịnh.
- làm tươi mát, khỏe
- Long đờm và giảm viêm sưng
- Lọc máu
- hiệu quả làm lành vết thương, ứ máu, máu bầm
Ứng dụng :
Pâquerette dùng trong trường hợp :
- Vặn khớp (Torticolis)
- Đau lưng, đau hông (Lumbago).
- Đau nhức, mỏi (Courbatures),
- Đau chứng phong thấp
- Bệnh ngoài da,
- Dùng dưới dạng tinh dầu pâquerettes hay dạng thuốc dán.
Dùng lá pâquerettes tươi nhai trị lành chứng lỡ miệng hay ung nhọt trong miệng «  nga khẩu sang » (aphtes)
- Bệnh gan
- Bệnh đường hô hấp
- bón
- vết thương
Theo y học cổ truyền, để chữa trị những vết thương và máu bầm hay ứ máu dưới da để mà giới hạn sự viêm sưng tế bào và mau kéo mài làm sẹo, chỉ cần giã nát lá và hoa pâquerettes chung và đắp trực tiếp lên vết thương bầm, nhiều lần trong ngày ( không dùng băng lưới (bandage) bịt kín trong lúc đắp lá )   
Trong nội tạng uống :
- chống ho
- và làm sạch máu.
Trong « dược thảo liệu pháp », pâquerettes thường dùng chống huyết áp cao và chứng cứng động mạch ( dùng hoa và lá )
► Đun sắc : Đun sôi 1 muổng / chén đun sôi . Ngâm 10 phút . 3 tách / ngày
► Y học cổ truyền : bài thuốc với 1 muổng canh cây xấy khô nghiền thành bột ( tương đương với 5 muổng canh cây tươi ) lá và hoa .
Tất cả cho vào 1/4 lít nước, quậy đều (để ngâm trong 10 phút ) .
Dùng 2 hay 3 tách / ngày .
Gia chánh và biến chế : 
Ghi chú :
Tên khác : petite marguerite, fleur de paques, magriette, fleur de pâturage.
Mùa Xuân Pâqurette nở rộ trên đồng cỏ, những thảm cỏ và những lề đường.
Chúng sống thành nhóm, không mọc đơn lẽ, hoa trắng tươi sáng hay màu hơi hồng chấm với đĩa màu vàng
Thêm nữa hoa ăn được ( ? ) và lá pâquerette ăn như salade thí dụ như dùng chung với bồ công anh ( pissenlit ), với roquette ( eruca sativa ), với chicoré hoang,với mâche có tên gọi doucette và những thứ khác nữa …..
Lá pâquerette dòn và mềm, khẩu vị trái cây tưởng như noisette trong khi mà hoa cho vị đắng dể chịu cho những ai thích vị đáng.
Mùa Xuân thời điểm lý tưởng để ăn sống.
Nhưng tất cả những cây có thể ăn chín như rau xanh, kể cã rể ( cái khó lả vấn đề rữa ! ! ! sạch hết đất cát )

Nguyễn thanh Vân