Tâm sự

Tâm sự

mardi 21 novembre 2017

Thanh tùng - If commun

Common Yew-If commun
Thanh tùng
Taxus baccata - L.
Taxaceae
Đại cương :
Đồng nghĩa :
- Cephalotaxus adpressa Beissn.
- Cephalotaxus brevifolia Beissn..
- Verataxus adpressa (Carrière) Carrièr
Taxus baccata, mặc dù có nguồn gốc ở Anh Grande-Bretagne và đôi khi được gọi dưới tên là «if anglais», cũng được tìm thấy trong hầu hết ở Châu Âu, Tây Á Asie occidentale và Bắc Phi Afrique du Nord.
Nguồn gốc ở bộ phận phía tây occidentale của khu sinh thái paléarctique Écozone paléarctique, if-commun (if với quả mọng baies) chủ yếu hiện diện dưới sinh tầng rừng lá gỗ cứng ( hêtraies và chênaies humides, thậm chí rừng sapinières...), chủ yếu trong vùng núi thấp và núi trung bình. Trở nên hiếm ở trạng thái tự nhiên, Tuy nhiên nó hiện diện trong phần lớn lãnh thổ nước Pháp France-métropolitaine (ngoại trừ phía Tây nam của Massif central, của Deux-Sèvres và Département des Vosges), đặc biệt trong những lãnh vực sau :
- Bretagne, Normandie, Vosges du Nord, Corse, Chaînons-Provençaux (Sainte-Baume, Sainte-Victoire, Gorges du Verdon
hoặc trong một số đối tượng đã hơn 1000 năm tuổi .
Là một loài thực vật luôn xanh, có thể sống được hằng thế kỷ, Cây Thanh tùng được tìm thấy ở những nhà thờ của Anh.
Tên gọi Việt Nam, theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong Cây Cỏ Việt Nam, là Thanh Tùng, thuộc họ Taxaceae.
Tên gọi chung Taxus được phản tên của những thành phần taxanes độc hại toxiques được tìm thấy trong Cây.
Một số nhà Thực vật học, không xem Cây Thanh tùng Taxus baccata là một Cây Tùng Bách conifère thật sự, bởi vì nó không mang những hạt trong một chùy cône.
Tuy nhiên việc xem xét gần đúng của sự tiến hóa của nó hiện nay đặt trong họ của Thanh tùng ifs (họ Taxaceae) chắc chắn trong những nhóm Cây Tùng Bách conifères.
Những Cây ifs Thanh tùng Taxus baccata có chứa những alcaloïdes taxanes rất độc hại, có thể phát triển như thuốc chống ung thư anticancéreux.
Ăn chỉ một ít lá có thể đưa đến một trẻ em nhỏ bị bệnh nặngvà những t ửvong cũng đã xảy ra.
Tất cả những bộ phận của Cây là độc hại, ngoại trừ những tử y màu đỏ tươi bao chung quanh hạt. Những tử y arilles là những cấu trúc vô hại inoffensives, nạt thịt charnues, có dạng một cái chén, bao quanh một phần của những hạt, được ăn biở những loài chim (phát tán những hạt ); tuy nhiên những hạt đen bên trong những trái, không ăn được bởi vì nó có chứa những alcaloïdes chất độc vénéneux.
▪ Cây không tự động thụ phấn auto fertile.
Nó được ghi nhận cho sự thu hút những loài động vật hoang dả.
Thích hợp với những loại đất nhẹ (cát), trung bình (đất mùn limoneux) và nặng (đất sét argileux), thích những nơi đất thoát nước tốt bien drainé và có thể mọc trong những đất sét nặng argileux lourd.
Độ pH gần đúng : đất acides, trung tính neutres và kiềm basiques (alcalins) và có thể mọc trong những đất rất acides và rất kiềm alcalins.
Nó có thể mọc trong bóng râm ombre (rừng sâu) bán râm semi-ombragé (rừng ánh sáng bois clair) hoặc không bóng râm sans ombre.
Nó thích những đất khô hoặc ẩm và có thể chịu đựng khô hạn hán. Cây có thể chịu đựng những gió mạnh nhưng không tiếp xúc với vùng  biển maritime.
Nó có thể chịu được sự ô nhiễm của khí quyển pollution atmosphérique.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Đại mộc đến 20 m, nhưng thường ở những cá thể thì nhỏ hơn,  tàn cây bình thường có dạng hình chóp, trở nên không đều khi già, nhưng ở những cây trồng thì không tuân thủ theo những nguyên tắc này, thân ngắn, hình tròn, có lá không rụng luôn xanh, có màu xanh lá cây đậm, tăng trưởng với tốc độ chậm, có nhiều nhánh lớn nằm gần bên dưới của cây, nhánh hơi thòng, vỏ non hơi nứt dọc, hơi vàng.
Vỏ mỏng, màu nâu đỏ nhạt hình thành những mảng vảy lớn màu nâu tím hoặc màu đỏ. Cây rất cứng ở vùng Anh và không bị đông giá.  
, hẹp, hình kim phẳng mềm, dài 3,5 cm, rộng 2-3 mm, hình mũi dáo, đầu hẹp, nhọn, đáy bất xứng, màu xanh lá cây đậm ở mặt trên, xanh nhạt hơn ở mặt dưới, ánh màu bạc rất hấp dẫn, mặt dưới màu vàng nâu lúc khô, đính theo vòng xoắn xung quanh chồi, nhưng xuất hiện 2 hàng trên thân.
Hoa, đơn phái, bìệt chu ( những hoa cá nhân là hoặc hoa đực hoặc hoa cái, nhưng chỉ có 1 phái tính được tìm thấy trên 1  cây, do đó trồng Cây đực và Cây cái phải được trồng nếu hạt giống là cần thiết ). Thụ phấn nhờ gió ( phong môi ).
- chùy đực, trắng, hay màu vàng nhạt và hiện diện trong những đuôi mèo chaton nhỏ hình cầu từ 3-6 mm đường kính, tiểu nhụy mang 5-6 bao phấn, phóng thích những hạt phấn màu vàng và rất phong phú..
- Chùy cái ( chùy hạt ), 8-15 mm dài, hoa cái, màu xanh lá cây nhạt, giống như một chồi mùa xuân,
Trái, quả mọng màu đỏ nhạt tươi và nạt thịt với 1 hạt duy nhất, những quả mọng nạt, lớp nạt bao bọc phần dưới bên ngoài của 1 hạt duy nhất gọi là tử y arille, màu đỏ tươi.
Hạt, màu xanh lá cây rất độc toxique, không được ăn bởi những động vật.
Tử y trưởng thành chín dần dần từ 6 đến 9 tháng sau khi thụ phấn và những hạt được phát tán bởi những loài chim. (L'Herbier Virtuel 2008).
Bộ phận sử dụng :
Trái, rễ, lá, thân.
Chú ý : Ngoại trừ nạt thịt của những trái, tất cả những bộ phận khác của Cây rất độc hại toxiques.
Thành phần hóa học và dược chất :
Toàn Cây Cây Thanh tùng Taxus baccata, ngoại trừ màu đỏ lớp áo bên ngoài cơm nạt, có chứa nhiều alcaloïdes :
- taxane,
trong đó được biết nhiều nhất là :
- taxine.
Những alcaloïdes khác ( thí dụ như milossine, éphédrine),
- taxicatin glycoside,
- taxol,
- và dẫn xuất của nó.
và những sắc tố pigments được tìm thấy trong tất cả bô phận của Cây.
▪ Bristol-Myers Squibb đã nhận được sự thừa nhận của FDA cho thương mại hóa Taxol như một yếu tố :
- thuốc chống ung thư antinéoplasique
cho những ung thư buồng trứng cancers de l'ovaire và vú sein,
▪ Tên chung được chấp nhận, paclitaxel, trước đây là tên taxol. Taxol hiện nay là nhản hiệu thương mại của paclitaxel.
và những mối quan ngại đã được nêu ra liên quan đến tác động của môi trường do sự gở vỏ của Cây Thanh tùng Thái Bình Dương để thu hoạch thuốc.
Do đó, những phương pháp đã được khai triển để sản xuất chất paclitaxel từ những tiền chất tìm thấy trong những , những cành cây và những gai của Cây Thanh tùng Taxus baccata trong Âu Châu và trong Ấ Châu, những nổ lực đã được thực hiện để tổng hợp paclitaxel từ :
- pinène.
Trong những Cây Thanh tùng Taxus baccata, hàm lượng paclitaxel thay đổi từ 0,00003% à 0,069% của Cây.
Đặc tính trị liệu :
Cây Thanh tùng Taxus baccata là một cây có tính độc hại cao toxique, đôi khi đã được sử dụng trong y học, chủ yếu trong chữa trị :
- những bệnh của lồng ngực affections thoraciques.
Nghiên cứu hiện đại cho thấy rằng những thực vật có chứa chất «taxol» trong chồi của chúng. Chất taxol cho thấy một tiềm năng kích thích như là một thuốc :
- chống ung thư anticancéreux,
đặc biệt trong chữa trị :
- những ung thư buồng trứng cancers de l'ovaire.
Thật không may, những nồng độ của taxol ở loài thực vật nầy quá thấp để có một giá trị lớn trong thương mại, mặc dù nó đã được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
▪ Phương thuốc này phải được sử dụng với sự thận trọng lớn và duy nhất dưới sự giám sát của một Bác sỉ chuyên môn có khả năng thật sự.
▪ Tất cả những bộ phận của Cây Thanh tùng Taxus baccata, ngoại trừ những trái nạt thịt, là thuốc :
- chống co thắt antispasmodiques,
- thuốc bổ tim cardiotoniques,
- làm đổ mồ hôi diaphorétiques,
- trấn thống, làm dịu đau, điều kinh emménagogue,
- long đờm expectorante,
- thuốc gây mê narcotique,
- và tẩy xổ purgative.
▪ Những Cây Thanh tùng Taxus baccata được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- bệnh hen suyễn asthme,
- viêm phế quản bronchite,
- nấc cục hoquet,
- khó tiêu indigestion,
- những bệnh thấp khớp rhumatismes
- và động kinh épilepsie.
Bên ngoài cơ thể, những Cây Thanh tùng Taxus baccata được sử dụng trong tắm hơi nước bain de vapeur để chữa trị :
- những bệnh thấp khớp rhumatismes.
● Lợi ích cho sức khỏe của Taxus :
Do sự sử dụng trong quá khứ, phẩm chất của trái là không phù hợp gây khó chịu.
Sau đó, nó cho thấy rằng nó có nhiều đặc tính dinh dưởng nutritionnelles có thể chữa lành nhiều vấn đề của sức khỏe.
Trước đó, nó được sử dụng như thuốc chống lại :
- ho toux
và sau đó trong :
- cảnh quan aménagement paysager,
- và làm vườn horticulture.
Nó cũng được sử dụng trong :
- giúp phá thai avortement
- sốt thấp khớp lạnh fièvre rhumatismale froide,
lạnh sốt thấp khớp là một phản ứng viêm có thể phát triển như một biến chứng của bệnh nhiễm trùng streptococcus nhóm A.
- viêm khớp arthrite
- kích thích kinh nguyệt stimulation menstruelle
● Lợi ích dinh dưởng nutritionnels của Taxus :
Ngoài giá trị dinh dưởng của những trái này, cũng là quan trọng được ghi nhận liều lượng của loài này, có tiềm năng xem như độc hại toxique cùng một lúc.
Đến lúc đó, nó không được thử nghiệm, những đã được thử nghiệm hoàn toàn và chấp nhận cho sự sử dụng hiện nay.
Những công ty dược phẩm ngày nay này đã xác nhận những sự bao gồm của Cây trong công thức của họ.
Người ta quyết định liều lượng trong chức năng của sự cần dùng của những nhà chuyên môn về sức khỏe trước khi tiêu dùng nó với một cách ngẩu nhiên.
▪ Taxol là một trong những thành phần quan trọng nhất của Cây Thanh tùng Taxus baccata.
Nó được sử dụng như thuốc :
- chống ung thư anticancéreux
trong những chữa trị khác nhau để chống lại ung thư cancer.
▪ Thuốc thu được từ một loại hóa chất quang học photochimique bao gồm trong Cây Thanh tùng Taxus baccata.
Đây là một thành phần rất dinh dưởng nutritif hỗ trợ trong những bệnh liên quan đến :
- buồng trứng ovaires,
- lá lách ( tụy tạng ) pancréas,
- bàng quang vessie
- và tuyến tiền liệt prostate.
Những sản phẩm quang-hóa học photo-chimiques của taxane là rất lợi ích thuộc gia đình chất Terpene.
Cây Thanh tùng Taxus baccata được ưa chuộng hơn cho những giá trị dinh dưởng nutritionnelles với những thành phần hợp chất khác trong lĩnh vực thuốc.
▪ Liều lượng của nó  được quy định nghiêm nhặt và chớ nó không phải là những trái mà bình thường có thể sẵn sàng để tiêu thụ.
▪ Nghiên cứu chi tiết và những ghi toa thuốc phải tuân theo trước khi sử dụng nó trong chế độ ăn uống của ta.
▪ Khả năng chữa trị những bệnh trên một bình diện rộng của nó, làm cho nó nổi bậc hơn trong những thuốc hiện đại.
▪ Dùng đơn giản của những thảo dược này để xác định một mục tiêu nghiêm trọng cho những lý do sức khỏe, cần thiết phải có một tư vấn của những người chuyên môn có khả năng thật sự.
● Cơ chế hành động của Taxus :
▪ Thành phần paclitaxel và những taxanes khác, phân biệt chúng với những độc tố toxine của chất tubuline đã được biết từ trước cùng một lúc trên những vị trí tương tác với thành phần β-tubuline và hiệu quả ổn định của chúng trên những vi quản microtubules.
Những taxanes ngăn chận những phản ứng trùng hợp polymérisation của những vi quản microtubules.
Nhiều nghiên cứu quan trọng đã chứng minh rằng những vi quản microtubules phải ở trong :
- trạng thái năng động dynamique của phản ứng trùng hợp polymérisation,
- và chuyển đổi những chất trùng hợp thành những chất có trọng lượng phân tử nhỏ hơn dépolymérisation cho những chức năng đúng chính xác,
do đó giải thích làm thế nào những tác nhân có những hiệu quả hổ tương réciproques trên những phản ứng trùng hợp polymérisation của những vi quản microtubules có thể gây ra một hiện tượng làm ngưng sự phân bào arrêt mitotique.
▪ Thành phần paclitaxel nối liền với tiểu đơn vị β sous-unité β của chất tubuline, tạo ra những vi quản microtubules ổn định không bình thường ngăn chận sự phát triển chuyển đổi thành những chất trùng hợp thành những phân tử nhỏ hơn dépolymérisation và gây chết tế bào mort cellulaire.
Những cơ chế thật sự mang đến cái chết của những tế bào mort cellulaire vẫn còn mơ hồ không rõ ràng, nhưng có thể bao gồm những sự kích hoạt của nhiều đường dẫn truyền của những tín hiệu nội bào signal intracellulaire cần thiết cho lập trình tự hủy apoptose.
▪ Thành phần paclitaxel kết hợp với 31 acides aminés N-terminaux của thành phần β-tubuline và sản xuất ra những asters không bình thường, trong đó những centrioles không cần thiết. ( centriols, một đĩa hình trụ nhỏ gần hạt nhân trong tế bào động vật, xảy ra theo cặp và liên quan đến sự phát triển của sợi trục trong phân bào ).
Những tế bào chữa trị với paclitaxel không bị ngăn chận đi từ giai đoạn của chu kỳ tế bào G2 đến giai đoạn phân bào mitose, nhưng những hiệu quả chánh của nó xảy ra cuối giai đoạn phân bào mitose và sự phân bào sớm mitose précoce.
Tế bào chết sau khi tiếp xúc với paclitaxel dường như liên quan đến cơ chế lập trình tự hủy apopotiques, bao gồm những đặc tính cổ điển như là :
- sự chia cắt phân mảnh của ADN,
- sự co lại của dung lượng tế bào volume cellulaire,
- và những lập trình tự hủy apoptotiques của cơ thể được nối liền với màng tế bào.
Sự cảm ứng của sự phosphoryl hoá phosphorylation của bcl-2 dễ dàng :
- lập trình tự hủy apoptose,
- và ức chế inhibition của sự hình thành mạch angiogenèse
cũng được xem như một chức năng quan trọng của hoạt động chống ung bướu khối u antitumorale của những taxanes.
▪ Độc tính thần kinh neurotoxicité ngoại vi đã kết hợp với thuốc tubuline. Những vi quản microtubules là thiết yếu để vận chuyển axonal trong những tế bào thần kinh neurones, và nó đã chứng minh rằng những thuốc liên kết với tubuline trực tiếp làm xáo trộn sự hình thành của những vi quản microtubules trong những tế bào Schwann và những axones của dây thần kinh tọa nerf sciatique.
Mặc dù, có thể quản lý được maniable và đảo ngược réversible, độc tính này toxicité có thể ngăn chận của những chu kỳ chữa trị lặp đi lặp lại.
▪ Mặc dù, thành phần paclitaxel là một trong những yếu tố chống ung bướu khối u antitumoraux có những hoạt tính rộng rãi nhất, đa số những bệnh nhân mắc bệnh nặng không thuyên giảm lâu dài.
Những bơm pompes dòng chảy của thuốc và sự thay đổi của thành phần tubuline có thể đóng vai trò trong sức đề kháng résistance.
Những taxanes là chất nền tốt cho bơm  pompe dòng chảy 170kDa P-glycoprotéine (Pgp) mã hóa bởi di truyền gène MDR (Kháng đa thuốc Multi Drug Resistance) của sức đề kháng đa thuốc multidrogue, do đó đóng một vai trò trong tính nhạy cảm sensibilité với những hợp chất của nó trong ống nghiệm in vitro.
Những sự thay đổi của chức năng thành phần tubuline đã được ghi nhận đầy đủ như là cơ chế của sức đề kháng với những tác nhân gắn kết với thành phần tubuline.
Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy những thay đổi trong sự biểu hiện của thành phần tubuline và những sự đột biến mutations trong thành phần β-tubuline ảnh hưởng đến phản ứng trùng hợp polymérisation của paclitaxel.
Kinh nghiệm dân gian 
Không biết, cần bổ sung.
Nghiên cứu :
● Sự sử dụng và Dược liệu pharmacologie
Hợp chất paclitaxel là một yếu tố chống ung thư anticancéreux hiện có trong thương mại Hoa KÉtats-Unis và một một số nước nhất định khác.
Nó được bắt nguồn từ nhiều loài của Cây Thanh tùng Taxus baccata, nhưng xuất phát chủ yếu của Cây Thanh tùng Taxus baccata ở Châu Âu.
Nó có một cơ chế hành động mới gây ra những bất thường của sự phân bào mitotiques và ngưng lại, và thúc đẩy sự đa hình polymérisation của những vi cấu trúc hình ống microtubules trong những cấu trúc tổng hợp kết quả của sự ức chế của sự nhân giống tế bào réplication cellulaire.
● Ung thư vú cancer du sein :
Nghiên cứu không cho thấy dữ kiện động vật nào liên quan đến sự sử dụng của những taxanes cho :
- những di căn métastatique ung thư vú cancer du sein.
Một xét lại đánh giá của những phát đồ  xét nghiệm có chứa những taxanes cho di căn métastatique ung thư vú cancer du sein đã cho thấy rằng chúng có liên quan đến một sự cải thiện thống kê đáng kể của sự sống sót tổng quát.
Những phát đồ có chứa taxane đã liên kết với một mức độ cao hơn của giảm bạch cầu leucopénie và gây độc thần kinh neurotoxicité, nhưng nó có ít hơn trạng thái buồn nôn nausées và ói mữa vomissements so với nhóm kiểm chứng, tác động tổng quát trên phẩm chất qualité của cuộc sống dường như không khác biệt nào trong những thử nghiệm.
● Ung thư da Cancer de la peau :
Nghiên cứu không cho thấy có dữ liệu động vật nào liên quan đến sự sử dụng của paclitaxel cho bệnh ung thư da cancer de la peau.
Một nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của paclitaxel đối với paclitaxel + thêm carboplatin  đã được chấm dứt sớm do một đáp ứng kém médiocre.
Tĩ lệ của đáp ứng trong một nghiên cứu trên 35 bệnh nhân với sự tiến bộ về mặt mô học histologiquement avancé của bệnh ung thư ác tính di căn mélanome métastatique (giai đoạn IV) thấp hơn 10%.
● Ung thư dạ dày Cancer gastrique :
Nghiên cứu không cho thấy một dữ liệu động vật nào liên quan đến sự sử dụng của paclitaxel cho bệnh ung thư dạ dày cancer gastrique.
Trong một nghiên cứu trên 60 bệnh nhân mắc bệnh ung thư dạ dầy cancer gastrique được xác định về mặt mô học histologiquement và đã nhận được hơn 1 chữa trị của hóa trị liệu chimiothérapie, paclitaxel (210 mg / m 2) mỗi 3 tuần cho trung bình 3 chữa trị đã đạt được tĩ lệ đáp ứng của 23% (đáp ứng toàn phần 0 %, đáp ứng từng phần 23%).
Paclitaxel đã được chứng minh một tĩ lệ đáp ứng của 26% ở những bệnh nhân đã nhận được một hóa trị liệu chimiothérapie trước đây và 21% ở những người không có nhận hóa trị liệu chimiothérapie trước.
● Ung thư biểu mô Carcinomes không vảy non squameux của cổ tử cung col de l'utérus
Nghiên cứu không cho thấy dữ liệu động vật nào liên quan đến sự sử dụng của những taxanes cho những ung thư biểu mô carcinomes không vảy non squameux của cổ tử cung col utérin.
Trong một thí nghiệm của 42 bệnh nhân, có thể đánh giá với một liều khởi đầu 170 mg / m 2 của paclitaxel (135 ng / m 2 cho những bệnh nhân có sự hiện diện một bức xạ vùng chậu rayonnement pelvien trước ) đã được quản lý truyền dịch ngâm trong nước đun sôi infusion liên tục 24 giờ trong tất cả 3 tuần.
Những bệnh nhân đáp ứng đã nhận đdược trung bình 6 chu kỳ ( trong phạm vi : từ 5 đến 12 chu kỳ ).
Độc tính chủ yếu và giới hạn liều lượng là giảm bạch cầu trung thính neutropénie.
● Ngăn ngừa của sự tái phục hồi resténose :
Những thử nghiệm lâm sàng của ống nong thông động mạch stents ( endoprothèse ) được tráng 1 lớp paclitaxel cho thấy một sự giảm đáng kể của sự tái phục hồi resténose.
Cấy đặt một ống nong thông động mạch endoprothèse ( stents ) làm sạch bằng paclitaxel, so với một ống nong thông động mạch bằng kim loại endoprothèse métallique thô trần, làm giảm tiêu chuẩn đánh giá chánh của nguy cơ mục tiêu mạch tái thông mạch máu revascularisation 9 tháng là 61% và làm giảm hạ nguy cơ tái thông mạch máu revascularisation của mục tiêu tổn thương 73%.
Sự sử dụng một ống nong thông động mạch stent làm sạch bằng paclitaxel giảm nguy cơ của sự tái phục hồi nhị phân resténose binaire 77% trong ống nong thông động mạch stent và 70% trong phần đoạn phân tích.
Thử nghiệm trên ống nong thông động mạch làm sạch bằng paclitaxel paclitaxel-eluting stent (TAXUS I) không cho thấy một sự tái phục hồi resténose nào trong nhóm của ống nong thông động mạch paclitaxel stent paclitaxel ở 12 tháng so với 10% cho nhóm ống nong thông động mạch stent tiêu chuẩn.
Sự khác biệt này đã được phản ảnh trong tái thông động mạch revascularisation của tổn thương mục tiêu lésion cible trong cả 2 nhóm (0% vs 10%).
Những kết quả đã được duy trì trong thời gian 24 tháng. Thử nghiệm TAXUS II đã xác định sự giảm tái phục hồi resténose.
Thử nghiệm lâm sàng trên ống nong thông động mạch stent làm sạch bằng paclitaxel trong Châu Á (ASPECT) cho thấy rằng sự tái phục hồi resténose giảm angiographique ( một kỹ thuật hình ảnh y khoa liên quan đến mạch máu mà không nhìn thấy trên tia X tiêu chuẩn ....) 27% trong nhóm ống nong thông động mạch endoprothèse không phủ lớp paclitaxel, 4% trong nhóm ống nong thong động mạch paclitaxel stent paclitaxel.
Không có sự gia tăng huyết khối thrombose của ống nong thông động mạch stent bán cấp tính subaigu hoặc tái phục hồi resténose trên ở những cạnh của ống nong thông động mạch stent đã được báo cáo trong những thử nghiệm ngẫu nhiên đã được công bố.
● Những sử dụng y học khác :
Một nghiên cứu trong ống nghiệm in vitro đã chứng minh rằng paclitaxel tác động những hiệu quả ức chế rất mạnh, phụ thuộc vào liều, trên :
- những tế bào biểu mô cellules épithéliales của túi mật vésicule biliaire người,
- những tế bào ung thư tuyến ác tính adénocarcinome tuyến tụy pancréatique
- và những nguyên bào sợi fibroblastes. ( là một tế bào có trong mô liên kết, thường trú trong những lớp hạ bì bảo đảm tính nhất quán cà linh hoạt ).
Hiệu quả có xu hướng hiệu quả hơn trong những tế bào ung thư tuyến ác tính adénocarcinome só với những tế bào biểu mô cellules épithéliales hoặc với những nguyên sợi bào fibroblastes, đặc biệt là sau khi một ủ nuôi cấy kéo dài ( 72 giờ )..
Ở những chuột, nó được chứng minh rằng paclitaxel có một tiềm năng ức chế miễn nhiễm immunosuppresseur có thể được sử dụng có hiệu quả để ức chế sự bác bỏ trong cấy ghép allogreffe.
Một điều trị ngắn hạn của paclitaxel cho phép cải thiện sự sống còn của những cấy ghép tim allogreffe cardiaque từ 2 đến 3 tuần.
Thuốc paclitaxel với liều thấp và chất cyclosporine hoạt động hiệp đồng synergie và được hỗ trợ sự sống còn của những cấy ghép allogreffes khoảng 3 tuần hơn một trong hai loại thuốc uống đơn độc cùng liều.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Liều lượng :
Mặc dù tài liệu lâm sàng phong phú trên thành phần paclitaxel như thuốc chống ung bướu khối u antitumoral, những chế phẩm thô của gai kim aiguilles Cây Thanh tùng Taxus baccata hoặc vỏ không nên sử dụng do hiệu quả :
- gây độc tim cardiotoxicité,
do bởi những thành phần taxanes.
▪ Tiêu dùng ăn từ 50 đến 100 g gai nhọn Cây Thanh tùng Taxus baccata có thể dẫn đến tử vong .
● Mang thai Grossesse / cho con bú Allaitement :
▪ Không có những nghiên cứu đầy đủ và kiểm soát tốt trên những thành phần taxanes ở những phụ nữ mang thai femmes enceintes.
Những nghiên cứu trên động vật cũng đã chứng minh những nồng độ cao của taxanes trong sữa mẹ lait. Sự sử dụng ở những phụ nữ cho con bú femmes allaitantes không được đề nghị.
Tuy nhiên, những nghiên cứu ở những động vật đã chứng minh phôi thai embryon gây độc phôi fœtotoxicité, như được chỉ ra bởi :
- số tử vong mortalité trong tử cung intra-utérine,
- sự gia tăng của những sự giảm thiểu résorptions,
- và gia tăng trường hợp những tử vong thai nhi morts fœtales.
● Những phản ứng bất lợi indésirables :
▪ Huyết học Hématologique
Độc tính toxicité giới hạn liều lượng của thành phần paclitaxel là làm giảm bạch cầu trung tính neutropénie hoặc, đặc biệt hơn là giảm bạch cầu trung tính do sốt neutropénie fébrile. Thành phần paclitaxel với những liều 250 mg / m2 quản lý dùng trong 24 giờ thể hiện một tỹ lệ từ 16% đến 36% của sự giảm bạch cầu trung tính do sốt neutropénie fébrile.
Khi được quản lý trong dịch truyền ngâm trong nước đun sôi infusion ngắn hơn (1 hoặc 3 giờ ), chất paclitaxel 250 mg / m 2 được liên kết với một tỹ lệ thấp hơn đáng kể của giảm bạch cầu trung tính do sốt neutropénie fébrile (ít hơn hoặc bằng 5%).
Khi được quản lý dịch truyền ngâm trong nước đun sôi infusion kéo dài ( ví dụ, 140 mg / m 2 trong thời gian 96 heures), tỹ lệ giảm bạch cầu trung tính neutropénie nghiêm trọng (cấp độ 4) dường như xấp xỉ gấp đôi quan sát so với truyền dịch infusion  của 3 giờ.
Mức độ trầm trọng của giảm bạch cầu trung tính neutropénie phụ thuộc vào số lượng của phát đồ schémas của hoá trị liệu chimiothérapie trước đó mà một bệnh nhân nhận được và nói chung thường cao hơn  ở những bệnh nhân mắc một bệnh di căn maladie métastatique.
Với paclitaxel, giảm bạch cầu neutropénie không tích lũy. Số lượng của bạch cầu globules blancs bắt đầu rơi xuống khoảng từ 5 đến 7 ngày sau khi quản lý dùng và đạt đến điểm thấp nhất giữa những ngày thứ 7 ème và ngày thứ 14 ème .
Hầu hết tất cả những bệnh nhân hồi phục vào ngày thứ 21 ème.
Giảm tiểu cầu thrombocytopénie và bệnh thiếu máu anémie thường không có kinh nghiệm với paclitaxel, nhưng những trường hợp nhẹ được báo cáo.
▪ Thần kinh cơ Neuromusculaire :
Một bệnh thần kinh ngoại vi neuropathie périphérique tích lũy được quan sát với paclitaxel, biểu hiện :
- một sự phân bố của túi găng tay gant de stockage
( Gant de stockage : một mô hình bệnh thần kinh ngoại biên có đặc điểm giảm tương đối đau nhức, va chạm, nhiệt độ, vị trí và cảm giác rung động, kèm theo sự yếu kém suy nhược, chứng teo cơ  atrophie musculaire, và mất phản xạ gân ).
và biểu hiện như :
- một bệnh thần kinh cảm giác neuropathie sensorielle phát triển đến một sự mất kỷ năng vận động perte de motricité với một sự quản lý dùng liên tục.
Mức độ nghiêm trọng và tỹ lệ xuất hiện liên quan đến thời gian truyền dịch ngâm trong nước đun sôi infusion, những sự truyền dịch infusion ngắn hơn có liên quan đến một tỹ lệ cao hơn của bệnh thần kinh neuropathies trầm trọng.
Những chứng đau cơ myalgies và / hoặc những đau nhức khớp arthralgies xuất hiện khoảng từ 48 đến 72 giờ sau khi quản lý dùng, với thời gian dự kiến từ 48 đến 72 giờ.
▪ Mệt mõi Fatigue :
Chứng suy nhược asthénie và mệt mỏi fatigue thường quan sát gặp với paclitaxel (4% đến 15% và 34% đến 73%, tương ứng ).
Điều này thường được phân loại với những chứng đau cơ myalgies và những chứng đau khớp xương arthralgies thường thấy với thành phần paclitaxel và khó khăn để phân biệt như một thực thể riêng biệt.
Những bệnh nhân trong những thử nghiệm đầu tiên với thành phần paclitaxel cũng đã được chữa trị trước mạnh hơn và có nhiều chỗ di căn métastases, những tác nhân cũng có thể góp phần làm cho mệt mõi fatigue.
● Da peau và tóc cheveux :
Toàn bộ chứng rụng tóc alopécie totale của cơ thể được quan sát với paclitaxel và xảy ra khoảng từ 10 đến 14 ngày sau khi bắt đầu chữa trị.
Những thay đổi của da peau và những móng ongles bao gồm một da khô peau sèche, những lằn gợn sóng của móng crêtes d'ongles và một bong tróc móng onycholyse.
Hiện nay, những taxanes được phân loại như một chất kích ứng irritants, nhưng nếu nó được phóng thải ra ngoài extravasés, nó hiếm khi kết hợp với một loét ulcération.
Không có thuốc giải độc antidote đặc biệt nào đã được xác định để giúp quản lý của sự phóng thải extravasation của những taxanes.
● Phù nề oedème :
Một số ít của những bệnh nhân nhận thành phần paclitaxel đã được báo cáo một phù nề nhẹ léger œdème ngoại vi trong những thử nghiệm cho đến nay.
Sự tăng cân là một dấu hiệu đầu tiên của sự giữ nước cần phải được theo dỏi chặt chẽ sau mỗi lần điều trị.
Một chữa trị sớm với những thuốc lợi tiểu diurétiques dường như có hiệư quả để giới hạn mức độ nghiêm trọng của độc tính toxicité.
Những bệnh nhân mắc phải chứng bệnh suy tim insuffisance cardiaque sung huyết congestive hoặc những điều kiện khác đi kèm theo cần thiết phải có một sự giám sát đặc biệt của những hiệu quả này.
● Tim mạch Cardiovasculaire :
Bệnh nhịp tim đập chậm bradycardie không triệu chứng asymptomatique là sự biểu hiện tim mạch cardiaque phổ biến nhất của nhiễm độc tính toxicité của thành phần paclitaxel và nó ước tính 30 % ở những bệnh nhân.
Những nhịp tim đập nhanh bradyarythmies nghiêm trọng nhất và những ngăn chận tim blocages cardiaques cũng đã được báo cáo, nhưng ít thường xảy ra.
Những bệnh nhân có những tiền sử rối loạn nhịp tim đập troubles du rythme cardiaque hoặc những bệnh nhân đang dùng thuốc có thể dẫn đến những hiệu quả này, phải được theo dỏi chặt chẽ.
● Dạ dày-ruột gastro-intestinal :
Những hiệu quả tiêu hóa dạ dày-ruột gastro-intestinaux của những taxanes nói chung tối thiểu và bao gồm :
- những buồn nôn nhẹ nausées légères,
- viêm niêm mạc mucites,
- tiêu chảy diarrhée,
- và nâng cao những xét nghiệm của chức năng gan hépatique.
Những truyền dịch ngâm trong nước đun sôi infusion kéo dài của paclitaxel liên kết với một sự gia tăng của niêm dịch mucosité và tiêu chảy diarrhée.
Vài trường hợp viêm ruột entérocolite giảm bạch cầu trung tính neutropénique ( bệnh sưng đầu ruột typhlite) đã được báo cáo sau khi quản lý dùng paclitaxel với một liều mạnh hoặc kết hợp với thuốc doxorubicine hoặc thuốc cyclophosphamide.
● Phản ứng quá mẫn hypersensibilité
Những phản ứng quá mẫn hypersensibilité đã được quan sát với paclitaxel, từ một phát chẩn nhẹ ở da éruption cutanée légère với những phản ứng phản vệ réactions anaphylactiques nặng và thường đi kèm với một hạ huyết áp hypotension.
Người ta nghĩ rằng là do bởi những phương tiện trong đó những thuốc được hòa tan, tuy nhiên, không để ý đến một sự đóng góp của chính những loại thuốc.
Sự kéo dài những truyền dịch ngâm trong nước đun sôi infusion và thêm tiền sử prémédication ( thường được thực hiện bởi Bác sỉ gây tê trước 1 hoặc 2 giớ trước khi làm phẩu thuật gây tê tổng quát hoặc tại chổ ) với những corticostéroïdes, những thuốc đối kháng antagonistes H 1 và H 2, đã giúp làm giảm tỹ lệ của những hiệu quả không mong muốn nầy ít nhất 3% với thành phần paclitaxel.
Theo dỏi chặt chẽ trong những thời gian 30 đến 60 phút đầu của truyền dịch ngâm trong nước đun sôi infusion đã chứng minh là phù hợp bởi vì phần lớn những phản ứng xảy ra trong những 10 phút đầu của truyền dịch infusion.
Nếu một bệnh nhân có một phản ứng dị ứng allergique với thành phần paclitaxel, một thử nghiệm được lặp lại như trước réexposition đã được thực hiện với một sự thành công bằng cách sử dụng một phát đồ tiền sử prémédication nghiêm ngặt hơn và / hoặc làm chậm dòng chảy dịch truyền infusion;
Tuy nhiên phương pháp này được lập lại réexposition đã thất bại ở một số nhất định bệnh nhân.
● Chất độc học Toxicologie :
▪ Nếu người ta loại bỏ những tử y màu đỏ arille rouge, hầu hết những bộ phận của Cây đều có độc vénéneuse. Sau khi ăn vào, những triệu chứng như :
- chóng mặt étourdissement,
- miệng khô bouche sèche,
- giản đồng tử mydriase,
- và đau bụng quặn crampes abdominales
phát triển nhanh chóng.
▪ Một nổi chẩn éruption có thể xuất hiện, và da peau có thể trở nên nhợt nhạt và tím tái cyanotique.
▪ Chứng nhịp tim đập chậm bradycardie, hạ huyết áp hypotension và khó thở dyspnée có thể đi kèm theo hôn mê coma, dẫn đến tử vong bởi sự suy hô hấp insuffisance respiratoire hoặc suy tim cardiaque.
▪ Một số tử vong ở những người đã được báo cáo tiếp theo sau ăn phải Cây Thanh tùng Taxus baccata hoặc trà thé được pha từ Cây Thanh tùng Taxus baccata.
▪ Quản lý dùng phần đoạn kháng thể anticorps FAB đặc biệt của digoxine đã liên kết với sự cải thiện của những bất thường của sự dẫn truyền tim cardiaque tiếp theo sau khi ăn lá và những quả mọng của Cây Thanh tùng Taxus baccata.
Những biện pháp thông thường để hỗ trợ cũng đã được đề nghị để quản lý của sự ngộ độc intoxication bởi Cây Thanh tùng Taxus baccata.
Dạ dày phải được rửa sạch làm trống và than bùn được dùng. Chữa trị bệnh nhân có triệu chứng.
Ứng dụng :
● Sử dụng y học :
▪ Sử dụng trong chữa trị y học, cho :
- ung thư vú  cancer du sein
- ung thư buồng trứng cancer des ovaires
- ung thư phổi cancer poumon
- vết rắn cắn morsures de serpent
- cục máu đông caillots sanguins
- bệnh dại rage
- những bệnh liên quan với những vết thương loét plaies
- chứng sợ nước hydrophobie ( bệnh dại rage),
- và những bệnh tim mạch affections cardiaques,
- và như một thuốc gây sẩy thai abortifascient.
Nó cũng được biết có chứa chất taxol của một thuốc :
- chống ung thư anti-cancer,
nhưng nó không được khai thác  rộng rãi của sự liên quan này (Hartzell 1991).
▪ Với những lợi ích đặc biệt cho sức khỏe, nó được đề nghị mạnh với những phu-nữ mất cân bằng kích thích tố nội tiết hormone của sự tiêu dùng những trái Cây.
cái này giúp giảm thiểu và cho phép họ có một cuộc sống bình thường và lành mạnh.
▪ Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique được chế tạo từ những chồi non và những quả mọng baies.
Nó được sử dụng trong chữa trị nhiều bệnh, bao gồm :
-  viêm bàng quang cystite,
- phát chẩn, phun mủ éruptions,
- những đau đầu maux de tête,
- những vấn đề tim mạch problèmes cardiaques
- và thận rénaux,
- những thấp khớp rhumatismes, v...v....
● Sử dụng khác :
▪ Hiện nay, sự sử dụng chủ yếu như là một cây cảnh ornementale.
Nhiều giống cây trồng hiện có và đây là một đề tài thích thú cho :
- những nghệ thuật cắt tĩa cây topiaires cây cảnh.
▪ Rất dung nạp với những kích thước, Cây nầy làm thành những hàng rào sống rất tốt.
▪ Những Cây Thanh tùng Taxus baccata thường được sử dụng trong những công trình cắt tỉa topiaires và thậm chí khi nó khá già, những cây có thể được cắt thành cây gỗ già và sẽ mọc lại.
▪ Một báo cáo chỉ ra rằng những Cây lên đến 1000 năm tuổi đáp ứng tốt việc cắt tỉa.
▪ Một nước nấu sắc của lá được sử dụng như thuốc trừ sâu insecticide.
▪ Một số giống cây trồng có thể được trồng như một lớp phủ mặt đất khi Cây cách nhau khoảng cách 1 m hoặc hơn mỗi cạnh.
▪ Gỗ, nặng, cứng, bền, đàn hồi, dùng đánh bóng rất tốt.
Rất được đánh giá cao bởi những người chế dồ dùng nội thất ébénistes, nó cũng được sử dụng cho những cung, những cán dụng cụ ...v...v...
▪ Gỗ làm củi đốt tốt.
Gỗ đốt như một nhang hương encens.
● Sử dụng dân tộc ethnobotanique :
▪ Nhiều dụng cụ bằng gỗ được biết đến là một cây giáo bằng gỗ Cây Thanh tùng, lâu đời nhất khoảng 50 000 năm tuổi của Clacton-on-Sea, ở Anh Angleterre.
▪ Những cuộc khai quật khảo cổ archéologiques đã được tìm thấy những Cây cung và những cây dao bằng gỗ Cây Thanh tùng Taxus baccata, tìm thấy trong những căn nhà cổ ở Thụy sỉ cách đây 10 000 năm tuổi.
▪ Về mặt lịch sử, những Cây cung bằng gỗ Cây Thanh tùng Taxus baccata là khí giới của được ưa chuộng để săn bắn và chiến tranh trong hầu hết những bộ phận của Châu Âu cho đến khi phát minh ra súng lửa.
Cây Thanh tùng Taxus baccata cũng được dùng một cách ít trực tiếp như một chất độc poison, sử dụng để ám sát assassinat, tự tử suicide, như chất độc tẩm độc mũi tên flèche, và để thuốc độc bắt cá và bắt động vật có vú mammifères.
▪ Do độ cứng của gỗ dureté, nó được sử dụng cho những navettes, những pignons, những essieux và những poulies.
▪ Gỗ Cây Thanh tùng Taxus baccata có màu sắc ( lõi gỗ bois de cœur màu đỏ rouge, dát gỗ aubier màu trắng ) được sử dụng cho những kệ nội thất, những chén bát bols, những bể chứa chopes, những lược peignes, những cán dụng cụ poignées d'outils, những chốt piquets và những đồ vật nghệ thuật khác nhau.
Thực phẩm và biến chế :
Bộ phận ăn được : Trái.
Trái, ăn sống.
▪ Rất ngọt và có chất keo nhầy gélatineux, một số người tìm thấy nó rất ngon mặc dầu những người đó có vẽ như bệnh hoạn maladif.
Một người thích hương vị, không thích cấu trúc thường mô tả như là “ khờ dạy snotty”
Tất cả những bộ phận khác của Cây này, bao gồm  những hạt, là độc hại cao toxiques.
▪ Khi ăn những trái, người ta phải khạc nhổ những hạt lớn ra, nó được tìm thấy ở trung tâm của trái.
Nếu nuốt phải một hạt nguyên, nó trực tiếp đi qua không tổn hại.
( Cập nhật :  đây có thể là không đúng sự thật, hệ thống tiêu hóa système digestif của phần lớn  những loài hữu nhủ mammifères, bao gồm loài người, đủ mạnh để phá vở để phân hủy những hạt. Điều này sẽ phóng thích ra hóa chất taxanes độc hại.
▪ Những loài chim có khả năng ăn tất cả quả mọng (bởi vì nó không có thể tiêu hóa những hạt).
Tuy nhiên, nếu bị cắn vào, người ta sẽ nhận thấy một hương vị rất đắng amèrehạt phải tức khắc khạc nhổ ra hoặc do những vấn đề khác.
▪ Một số nhất định những báo cáo cho thấy sự sử dụng vỏ như để thay thế trà thé, điều này có lẽ là rất táo bạo ( nguy hiểm, độc ).

Nguyễn thanh Vân

jeudi 16 novembre 2017

Trẩu xoan - Candle Nut

Candle Nut
Trẩu xoan
Aleurites moluccanus - (L.) Willd.
Euphorbiaceae
Đại cương :
Việt Nam : Trẩu xoan, Lai.
Tàu : Shi li, He shi li.
Pháp : Bancoulier des Moluques, Noix de bancoul, Noyer de bancoul, Noyer des Moluques.
Đức : Candlenuß, Bankulnußbaum, Lichtnußbaum.
Hawaï : Kukui.
Nhật Bản : Kukui nattsu, Kukui noki.
Mã Lai : Buah keras, Kemiri.
Bồ đào nha : Nogueira de Iguape (Brazil), Noz da India, Noz-molucana.
Tây ban nha : Avellano criollo, Calumbán, Camirio, Lumbán, Nuez de bancul, Nuez de candelas.
Thái : Ma yao, Phothisat, Pu rat.
● Nguồn gốc và sự phân bố địa lý
Nguồn gốc của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus không được biết chính xác, nhưng nó được phân bố trong Ấn Độ Inde và Tàu, trong tất cả những vùng Đông Nam Á Asie du Sud-Est, đến Polynésie và Tân Tây Lan Nouvelle-Zélande.
Nó được du nhập để trồng trong nhiều nước vùng nhiệt đới trên khắp thế giới.
Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus mọc chủ yếu trên những vùng đất có sự thoát nước tốt, ẩm và có độ acides thấp nhẹ. Nó có thể đạt đến độ cao 1200 m (3900 ft.) Nhưng gần đường xích đạo équateur, chúng chỉ đạt được đến 700 m (2300 ft.)
Hawaii. Nó thường mọc trong những môi trường có độ ẩm trung bình mésiques, nhưng dường như nó không bị ảnh hưởng bởi những mô hình của những lượng nước mưa khác nhau variations de la pluviométrie, nhiều hơn càng tốt, nên nó thường mọc ở gần những dòng suối.
Thông thường nó phát triển trong những vùng nơi đây có lượng nước mưa trung bình pluviométrie moyenne hằng năm là 640-4290 mm và trong trung bình của 1940 mm (Elevitch và Manner, 2006).
Tuy nhiên, nó có thể chịu đựng dung lượng nước mưa hằng năm chỉ 200 mm trong Indonésie  và một khi đã đạt đến mức trưởng thành Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus chịu đựng tốt trong tình trạng hạn hán (Krisnawati và al., 2011).
Nó mọc trong những vùng nơi đây có nhiệt độ trung bình hàng năm là 19-27 ° C và có thể chịu đựng được nhiệt độ dưới 8 ° C (Elevitch và Manner, 2006).
▪ Môi trường sống của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus ở những rừng nhiệt đới, rừng mưa gió mùa hoặc khu rừng lớn thứ cấp tiến triển cao hơn, sự phát triển trên những sườn dốc núi, rất phong phú trên những rặng núi, đôi khi trong những vùng đất cát giữa những vùng đá hoa cương granit, những vùng  đá vôi limoneux hoặc trên những vùng đất canh tác củ xưa ở những độ cao dưới 300 m so với mực nước biển.
▪ Về phương diện sinh thái học
Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus thường gặp trong những vùng khô hạn hơn ở khu vực Đông Nam Á.
Trong những nơi ẩm ướt hơn, người ta tìm thấy tự nhiên trong những nơi đặc biệt, như là những nơi đất cát thoát nước tốt gần bờ biển và trên những những vùng đá vôi, nhưng nó cũng hiện diện trong những khu rùng hỗn hợp và những khu rừng gỗ giá tị teck ( Tectonia grandis ), ở những độ cao lên đến 1200 m so với mực nước biển.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Đại mộc, đơn phái, có lá rụng sớm, cao trung bình đạt khoảng 20 m, với một đường kính đến 90 cm. Nó có một tàng cây lớn tỏa rộng và thường có những nhánh không đều nhau, mở rộng và rủ xuống phía dưới đất.
Cây phân biệt từ xa do màu sắc xanh bạc của những (Scott và Thomas, 2000). Màu bạc nhạt này là do bởi một lớp dầy của những lông hình sao trắng, nhất là ở những phần non của những nhánh và những lá, lớp này giảm theo tuổi già của .
Vỏ cây màu xám, thô với những bỉ khổng lenticels giúp trao đổi không khí với tế bào bên trong.
, mọc cách, có hình dạng rất khác biệt nhưng cũng khá khác nhau về hình thái học ở dạng thô, những lá non và những lá trên những nhánh bên dưới có phiến xoan thon, thường có 3 đến 5 thùy hình tam giác ở nhánh non đầy lông hình sao, đỉnh nhọn, trong khi những lá già hơn và trên những nhánh bên trên có khuynh hướng hình tam giác hay bầu dục đơn giản hơn, những bìa lá có dợn sóng. Khi cuống lá nối tiếp phiến lá có 2 tuyến ở chót bên trên màu xanh nâu, sản xuất ra những chất tiết ngọt, dài khoảng 30 cm.
Phát hoa, chùm tụ tán ở chót nhánh bên trên, mỗi tụ tán khoảng từ 10 – 15 cm dài.
Hoa, thơm, đơn phái, mang trên những cuống hoa nhỏ, gồm có hoa đực và hoa cái. Mỗi hoa cái được bao chung quanh bởi nhiều hoa đực nhỏ màu trắng.
Hoa đực, nhiều hơn, nhỏ hơn, mở ra sớm hơn, đính chung quanh hoa cái, thành chùm, có 15-20 tiểu nhụy, đính thành chuổi 3-4, những tiểu nhụy bên ngoài rời, những tiểu nhụy bên trong kết nối với nhau.
- đài hoa 2-3 thùy tại lúc nụ hoa nở.
- cánh hoa 5, hình mủi dáo từ 6-7 mm dài ở những hoa đực và 9-10 mm ở những hoa cái, có những tuyến đĩa mật 5.
Hoa cái, đính ở ngọn của chùm gồm :
- cánh hoa 5, màu trắng kem, rời,
- bầu noãn 2-4 tâm bì, có lông tơ, vòi nhụy chẻ hai sâu.
Trái, cứng, nang xoan tròn, hơi dẹp, 2 buồng, to khoảng 5-6 x 4-7 cm, bên trong chứa 2 hạt hoặc nửa quả trứng semiglobose và 1 hạt 5-6 cm x 4-7 cm, có lông, không khai, màu xanh lá cây olive bao quanh của một lớp bột nạt mỏng trắng.
Hột, chứa trong một vỏ cứng, giống như một quả óc chó, có bì dày 1-1,5 mm, nội quả bì dầy, cứng như đá.
Bộ phận sử dụng :
▪ Những và những trái của Cây được sử dụng trong y học truyền thống Châu Á, để chữa trị nhiều bệnh khác nhau.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Đặc tính hóa học :
▪ Cho một khẩu phần ăn được của 100 g, những hạt khô của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus, chứa :
- nước eau 5-8 g,
- những chất đạm protéines 8-22 g,
- chất béo lipides 60-62 g,
- đường glucides 7-18 g,
- những chất xơ thực phẩm fibres 2-3 g,
- tro cendres 3-4 g.
▪ Giá trị năng lượng khoảng 2675 kJ / 100 g.
Có rất ít hương vị của riêng nó, nó hình như ám chỉ «kemiri» hành động chủ yếu như :
- một chất tăng cường hương vị goût,
- làm cho vi thể vị giác của nó tạm thời nhạy cảm hơn.
▪ Thành phần chất béo (ép lạnh) là một dầu sấy khô siccative, màu vàng nhạt sáng, với một hương vị và mùi hương dễ chịu.
Khi người ta để lắng xuống, nó khô thành 1 lớp mỏng.
▪ Những đặc tính chánh là :
- một giá trị cao của chất iode (115-170 g / 100 g),
- và một giá trị của sự saponine hóa saponification cao (184-227 mg K par gramme của dầu ).
▪ Hàm lượng của :
- acides béo tự do rất thấp;
- những glycérides d'acides bảo hòa saturés hình thành 2%,
- và những glycérides d'acides không bảo hòa insaturés 96%
(acide oléique 40%, acide linoléique 48%, acide linolénique 8%).
▪ Độc tính toxicité vừa phải của những hạt đã được quy định cho một toxalbumine giống như ở Cây Cườm thảo Abrus Adans. và Cây Thầu dầu Ricinus L.
▪ Trọng lượng " hạt écrou" là từ 10-14 g; nó bao gồm của :
- vỏ cứng coquille (nội quả bì endocarpe) cho 65-70%,
- và hạt (nhân noyau) cho 30-35%.
Hạt Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus cho 57-80% dầu không ăn được non-comestible và bán-khô semi-siccative.
▪ Dầu chứa :
- một nhựa résin vị chát âcre, một nguyên chất tẩy xổ purgatif.
Dầu cho những acides béo thiết yếu gras essentiels :
- (acides linoléique và linolénique).
▪ Những nghiên cứu cho thấy :
- những stérols,
- flavonoïdes,
- và những triterpènes của những .
▪ Những trích xuất khác nhau của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus có chứa những hợp chất phénoliques, :
- n-hentriacontane,
- α-amyrine,
- β-amyrine,
- stigmastérol,
- β-sitostérol,
- và campestérol.
▪ Trích xuất dichlorméthane của vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus có chứa :
- 12-hydroxy-13-méthoxy-8,11,13-podocarpatriène-3-one (1),
- spruceanol (2),
- acide 3-acétylaleuritolique (3),
- những polyprenols,
- những triglycérides,
- và một hợp chất của β –sitostérol,
- và stigmastérol
trong 1 tỹ lệ 4 : 1.
▪ Nghiên cứu cho thấy một diester de phorbol mới :
- 13-O-myristyl-20-O-acétyl-12-désoxyphorbol,
Từ trích xuất benzénique của lõi gỗ bois de cœur của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus, cũng như với :
- hentriacontane,
- 6,7-diméthoxycoumarine,
- 5 , 6,7-triméthoxycoumarine,
- và β-sitostenone.
▪ Nghiên cứu những lá tươi và những thân Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus, cho tinh dầu thiết yếu bởi phân tích GC-MS đã cho sản lượng trong :
- dầu 0,12% v / w và 0,09% v / w, tương ứng.
▪ Những thành phần chánh của những Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus là :
- α-caryophyllène (10,29%),
- ß-cubébène (13,77%),
- và α-farnésène (13,27%).
▪ Những thành phần chiếm ưu thế của dầu của thân Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus là :
- thymol (43,93%),
- α-caryophyllène (15,16%),
- và 4-cyclohexybutyramide (20,94%).
Đặc tính trị liệu :
Candlenuβ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus là một thuốc truyền thống được sử dụng rộng rãi trong những đảo ở Thái Bình Dương îles du Pacifique.
▪ Một nghiên cứu đã đánh giá một trích xuất làm giảm những mức độ của cholestérol ở những động vật trong phòng thí nghiệm (Pedrosa và al., 2002).
▪ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus cũng được xem như có những hoạt động :
- kích thích khẩu vị bữa ăn stimulant l'appétit,
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- tẩy xổ purgative,
- chất kích thích stimulante,
- và làm đổ mồ hôi diaphorétique.
Nó cũng được sử dụng để chống lại :
- bệnh hen suyễn asthme,
- suy yếu faiblesse,
- những vết thương loét plaies,
như chống viêm anti-inflammatoire, cũng như để chữa trị :
- ung bướu khối u tumeurs,
- và những vấn đề tử cung utérins (Herbal Medicine Research Center, 2002).
▪ Những thận trọng phải có khi sử dụng của thảo dược này bởi vì nó đã có những báo cáo về tính độc hại toxicité của nó.
▪ Những Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus thậm chí là độc hại toxiques được sử dụng để chữa trị :
- táo bón constipation,
- và ngộ độc thực phẩm intoxication alimentaire.
Vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng để chữa trị :
- những vết thương loét plaies,
- ung bướu, khối u tumeurs,
- tiêu chảy ra máu diarrhée sanglante,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie.
▪ Những hạt Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus là :
- thuốc nhuận trường laxatifs,
- kích thích stimulants,
- và làm đổ mồ hôi sudorifiques.
Nhân hạt Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng như :
- thuốc kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Nước ép jus của nhân hạt noix Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng như phương thuốc  chống :
- những bệnh trĩ viêm loét piles,
- những trùng giun vers.
Hạt nhân Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được nghiền nát được sử dụng trong nhnữg thuốc dán đắp cataplasmes cho :
- đau đầu maux de tête,
- những bệnh sốt fièvres,
- loét ulcères,
- và sưng những khớp xương articulations enflées.
▪ Những nhân hạt, được ngâm trong dầu, được đặt trong hậu môn anus để :
- giảm những bệnh trĩ viêm loét piles.
▪ Tinh dầu của hạt nhân huile de noix của Kukui Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được xem như :
- thuốc nhuận trường mạnh fort laxatif;
đôi khi được sử dụng như dầu của hạt thầu dầu huile de ricin.
Dầu, chất kích thích được xoa chà trên da đầu cuir chevelu như để :
- kích thích chân tóc stimulant capillaire.
và như dầu xoa bóp huile de massage.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Những trái và những của Cây này được sử dụng trong y học truyền thống của những nước Á châu khác nhau để chữa trị những vấn đề của sức khỏe như là :
- đau đầu maux de tête,
- buồn nôn nausées,
- sốt fièvre,
- bệnh viêm inflammation,
- và bệnh lậu gonorrhée (Ostraff và al., 2000).
- thuốc nhuận trường laxatif,
▪ Ở Tonga, vô sinh infertilité ở những người phụ nữ được chữa trị bằng cách uống hằng ngày một nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Trẩu xoan.
Vô kinh aménorrhée thứ cấp cũng được chữa trị bởi một nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus.
▪ Ở Polynésie, trong nước súc miệng gargarisant với một nước ngâm trong nước đun sôi infusion của vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus, trong chữa trị :
- mụt đẹn trong miệng trẻ con muguet,
- đau cổ họng mal de gorge,
- viêm tuyến mang tai amiđan amygdalite,
- và những vết thương loét miệng plaies buccales
▪ Những người dân Polynésiens, từ lâu đã sử dụng dầu Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus như để :
- làm ẩm hydratant cho da peau.
▪ Ở Đảo Îles Cook và ở Tahiti, dầu của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng để làm một dầu xoa bóp cho một số loại nhất định của :
- đau đầu mal de tête (có thể do bởi một viêm màng não méningite).
▪ Trong Papouasie-Nouvelle-Guinée, những hạt Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được áp dụng bên ngoài cơ thể :
- những cơ quan sinh dục nam giới génitaux masculins như là một biện pháp ngừa thai contraceptif .
▪ Ở Philippines, trái và Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus theo truyền thống được biết dưới tên lumbang, sau đó Lumban, một thành phố ven hồ lacustre ở Laguna, được đặt tên.
Trước sự xâm nhập của loài không phải loài bản địa, nó thường được sử dụng như người quản lý của dòng đặc tính, bởi vì màu bạc bên dưới làm cho Cây dễ nhận diện được từ xa.
Philippines, những hạt Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng như :
- thuốc tẩy xổ nhẹ purgatif doux.
▪ Ở Madagascar và ở Réunion, những Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được hơ nóng với một kẹp sắt phẳng láng flatiron, được áp dụng liên tục ở những khớp xương articulations trong trường hợp :
- bệnh thấp khớp cấp tính rhumatisme aigu.
được sử dụng cho những rối loạn dạ dày troubles de l'estomac và ruột intestin ở những trẻ em mắc bệnh :
- hen suyễn asthme,
- hơi thở xấu hôi mauvaise haleine,
- những vết thương loét ở da plaies cutanées,
- và những loét ulcères,
cho :
- tử cung sưng phù utérus enflé,
và cho :
- trẻ trung hóa rajeunissement sau khi ngộ độc empoisonnement.
▪ Trong Ấn Độ Inde, dầu Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng như một băng pansement để áo bên ngoài :
- những loét ulcères.
▪ Trong Indonésie, dầu được áp dụng trên những tóc cheveux để :
- thúc đẩy sự tăng trưởng của những tóc croissance des cheveux.
▪ Trong y học truyền thống Punjab, được sử dụng cho :
- đau đầu maux de tête,
- những loét ulcères,
- sốt fièvres,
- tiêu chảy diarrhée,
- và hạ cholestérol hypocholestérolémie.
▪ Trong y học dân gian brésilienne, được sử dụng để chữa trị :
- sốt fièvre,
- những đau đầu maux de tête,
- những ung bướu khối u tumeurs,
- tiêu chảy diarrhée,
- và hen suyễn asthme.
▪ Ở Nhật Bản Japon, vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng cho :
- những ung bướu khối u tumeurs.
▪ Ở Java, vỏ được sử dụng cho :
- tiêu chảy ra máu diarrhée sanglante.
▪ Ở Sumatra, những hạt được đập nhỏ, đốt với than củi, được bao bọc chung quanh lỗ rốn nombril cho :
- những táo bón constipation.
▪ Trong Malaisie, những Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus luộc được áp dụng cho :
- những đau đầu maux de tête,
- và bệnh lậu gonorrhée.
▪ Trong Malaisie, nhân hạt được đập hoặc luộc chín, được sử dụng trong những thuốc dán đắp cataplasmes cho :
- những đau đầu maux de tête,
- sốt fièvre,
- những loét ulcères
- sưng những khớp xương articulations enflées.
▪ Ở Java, vỏ được sử dụng cho :
- tiêu chảy ra máu diarrhée sanglante,
- hoặc kiết lỵ dysenterie.
Nước ép jus của vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus với nước dừa lait de coco được sử dụng cho :
- bệnh sprue.
một bệnh tiêu chảy ở xứ nóng sprue, bệnh của ruột non gây giảm sự hấp thu thực phẩm.
▪ Trong Australie, thổ dân bản địa aborigènes cũng được sử dụng với những mục đích tương tự.
Nghiên cứu :
● Hoạt động chống loài côn trùng mối anti-termite :
Một nghiên cứu trên loài mối Formose (Coptotermes formosanus) cho thấy rằng gỗ được xử lý với dầu đề kháng với hư hao do bởi những loài mối termites khi gỗ chứa nhiều hơn 27% dầu kukui bởi trọng lượng.
Những kết quả chỉ ra rằng dầu hành động chánh như một phương tiện chống sự ăn mòn và nó không như một yếu tố độc hại toxique.
● Flavonoïde 2 "-O-rhamnosylswertisine / chống dẫn truyền cảm giác đau antinociceptif :
Nghiên cứu đã đánh giá một trích xuất khô của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus và thành phần flavonoïde được phân lập :
- 2 "-O-rhamnosylswertsin
trên những mô hình khác nhau của tình trạng :
- viêm inflammation không lành,
- và đau nhức thần kinh douleur neuropathique ở chuột,
chữa trị uống với trích xuất và thành phần được phân lập, làm giảm di chuyển bạch cầu trung tính neutrophiles và mức độ IL-1ß tiếp theo sau tiêm vào của carraghénane.
● Podocarpane Trinorditerpénoïdes / Gây độc tế bào Cytotoxicité :
Nghiên cứu những nhánh cành và những của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus đã cho 3 chất 3,4-seco-podocarpane mới của loại trinorditerpenoïdes :
- acide moluccanique (1),
- ester méthylique de l'acide moluccanique (2),
- và acide 6,7-déhydromoluccanique (3).
Trong những nghiên cứu của tính gây độc tế bào cytotoxicité, 1-3 đã cho thấy một hoạt động yếu chống lại dòng tế bào ung thư bạch huyết lymphome của Burkitt, trong khi thành phần (2) cho thấy một hoạt động gây độc tế bào cytotoxique vừa phải chống lại HepG2 ( ung thư biểu mô carcinome tế bào gan hépatocellulaire) dòng tế bào người.
● Chữa lành bệnh những vết thương loét plaies / vỏ :
Nghiên cứu đã đánh giá hoạt động của hoa sẹo lành vết thương cicatrisation của vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus trong 3 loại mô hình của chuột cụ thể là :
- cắt bỏ excision,
- rạch incision,
- và mô hình phỏng cháy brûlure.
Những kết quả cho thấy một hoạt động hóa sẹo lành vết thương cicatrisation của những vết thương loét plaies đáng chú ý, so sánh với thuốc tiêu chuẩn nitrofurazone về phương diện khả năng của :
- sự co thắt của vết thương loét plaie,
- thời gian khép lại của vết thương loét plaie,
- và sức căng tensile strength.
● Kháng khuẩn antibactérien :
Những trích xuất Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus cho thấy một hoạt động ức chế chống những vi khuẩn Staphylococcus aureus và Pseudomonas aeruginosa.
Nghiên cứu cũng khảo sát hoạt động kháng khuẩn antibactérienne của :
- thành phần acétonitrile,
những trích xuất  của vỏ, của vỏ thân chống 8 chủng lâm sàng isolats cliniques.
Hành động kháng khuẩn antibactérienne là thuốc diệt khuẩn bactéricide cho tất cả những vi khuẩn bactéries ngoại trừ Streptococcus pyogenes nơi đây nó là tĩnh khuẩn bactériostatique ( một hiện tượng hoạt một chất đặc biệt thuốc kháng sinh có thể ức chế sự nhân giống mà không giết chết chúng ).
Hàm lượng cao nhất của polyphénols đã được tìm thấy trong trích xuất méthanol của vỏ thân.
α, β-Amyrenone / Chống viêm Anti-Inflammatoire / Chống quá nhạy cảm Antihypersensibilité :
Một hỗn hợp của α, β-amyrenone đã được phân lập từ một phần đoạn của dichlormethane của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus và được đánh giá bằng cách sử dụng một phù nề œdème của chân chuột gây ra bởi chất carragénine hoặc một chứng viêm màng phổi pleurésie và của những mô hình viêm khớp arthrite gây ra bởi CFA (complete Freund's adjuvant) ở chuột.
Những kết quả cho thấy rằng α, β-amyrénone ngăn cản với những quá trình viêm cấp tính inflammatoires aigus và mãn tính chroniques, một phần, bởi một sự giảm của sự di chuyển của những bạch cầu trung tính neutrophiles.
Nó cho thấy rằng α, β-amyrenone có thể là một công cụ điều trị mới có thể sử dụng được trong những bệnh đau nhức douloureuses và viêm inflammatoires.
● Chống dẫn truyền cảm giác đau Antinociceptive / Chống viêm Anti-Inflammatoire / chữa lành những vết thương Guérison des plaies / hoá chất thực vật phytochemicals :
▪ Nghiên cứu của một công thức bán rắn semi-solide chứa từ 0,5 đến 1,0% của trích xuất sấy khô bảo hòa saturé được tìm thấy có hiệu quả cho việc sử dụng tại chỗ trong chữa trị đau nhức douleur, viêm inflammation và hóa sẹo lành vết thương cicatrisation.
▪ Nghiên cứu trên một trích xuất sấy khô bởi phun sương pulvérisation ( spray dried extract SDE) của được phân lập :
- flavonoïdes swertisin,
- và 2 '' - O-rhamnosylswertisin
có hiệu quả trong sự ức chế của đáp ứng mức độ cao của sự truyền càm giác đau hypernociceptive gây ra bởi chất carraghénane.
▪ Nghiên cứu đánh giá những trích xuất khác nhau được bào chế từ lá của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus cho hoạt động giảm đau analgésique bằng cách thử nghiệm sự co giật convulsion ở chuột.
Những thành phần đã ức chế những sự co thắt constrictions vùng bụng gây ra bởi acide acétique, hiệu quả nhiều hơn thuốc aspirine và paracétamol.
Những kết quả cho thấy một hành động chống dẫn truyền cảm giác đau antinociceptive mạnh.
● Hiệu quả trên hồ sơ chuyển hóa chất biến dưởng profil métabolique / gây xơ vữa athérogène / hạt :
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của những hạt trong hồ sơ sinh hóa biochimique và nhân trắc học anthropométrique và chất béo nội tạng graisse viscérale của những chuột Wistar.
Những kết quả không cho thấy một sự can thiệp nào trong :
- trọng lượng cơ thể,
- chất béo nội tạng graisse viscérale,
- đưòng máu glycémie,
- tổng số cholestérol cholestérol total,
- cholestérol xấu LDL-c,
- cholestérol tốt HDL-c,
- và những đường mỡ triglycérides.
Tuy nhiên, có một sự gia tăng của những chỉ số gây xơ vữa động mạch athérogènes.
Nghiên cứu cho thấy rằng những hạt không mang lại lợi ích nào cho sức khỏe so với sự sử dụng trích xuất lá và đề xuất một nghiên cứu của sự sử dụng của nó để tránh những hiệu quả không mong muốn xảy ra.
● Chống viêm Anti-Inflammatoire / Giảm sốt Antipyrétique :
Nghiên cứu trên trích xuất méthanolique của những lá khô Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus ngăn chận đáng kể một sự gia tăng khối lượng phù nề œdème của chân của một cách với liều phụ thuộc.
Nó cũng gây ra một hiệu quả giảm sốt antipyrétique.
Những kết quả chứng minh sự sử dụng y học dân tộc của thảo dược.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Độc tính Toxicité :
Bởi vì những hạt có chứa chất saponinephorbol, nó là một chất độc hại nhẹ khi nó ở trạng thái thô.
Tuy nhiên, dầu của hạt kukui Cây Trẩu xoan không có độc tính nào toxicité được biết và không có gây một sự kích ứng nào, thậm chí cho những mắt yeux.
Hạt sống ăn được, nhưng trước đó phải được sấy khô thật kỷ để tiêu hủy những thành phần độc hại toxique như là chất cyanure.
- cho nên những hạt sống là độc hại toxiques, nhưng những hạt nấu chín có thể ăn với tiện tặn parcimonie, đặc biệt như một gia vị. Một loại được tìm thấy ở Vanuatu không có hiệu quả độc hại toxique rõ ràng.
Ứng dụng :
● Ứng dụng y học :
▪ Ngoài ra nước nấu sắc décoction của vỏ được sử dụng để chữa trị :
- vô sinh infertilité ở những người phụ nữ,
- và vô kinh aménorrhée thứ cấp,
▪ Một nước nấu sắc décoction của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng trong chữa trị :
- ho toux,
- tiêu chảy diarrhée,
- đau nhức ngực douleurs thoraciques,
- và những thoát vị hernies.
▪ Mặt khác, ngâm trong nước đun sôi infusion của những được sử dụng như một dung dịch dưởng da lotion hoặc ăn vào để chữa trị :
- những nhiễm trùng miệng infections de la bouche của trẻ sơ sinh muguet,
- đau cổ họng mal de gorge,
- viêm tuyến mang tai amidan amygdalite
- và những vết thương loét ở miệng plaies de la bouche.
▪ Những cũng có thể được luộc chín và được sử dụng như thuốc dán đắp cataplasme để chữa trị :
- bệnh lậu gonorrhée,
- và đau đầu maux de tête.
▪ Nước ép jus của vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus, với nước dừa lait de coco, được sử dụng để chữa trị :
- bệnh tiêu chảy ở xứ nóng sprue, bệnh của ruột non gây giảm sự hấp thu thực phẩm.
▪ Những bột pulpèes của hạt nhân được sử dụng trong thuốc dán đắp cataplasmes để chữa trị :
- những đau đầu maux de tête,
- sốt fièvres,
- những loét ulcères,
- sưng những khớp articulations enflées,
- và táo bón constipation,
Vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được sử dụng để chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
● Những sử dụng :
▪ Dầu béo huile graisseuse (dầu lumbang) được sử dụng trong công nghiệp ( sơn peintures, vernis, vải bố tráng lớp dầu trải sàn nhà linoléum, chế tạo savon, bảo quản gỗ ), để chiếu sáng (đèn dầu, đèn cầy bougies)
và thuốc ( tẩy xổ nhẹ purgatif doux, làm đau đớn embrochage cho dây thần kinh tọa sciatique, chống rụng tóc perte de cheveux).
▪ Không dùng để nấu ăn .
▪ Dầu cũng được sử dụng trong kỹ nghệ vải sơn batik.
Để  chiếu sáng, những hạt nhân chất béo có thể được để đốt cháy brûlées để chiếu sáng hoặc đập nát và chế biến thành đèn cầy bougies.
▪ Trong Indonésie, bánh dầu tourteau dư thừa đôi khi được chế biến thành thức ăn nhẹ casse-croûte được gọi là "dage kemiri": bánh dầu tourteau được đập nhỏ, ngâm trong 48 giờ trong dòng nước chảy, nấu chín bằng hơi nước và lưu trử trong 48 giờ trong những nơi bóng tối để lên men ( được bao phủ bởi một lá chuối với một trọng lượng bên trên để ép chất lỏng còn lại ra hết ).
Bánh dầu tourteau là một phân bón hữu cơ engrais organique rất tốt giàu chất  N và P, nhưng không phải như là thức ăn cho gia súc do hiện diện những hiệu quả độc hại toxiques của nó.
▪ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus là một cây thường được trồng trong những làng mạc, và cũng được sử dụng để trồng rừng reboisement.
Nó mọc tốt trong những cánh đồng bị nhiễm với những lau sậy carex và có thể giúp loại bỏ những cỏ dại.
▪ Gỗ khá nhẹ và không bền.
Mặc dù không sử dụng để xây dựng, nó được sử dụng để chế tạo bbể chế tạo những đồ dùng nội thất, những vật dụng nhỏ và những viêm quẹt nơi đây nó dồi dào. Nó phù hợp để chế tạo bột giấy.
● Sử dụng khác :
▪ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus tăng trưởng nhanh vừa phải, chịu đựng được gió mạnh và ánh nắng mặt trời đầy đủvà với nhiều ứng dụng, đây là một loài rất tốt để sử dụng như một loài đi tiên phong để tái tạo lại những khu rừng bản địa  và thành lập những khu vườn rừng cây, nhưng khả năng của nó để được tịch hóa trong những khu vực mới mà không sử dụng ngoài những khu vực nơi đây đã được thiết  lập.
▪ Nó thường trồng như những hàng rào sống hoặc như một ranh giới.
Hạt Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus cho 57-80% của dầu không ăn được, bán khô semi-siccative, chất lỏng ở nhiệt độ bình thường, đông đặc ở -15 ° C, chứa acide oléostéarique.
Dầu khô nhanh hơn dầu lin, có một loạt sử dụng rộng, được sử dụng trong những áp dụng như là :
- một yếu tố để bảo quản gỗ,
- cho những vernis,
- và dầu sơn huiles de peinture;
- như dầu để đốt sáng illuminant;
- để chế tạo savon;
- sản phẩm mỹ phẩm,
- chế tạo linoléum;
- giấy không thấm nước imperméabilisant;
- chất thay thế cao su caoutchouc;
- và vật liệu cách điện matériau isolant.
▪ Nó có thể sơn trên những mặt bằng của những hàng thủ công nhỏ để bảo vệ chống lại những dàn khoan biển foreurs marins.
 và cũng ngăn ngừa thực phẩm bởi những loài bọ hung làm trầy sọc những trái dưa chuột.
▪ Những sản lượng của dầu đạt được khoảng 300 kg / ha đã được báo cáo.
▪ Nó được sử dụng trong những dầu sơn, chế tạo savon và như dầu đốt đèn lampe.
▪ Một màu sơn đỏ-đồng thu được từ cây ( hạt ?) được sử dụng để trang trí vải.
▪ Bột của hạt được sử dụng như chất bổ trợ trong chế tạo đường cọ sucre de palme.
Vỏ Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus chứa khoảng từ 4 đến 6% chất tanin.
Gỗ trắng nhạt hạt mịn, nhẹ, mềm, không bền, dễ bị tấn công bởi những loài mối termites.
▪ Nó được sử dụng làm đồ dùng nói chung, chế tạo ván ép.
▪ Những người Hawaï Hawaïens cũng có nhiều sử dụng khác cho thảo dược này, nhất là :
- vòng hoa leis ( một vòng hoa của người dân Polynesian ) từ những vỏ của hạt coquilles, những và những hoa,
- mực cho trên những hình xăm tatouages ​​từ những hạt nhân đốt cháy thành than carbonisées;
- một vernis với dầu,
- và những ngư dân sẽ nhai những hạt noix và nhổ ra trong nước để phá vỡ sức căng bề mặt và loại bỏ những phản xạ, cho họ có một tầm nhìn lớn hơn dưới nước.
- một chất màu nhuộm đỏ nâu được chế tạo từ vỏ trong của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus đã được sử dụng trên kapaaho (dây thừng Touchardia latifolia).
Một lớp phủ của dầu kukui Cây Trẩu xoan giúp bảo vệ 'upena ( lưới đánh cá filets de pêche).
▪ Trong Hawaï cổ đại, những hạt nhân noix của kukui Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được đốt cháy để cung cấp ánh sáng.
Những hạt nhân đã được xâu thành chuổi trên một một gân chánh của Cây cọ palmier, thắp sáng ở một đầu và đốt cháy từng hạt một tất cả trong khoảng 15 phút.
Điều này dẫn đến sự sử dụng của nó như một thước đo thời gian.
Những người Hawaïens cũng ly trích dầu hạt nhân noix và được đốt trong một đèn dầu bằng đá được gọi là kukui hele po (ánh sáng, những bóng đêm đi lumière, les ténèbres vont) với một tim bấc bằng vải tissu kapa.
▪ Trong thời hiện đại trồng trọt chủ yếu cho dầu. Trong những đồn điền, mỗi Cây sản xuất 30-80 kg (66-176 lb) hạt nhân, và những hạt nhân noix cho từ 15 đến 20% trọng lượng của chúng trong dầu huile.
Phần lớn những dầu được sử dụng tại địa phương hơn là dưới hình thức thị trường thương mại quốc tế.
▪ Trong Ouganda, hạt được gọi là kabakanjagala có nghĩa là « vua yêu thương tôi roi m'aime» và theo truyền thống được sử dụng như một đồ chơi ngẩu hứng để chơi một trò chơi viên bi dễ thương gọi là dool (oo).
▪ Ở Fidji, nhân hạt được gọi là «sikeci» và dầu của nó được sử dụng trong những sản phẩm mỹ phẩm cosmétiques.
Thực phẩm và biến chế :
Phần ăn được : Nhân, Hạt, Nhân hạt, Rau cải.
Hạt - nấu chín. Hạt được rang được chỉ tiêu thụ trong một số lượng nhỏ, bởi vì người ta nói rằng với số lượng lớn là :
- nhuận trường laxatives.
▪ Sau khi gở bỏ lớp vỏ ngoài cứng, hạt có thể được đập vở cho vào trong món ăn và tiêu dùng như sốt sauce.
Hạt cũng có thể rang, đập bể, trộn với những thành phần khác hoặc sử dụng trong những món ăn cà ri currys.
Hạt, là một gia vị không thể thiếu trong nấu ăn indonésienne, nơi đây nó được biết dưới tên “ kemiri ”. Nó có ít hương vị, nhưng hành động chánh như tăng cường hương vị, thêm vào nhiều món ăn trong số lượng nhỏ, sống, hoặc rang trong thời gian ngắn, đập vỡ và pha trộn với những thành phần khác.
▪ Ở Hawaii, một gia vị gọi là «inamona» được chuẩn bị từ những hạt trộn với những rong biển algues và muối sel.
Hạt, cần được bảo quản trong một thời gian nhất định, được sấy khô hoàn toàn trước khi ăn.
Một loại dầu thu được từ những hạt, dầu này không ăn được.
Nhân hạt thường được sử dụng trong nấu ăn indonésiennemalaisienne, nơi đây nó được gọi là kemiri trong indonésien hoặc buah keras trong malais.
Hạt của Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus ("kemiri") là một gia vị không thể thiếu trong nấu ăn người Nam dương indonésienne, có ít hương vị, nhưng hành động chánh như một chất tăng cường.
▪ Trên đảo Java ờ Indonésie, nó được sử dụng để làm nước sốt đặc sauce épaisse, người ta ăn với rau cải légumes và cơm gạo riz.
▪ Ngoài Đông nam Á Asie du Sud-Est, những hạt của macadamia, một hạt nhân ở Queensland đôi khi được thay thế bởi những hạt nhân của candlenuts Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus khi nó không hiện có để cung cấp, bởi vì nó có một hàm lượng dầu và một cấu trúc tương tự khi nó bị đập vở.
Tuy nhiên, hương vị khá khác biệt, bởi vì hạt candlenut Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus là đắng hơn nhiều.
▪ Ở Costa Rica, ít nhất có một giống không có vị đắng và một chương trình cải thiện có lẽ có thể được tạo ra một giống cây lương thực quan trọng nếu những loài này variétés không độc hại toxiques có thể được chọn lọc và nhân giống.
▪ Một gia vị hawaïen được biết dưới tên inamona được chế tạo từ kukui Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus rang rôti (candlenuts) hỗn hợp bột nhão với muối sel.
▪ Những gỗ chết của candallouth Cây Trẩu xoan Aleurites moluccanus được ăn bởi một ấu trùng của loài cánh cứng coléoptère được gọi là Agrianome fairmairei.
Loài ấu trùng này được tiêu dùng ăn bởi một số người nhất định.

Nguyễn thanh Vân