Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

mardi 26 mai 2015

Nút vàng - Goldcup - Bulbous

Bouton d'or - Goldcup - Buttercup
Nút vàng
Mao cấn có củ
Ranunculus bulbosus L.
Ranunculaceae
Đại cương :
Bulbous Buttercup, hay Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus hoặc  St. Anthony's turnip
Danh pháp Bulbeuse renoncule hoặc Crowfoot có lẽ phổ biến nhất trong họ Renunculaceae, mọc phủ trên những đồng cỏ vào tháng 5 với một màu vàng rực rỡ, Cây Nút vàng là một trong những cây có củ chứa những chất dinh dưởng.
Tên loài gọi là bulbosus cụ thể đề cập đến thân củ phù to như bóng đèn nhỏ như củ hành, tròn màu trắng, hơi phẳng ở mặt trên và mặt dưới củ, tựa giống như củ cải trắng navette nhỏ, như vậy nên mới có những tên thông thường như : Saint- Navet d'Anthony.
Ở Pháp, do dạng bông màu vàng tươi, mới trổ hoa như cái chén rất đẹp nên có tên dưới dạng hoa : Chén vàng Goldcup.
Loài này rất phổ biến sống trong những đồng cỏ đôi khi tạo thành những cánh đồng cỏ vàng hực chung với hoa những cây Bồ công anh pissenlit, trên những lề đường, mương rạch. Cây chịu những thế đất khô, thoát nước tốt, nghèo chất dinh dưởng, calcaire, tính acid nhẹ, mọc nơi độ cao khoảng 1500 m so với mực nước biển.
Phạm vi bản địa của Cây là ở Tây Âu và bờ biển phía Bắc Địa Trung Hải. Cây phát triển cả phía đông và phía Tây Bắc Mỹ và Canada, du nhập như một cỏ dại.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây thân thảo, thẳng, hơi có lông, ít phân nhánh, trên mặt đất, hơi có rảnh, khoảng 20 đến 60 cm cao, lan rộng trên mặt đất từ củ màu trắng, có dạng như một củ hành nhỏ bằng ngón tay út, đường kính khoảng 1 cm, hơi dẹp ở 2 đầu mặt trên và mặt dưới, đôi khi tồn tại của những năm trước, với  những rễ có nhiều xơ.
, hiện diện dưới thấp sát mặt đất với một cuống dài có rãnh, lá đơn giản có thùy nhưng không tách rời thành những lá phụ, hình bầu dục, có lông, hình lông chim, phân chia thành 3 khúc, hẹp dài, 3 thùy và chẻ sâu, những lá ở thấp được mở rộng, mọc cách, ít xẻ hơn và cuống ngắn hơn, phiến lá đôi khi có răng cả những thùy đối xứng.
Hoa, cô độc, đều, đính trên một cuống dài có rãnh sâu ở mức độ ở lá dưới gốc. Đài hoa và cánh hoa gắn hợp với nhau, đôi khi đài và cánh rời nhau không hợp nhất.
Đài hoa gồm 5 lá đài màu xanh lá cây, có lông.
Cánh hoa 5, màu vàng tươi, tròn vượt qua những đài hoa, có đĩa mật nhỏ.
Rất nhiều tiểu nhụy màu vàng, gắn thành vòng xoắn trên đế hoa.
Bầu noãn, láng, gồm 20 đến 30 tâm bì 1 noãn duy nhất rời giữa chúng chèn vào trong vòng xoắn của đế hoa lồi lên, có lông.
Trái, hình thành của những tâm bì xếp vòng thành khối tròn, mỏ ngắn. Tâm bì trưởng thành láng mịn trên mặt hoặc mang những chấm mịn.
Bộ phận sử dụng :
Rễ và lá, đôi khi hoa hoặc Cây tươi là phần độc hại và có hiệu quả trong y học.
Bộ phận độc hại :
Tất cả cây tươi, đặc biệt những lá trong thời kỳ trổ hoa .
Thành phần hóa học và dược chất :
Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus này, như những Cây Mao cấn Ranonculus khác có chứa :
- chất  glycoside ranunculine độc hại toxique.
Nó cần tránh cho những gia cầm ở trong trạng thái tươi, nhưng khi Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus được sấy khô, chất độc tố toxine bị tiêu hủy mất, vì vậy những cỏ khô có chứa một số Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus là không nguy hiểm cho sự tiêu dùng ở động vật.
▪ Khi một thực vật bị hư thâm tím ( tốt hơn ở những trái xanh ), và xử lý với éther sulfurique, - Nguyên chất dễ bay hơi chát âcre là vô hình trừu tượng, và có thể thu được dưới dạng không nguyên chất bởi sự bốc hơi éther một cách tự nhiên .
- Nguyên chất chát này là một dầu dể bay hơi, cũng có thể thu được dễ dàng và trong trạng thái nguyên chất của sự chưng cất.
Anémonine, là một chất được chấp nhận tổng quát như hiện hữu trong những loài hương vị chát âcres của giống  Ranunculus.
▪ Nếu một bột nhão pâte của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus, sau khi ly trích với éther ( hoặc trước ), với chloroforme đã hết cạn kiệt và dung dịch chloroformique đã bốc hơi một cách tự nhiên, người ta còn lại một chất dầu trầm hiện, phóng thích từ những tinh thể của anémonine, và không phản ứng với dung dịch thử Fehling cho đường glucose.
Điều này đưa đến cho người ta tin rằng chất anémonine là một sản phẩm của những hành động của nước đun sôi trên Cây thay vì  là sản phẩm khởi đầu.
▪ Nếu rễ của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus bị thương thâm tím được pha trộn với nước, nó hình thành một chất lỏng như sữa nhũ tương và khi làm nóng, nó kết đông dưới điểm sôi ( phị điểm ).
▪ Khi Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus được bao phủ ngập nước và chưng cất, hơi nước chát âcres cay thoát ra, sau khi ngưng tụ, một chất lỏng trong suốt, cay nồng và một hương vị của tiêu đã thu được.
Sau khi để lắng một thời gian ngắn, thu được :
- một chất lỏng kích thích kết khối màu trắng lắng động.
Nước cất này là một sản phẩm thú vị của thực vật cho sản lượng chất anémonine.
Nguyên chất hoạt động :
▪ Chất renonculosides, được phóng thích sau khi thủy phân chất tiền anémonine protoanémonine, một dầu màu vàng kích ứng ngứa với đặc tính, gây ra :
- mụn rộp vésicantes,
- và tẩy xổ mạnh drastiques
Đặc tính trị liệu :
Như hầu hết những Cây giống renoncules, loài Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus có những đặc tính :
- viêm enflammer,
- và phồng rộp da cloques de la peau,
đặc biệt những rễ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus, được cho là gia tăng phồng rộp với ít đau hơn và an toàn hơn so với Spanish Fly, một loại côn trùng cánh cứng có chất Cantharidine làm phồng da nên được gọi là ruồi Tây ban Nha và đã được áp dụng hiệu quả này, đặc biệt cho :
- những khớp xương articulations,
- thống phong goutte.
Nước ép, nếu được áp dụng cho lỗ mũi narines, gây ra :
- những hắc hơi éternuements,
- và chữa lành trong một số nhất định trường hợp đau đầu maux de tête.
▪ Toàn Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus, và đặc biệt chất nhựa cây sève, là một chất :
- chát acre,
- thuốc giảm đau anodin,
- chống co thắt antispasmodique,
- làm đổ mồ hôi sudorifique,
- thuốc bôi làm da nổi đỏ rubéfiant.
Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus này có một thời gian được những người ăn xin chà xát trên da để gây ra lỡ loét những vết thương mở ra, mục đích để kích thích lòng thương hại của mọi người.
▪ Những đã được sử dụng để :
- gây ra những phồng rộp cloque trên những cổ tay trong bệnh thấp khớp rhumatisme,
và khi ngâm trong nước đun sôi infusion, như một thuốc dán đắp cataplasme vào :
- vị trí giữa của dạ dày estomac nơi phản ứng của nội tạng creux de l'estomac.
Rễ Cây Nụ vàng Ranunculus bulbosus được để vào trong khoang răng để hành động như :
- một thuốc giảm đau analgésique.
▪ Một nước nấu sắc décoction của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục VD venereal disease.
▪▪▪ Sự sử dụng Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus này phải hết sức thận trọng do những chất độc chứa trong Cây đã liệt kê bên trên.
Bài này chỉ có tính cách thông tin kiến thức và giáo dục mọi sự sử dụng nên theo lời chỉ dẫn của những người chuyên môn lo về sức khỏe có tay nghề thật sự.
▪ Những chỉ định chánh của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus :
▪ bệnh truyền nhiễm infectiologie :
- zonas,
- ghẻ phỏng, mụn phỏng herpès.
▪ chữa trị đau nhức :
- giảm đau dây thần kinh liên sườn névralgies intercostales,
- chai sừng cors.
▪ Tai-Mũi-Họng Oto-rhino-laryngologie :
- viêm mũi rhinites.
▪ Nổi chẩn, mụn nước ở da có thể chứa một chất lỏng màu xanh nhạt do máu chứa trong chúng.
▪ Mụn nước được phủ một lớp vỏ thứ cấp hoặc để lại chỗ cho một lớp thô rộng sáng.
▪ Ngứa purit ( ngứa démangeaison) bên trong, nóng bỏng, nghiêm trọng hơn bởi :
- nhiệt độ lạnh,
- và sờ chạm đến.
▪ Chảy nước với cảm giác nóng cháy ở  nơi tiếp hợp mi mắt commissures palpébrales.
▪ Mủi chảy nước Rhinorrhée ( sổ mũi écoulement nasal) dồi dào kèm với :
- ngứa dữ dội trong lỗ mũi narines,
- và cảm giác nóng rát ở cổ họng gorge.
▪ Đau ngực cấp tính thoraciques aiguës, trầm trọng hơn khi chạm vào hoặc một cử động nhỏ nhất ( trong xoay người, trong thở ….).
▪ Một dung dịch trong alcool chế biến với tinh thần của rượu sẽ chữa lành :
- bệnh zona rất nhanh chóng,
một bệnh viêm đau cấp tính của những hạch thần kinh với một lỡ loét phun mũ thường hình thành vào khoảng giữa cơ thể ….  nói chính xá hơn, cả sự bùng phát :
- của những mụn nhỏ boutons,
- và những đau nhói giữa xương sườn côtes.
● Chữa trị với những loại khác nhau của đau nhức với Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus
▪ Giảm đau nhức bởi Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus đặc biệt là những người làm nghiêm trọng thêm bởi :
- giảm hạ nhiệt độ baisse de température,
- và những người gia tăng cường độ khi kéo dài hoặc khi có một cử động đơn giản.
Những đau nhức nhạy cảm với sự sờ mó rờ rẫm palpation, cũng như những người gia tăng cường độ trong ban đêm cũng có những chỉ định của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
Những đau nhức này có thể khoanh vùng :
- ở mặt visage,
- những tay bras,
- ngực thorax,
- lõm của xương ức của người creux de l’estomac,
- bên dưới xườn phải hypochondre droit,
- lưng dos,
- hoặc ở vùng thần kinh tọa ( vùng hong ) sciatique.
▪ Những đau nhức ở mặt được biểu hiện đặc biệt bởi :
- đau nhói picotements.
▪ Đau nhức ở cánh tay thường xuất hiện đột ngột và dưới dạng như xé rách déchirure.
Nó cũng đi kèm với :
- lạnh những ngón tay froideur des doigts,
- và cứng cổ tay raideur du poignet.
▪ Những đau nhức ở ngực thoraciques nhạy cảm với Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus là loại :
- nén ép compression.
được làm nghiêm trọng bởi :
- cử động mouvement,
- sự sờ mó rờ rẫm palpation,
- sự hít thở vào inspiration,
- và thở ra expiration,
nhưng cũng như bởi :
- nhiệt độ lạnh froid.
▪ Những đau nhức ở thượng vị épigastriques được giảm bởi phương thuốc này là ở những người :
- nổi bậc bởi cảm ứng, va chạm accentuées par le toucher.
▪ Khi đau nhức ở bên dưới sườn phải hypochondre droit, nó được bắt đầu dưới :
- xương sườn côtes bên phải,
- ngăn chận sự hô hấp bloquent la respiration,
- và lan rộng ra về vai bên phải épaule droite.
▪ Những đau nhức lưng nhạy cảm lombaires sensibles với phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique này, được nằm ở :
- những bả vai omoplates,
- và biểu hiện dưới dạng châm chích piqûre.
▪ Một số đau nhức ở buồng trứng ovariennes gây ra bởi :
- những sự thay đổi của nhiệt độ variations de température
cũng có thể được làm thuyên giảm bởi phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique này.
▪ Mặt khác, những đau nhức được khoanh vùng trên :
- đường đi của dây thần kinh liên sườn nerfs intercostaux
cũng có thể được điều trị với phương thuốc này.
▪ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus cũng làm biến mất :
- những đau nhức dây thần kinh tọa vào buổi sáng sciatiques matinales,
- gây ra một cảm giác châm chích sensation de piqûre,
- hoặc cháy bỏng brûlures.
▪ Thuốc này, ngoài ra có thể làm giảm những đau nhức của  :
- tiểu tiện mictionnelle,
- và đái láu pollakiurie.
Chủ trị : indications
● Chỉ định cho Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus
▪ Đau nhức : loại đau nhói hay đau nhức cấp tính élancements, như :
- một vết loét bên trong cơ thể ulcération interne.
▪ Đau nhức liên sườn intercostales
▪ Giảm đau hậu-zona Névralgies post-zostériennes (post zona), nóng bỏng brûlantes, nghiêm trọng hơn khi chạm vào da.
▪ Đau cổ cervicalgies,
▪ Ghẻ phỏng, mụn phỏng herpès,
▪ Hưng phấn tâm lý liên quan đến rượu, run rẩy mê sảng délirium tremens.
● Triệu chứng đặc trưng của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus
Những đau nhức được nghiêm trọng bởi :
- nhiệt độ lạnh froid,
- và đụng chạm toucher,
- cảm thấy như những trầy xướt écorchures ở da,
- hoặc xay xát ở liên sườn intercostales
● Chỉ định trong bệnh truyền nhiễm infectiologie
▪ Những bệnh ngoài da dermatologiques do những siêu vi khuẩn như là :
- zona,
- bệnh thủy đậu varicelle, ,
- hoặc ghẻ phỏng herpès
là những chỉ định chánh của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
▪ Những bệnh nhiễm ngoài da đặc trưng bởi :
- của những phun mũ éruptions của những mụn nước vésicules kích thước nhỏ xếp thành khối,
- và có màu xanh nhạt trong trường hợp của bệnh zona.
▪ Trong trường hợp bệnh thủy đậu varicelle, chất lỏng màu vàng nhạt hiện diện trong mụn nước vésicules được đưa ra bên ngoài để nhường chổ với một lớp vảy.
▪ Những phun mũ ở da này kèm theo một cảm giác nóng bỏng ở da. Thường được tìm thấy ở đường đi của dây thần kinh trajet des nerfs.
● Chỉ định trong Tai-Mũi-Họng ORL
Trong Tai-Mũi-Họng ORL, những đau đầu maux de tête gây ra bởi những sự thay đổi của nhiệt độ, có một chỉ định của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
Đây là những cơn đau đầu, đi kèm với :
- đau nhức mắt douleur oculaires,
- và một cảm giác nặng trong đầu pesanteur au niveau de la tête.
Những đau nhức mắt được khoanh vùng trên :
- phần bên ngoài của mắt phải œil droit.
Phương thuốc này cũng cho phép :
- thải tống ra những chất nhầy mucosités,
- và làm ngưng chảy nước mũi trong thời gian viêm mũi họng rhinopharyngites.
Những viêm mũi dị ứng rhinites allergiques kèm theo :
- viêm đường mũi inflammation des conduits nasaux,
- và ngứa như kiến bò trong màng mũi fourmillement des parois nasales
cũng được chữa trị với Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Người Mỹ bản địa, dùng như thuốc dán cao cataplasme của rễ để chữa trị :
- chóc lỡ eczéma,
- mụn cóc verrues,
- nhọt đầu đinh furoncles,
- hoặc nhọt ung mũ abcès.
Hành động dựa trên sự kích ứng ở vùng ảnh hưởng.
▪ Nó trực tiếp áp dụng trên :
- những mụn cóc verrues.
▪ Dung dịch trong alcool teinture có thể áp dụng cho cả hai bên ngoài lẫn bên trong cơ thể để chữa trị :
- bệnh zona zona,
- và đau dây thần kinh tọa sciatique.
Nghiên cứu :
● Nghi ngờ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus tự nhiễm độc toxicosis với sự nhạy cảm ánh sáng photosensibilisation thứ cấp trong một bò cái tơ Charolais.
Kelch WJ1, Kerr LA, Adair HS, Boyd GD.
Một chẩn đoán giả định của những Cây Mao cấn renoncule tự nhiễm độc toxicosis, nhạy cảm với ánh sáng photosensibilisation thứ cấp, gây độc cho gan hépatotoxicité đã thực hiện trong bò cái tơ 18 tháng tuổi Charolais.
Chẩn đoán khác biệt bao gồm :
- salmonellose,
- aflatoxicose,
- tiêu chảy siêu vi khuẩn giống bò diarrhée virale bovine,
- nhiễm nội ký sinh trùng parasites internes,
- và thực vật tự nhiễm độc, nhạy cảm với ánh sáng photosensibilisation hoặc chủ yếu hoặc thứ cấp.
Tất cả những khả năng này có thể bị loại, trừ trường hợp Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus tự nhiễm độc với sự nhạy cảm ánh sáng thứ cấp photosensibilisation secondaire gây độc cho gan hépatotoxicité.
Mặc dù, chẩn đoán không hoàn toàn khẳng định, nó là nguyên nhân có xác suất nhất của bệnh và tăng khả năng hấp dẫn mà chất protoanémonine, là một lacton của penta-hydroxy-2,4-diénium chất chánh có trong Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus, đã gây độc cho gan hépatotoxiques.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Hành động của Cây nút vàng Ranunculus bulbosus  như :
- một thuốc chống kích ứng anti-irritant
cho cả hai vừa :
- không chắc chắn và dữ dội,
và có thể là nguyên nhân của những loét dai dẳng không lành.
● Phản ứng phụ và cảnh báo :
▪ Hiện nay, thiếu những thông tin nghiên cứu với những phẩm chất cao trên sự áp dụng thuốc của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus, và những thông tin liên quan với những phản ứng phụ dựa trên căn bản của sự sử dụng truyền thống và ý kiến của những nhà chuyên môn.
▪ Vô cùng chát âcre, gây ra :
- một đau nhức dữ dội,
- và phỏng miệng,
- những niêm mạc muqueuses,
- viêm da và những mô dưới da chung quanh,
- và những mụn nước ở da cloques peau.
▪ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus dùng để uống bởi đường miệng có thể là nguyên nhân của :
- ói mữa vomissements,
- tiêu chảy diarrhée,
- mụn rộp trong miệng cloques,
- và những đau nhức ở bụng douleurs abdominales.
▪ Áp dụng bên ngoài có thể gây ra :
- những mụn nước cloques,
và dẫn đến :
- loét ulcération,
khi sự sử dụng kéo dài.
▪ Trường hợp sử dụng bên trong cơ thể quá liều có thể gây ra :
- viêm dạ dày-ruột gastro-entérite.
▪ Thành phần Protoanémonine, một thành phần của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus, cũng có thể gây ra :
- một sự rung tâm thất fibrillation ventriculaire ( một rối loạn nhịp tim rythme cardiaque),
- và suy hô hấp insuffisance respiratoire.
▪ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus cũng có thể là độc hại toxique cho :
- gan foie,
nếu dùng uống ( gây độc gan hépatotoxiques),
và có thể là nguyên nhân :
- chứng đau xốc ở ngực pleurodynie (đau nhức trong lồng ngực poitrine).
▪ Nước ép jus của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus thể là nguyên nhân của :
- hắc hơi nhảy mũi éternuements,
nếu nó được áp dụng vào lỗ mũi narines.
▪ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus có thể không an toàn khi được sử dụng ở những bệnh nhân :
- chức năng của gan tổn hại compromise du foie,
- bệnh tim mạch cardiovasculaires,
- bệnh hệ hô hấp respiratoires,
- tiêu chảy diarrhée,
- ói mữa vomissements,
- bệnh ngoài da peau,
- hoặc rối loạn dạ dày ruột gastro-intestinaux,
- hoặc tắc nghẽn obstructions.
● Dị ứng :
▪ Tránh dùng ở những người có dị ứng allergie hoặc quá nhạy cảm hypersensibilité được biết với Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
● Mang thai và cho con bú :
Sự sử dụng Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus không đề nghị khuyến khích ở những phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, bởi lý do vắng thiếu những bằng chứng khoa học sẵn có .
Ứng dụng :
► Chữa trị zona với Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus
Việc chữa trị zona bởi Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus có thể cho thấy rất hiệu quả, với điều kiện săn sóc bệnh nhân ngay từ khi dầu tiên mới phát khởi triệu chứng của bệnh.
Nguồn gốc của phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique này xuất phát từ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
Cây này rất thường gặp đa số trong những cánh đồng cỏ, tươi hoặc khô ở Châu Âu.
Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus, đặc biệt được đề nghị trong chữa trị vi lượng đồng căn homéopathique của những đau nhức liên quan đến :
- zona liên sườn intercostal,
- hoặc màng tang-hốc mắt tempo-orbitaire,
- những túi mụn nước dính chùm vésicules confluentes
nhưng cũng cho đau nhức nóng bỏng nghiêm trọng hơn bởi :
- độ ẫm humidité,
- và nhiệt độ lạnh froid.
▪ Cũng được đề nghị để chữa trị một số bệnh nhất định ngoài da như :
- thủy đậu varicelle,
- hoặc ghẻ phỏng mụn phỏng herpès.
▪ Đây cũng là một phương thuốc rất hay để làm giảm :
- những đau nhức của chứng đau dây thần kinh post-zostériennes là biến chứng mãn tính thường gặp ở bệnh zona post-zostériennes.
▪ Đối với đau thần kinh tọa sciatique, teinture đã được sử dụng với một kết quả tốt.
▪ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus đã được ghi nhận rằng trong 2 trường hợp của điều dưởng dai dẳng sự kích ứng irritation của miệng đã được lành bệnh với một nước ngâm trong nước đun sôi infusion thực hiện bằng cách thêm 2 drachmes (đơn vị tiền tệ của grècque = 3,5 gr ) tương đương 7 gramme rễ mới, cắt thành những lát nhỏ, với 1 lít nước nóng, để nguội :
- uống 1 muỗng canh 3 hoặc 4 lần / ngày,
- và miệng thường xuyên được rữa sạch với một nước ngâm mạnh hơn nhiều.
► Liều dùng .
● Người lớn (18 tuổi và hơn )
▪ Không có liều nào chắc chắn an toàn hoặc hiệu quả được công nhận cho Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
▪ Trà làm từ lá Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus tươi được sử dụng cho :
- những rối loạn tiêu hóa dạ dày ruột gastro-intestinaux,
- bệnh lây truyền qua đường sinh dục sexuellement transmissibles.
▪  Dung dịch trong alcool teintures, dùng uống cũng được sử dụng cho :
- đau dây thần kinh tọa sciatique,
- và bệnh zona zona.
▪ Rễ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus tươi, nhét trong khoang răng cavité de la dent đã được sử dụng cho :
- đau nhức khoang răng ( sâu răng ) cavité dentaire,
▪ và nước ép jus của Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus tươi, được áp dụng cho lỗ mũi để :
- làm hắc hơi nhảy mũi éternuer
để làm giảm :
- đau đầu maux de tête.
▪ Đối với những đau nhức và bệnh thấp khớp rhumatismes, những bộ phận trên mặt đất tươi cọ xát trực tiếp vào những vùng đau liên hệ để :
- hình thành những mụn nước cloques
đã được sử dụng .
● Trẻ em ( dưới 18 tuổi )
▪ Không có liều nào an toàn và hiệu quả được công nhận cho Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus.
Tuy nhiên, 1 muỗng canh, nước ngâm trong nước đun sôi infusion để nguội ( 2 grammes của rễ tươi cắt thành những miếng nhỏ ngâm trong 1 lít nước nóng ) được sử dụng cho :
- những đau miệng dai dẳng maux de bouche obstinée.
▪ Những rễ Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus được duy trì trên :
- mất phẩm chất qualité của sự kích thích stimulant,
- và thậm chí ăn được khi được nấu chín. 
Cây Nút vàng Ranunculus bulbosus quá chát âcre không được tiêu dùng một mình bởi những gia súc, nhưng có thể trộn với những cỏ nó có thể hành động như :
- như một tác nhân kích thích chức năng cụ thể stimulus.

Nguyễn thanh Vân

samedi 23 mai 2015

Cườm thảo đỏ - Haricot paternoster

Haricot paternoster – Weather plant
Cườm thảo đỏ
Abrus precatorius L.
Fabaceae
Đại cương :
Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius còn được gọi là “Đậu haricot Paternoster” (Abrus precatorius) là một Cây tiểu mọc leo thuộc họ Fabaceae.
Tên thông thường tùy theo ở mỗi địa phương như :
cascavelle, liane réglisse, réglisse marron, graine d'eglise, jequirity, graine diable, herbe de diable..v...v....
Người ta thường thấy như một loại dây leo quấn trong những khu rừng rậm rụng lá hỗn hợp ở những vùng ấm, phát triển tốt trong những khu vực khá khô ở độ cao thấp.
Cây có nguồn gốc ở Ấn Độ, sự hiện diện trong những vùng nóng ấm trên thế giới (Cal, 2004). Là một thực vật bản địa trong khắp nơi trong Ấn Độ, thậm chí ở những độ cao đến 1200 m bên ngoài dảy Himalaya.
Ngày nay, Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được tịch hóa trong tất cả những quốc gia vùng nhiệt đới (Dwivedi, 2004), trong những nước như Ấn Độ, Sri Lanka, Thaïlande, Việt Nam, Philippines, miền nam nước Tàu, Bắc Mỹ Phi Châu nhiệt đới và Tây Ấn Antilles. Trong tất cả những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (INCHEM, 2004).
Cây được dùng như một Cây cảnh trong Bắc Mỹ.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Dây leo mảnh, phân nhánh nhiều, sống lâu năm, thân hình trụ nhăn nheo, cấu trúc vỏ nhẵn, ngấm chất lignin nên cứng, màu nâu, leo quấn cao có thể lên đến 50 m cao, do đó mà có thể lên đến ngọn những cây cao nhất.
, rụng, mọc cách, kép, mang từ 9 đến 17 cặp lá phụ, 0,6-2,5 x 0,4-1,2 cm, tròn dài, đáy tròn, cắt ngang có mũi ở đầu, mặt dưới mốc, mỗi lá có một gân bên dài từ 5 đến 10 cm, cùn ở cả hai đầu, nhẵn ở mặt trên, hơi có lông ở mặt dưới, lá bẹ 3 mm dài.
Phát hoa, chùm tụ tán ở nách lá, dài 2 đến 7 cm, ngắn hơn lá.
Hoa, nhỏ, màu hường tím nhạt, với một cuống ngắn, dài 9-11 mm, hợp thành chùm trên những đốt phồng lên. Đài hoa màu hồng tím, có thùy ngắn với những lông nằm. Bầu noãn có một  phôi ngoại biên.
Trái,  35 x 15 mm, chứa 3-7 hột tròn, đường kính khoảng 0,5 cm, đỏ láng, bóng với đóm đen quanh tể, đẹp.
Bộ phận sử dụng :
Rễ, lá và hạt được sử dụng trong y học.
Thành phần hóa học và dược chất :
Nhiều nhóm của những thành phần hợp chất thứ cấp đã được phân lập của loài Cườm thảo đỏ Abrus precatorius này, bao gồm :
- những alcaloïdes,
- stéroïdes,
- và những triterpenoids khác,
- isoflavanoquinones,
- anthocyanes,
- amidon, tannin,
- những protéines,
- flavonoïdes,
- thành phần hợp chất phénolique,
- tinh dầu cố định,
- acide aminé,
- và lutéoline flavones,
- abrectorin,
- orientine,
- isoorientine,
- và desmethoxycentaureidin 7-0-rutinoside.
Những thành phần, như :
Abrine, Abraline, Abrasine, Abricin, Abrin, Abrusgenic-acide, Abrusgenic-acide-ester méthylique, Abruslactone, Abrussic-acide, anthocyanes, Ash, calcium, Campestérol, choline, cycloarténol, delphinidine, gallo-acide, glycyrrhizine, Hypaphorine, N,N-diméthyl-tryptophane, N, N-diméthyl-tryptophane-métho-cation-méthyl-ester, P-coumaroylgalloyl-glucodelphinidin, pectine, pentosanes, Phosphore, delphinidine, acide gallique, glycyrrhizine, Hypaphorine, N, diméthyl-n-tryptophane, N, N-diméthyl-tryptophane-métho-cation-méthyl-ester, P-coumaroylgalloyl-glucodelphinidin, pectine, pentosanes, phosphore, Picatorine, polygalacturonique-acides, Precasine, Precatorine và Trigonelline protéine .
được xác định trong Cây Cườm thảo đỏ  (Mohan & Janardhanan, 1995; Rain-tree, 2004).
● Lá .
Nhiều thành phần hợp chất như :
abrine, trigonelline, abruslactone A, hemiphloin, abrusoside A, abrusoside B, C abrusoside, abrusoside D, arabinose, galactose, xylose, choline, hypaphorine, precatorine, glycyrrhizine, alcool montanylique, inositol, éther monométhylique D, pinitol.
được phân lập trong những của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
● Rễ.
Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius rất phong phú trong những thành phần hóa học khác nhau, như là :
abrol, abrasine, precasine và precol, protéines, abraline, abricin, abrusgenic-acide, abrusgenic-acide-ester méthylique, abruslactone, abrussic-acide, anthocyanes, calcium, campestérol, cycloarténol, delphinidine, gallique acide, trigonelline, hypaphorine, choline, N, N diméthyl-tryptophane, N, N dimethyl- tryptophane-métho-cation-méthyl-ester, P coumaroylgalloyl glucodelphinidin, pectine, pentosanes, phosphore, delphinidine, gallique acide, picatorine, polygalacturonique acides, precatorine, polysaccharide, isoflavonoïdes và quinones-abruquinones A, B, C, D, E, F, O, G, abruslactone, abrusgenic-méthanol-acide solvate, arabinose, galactose, xylose
hiện diện trong rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
Những chất saponines triterpénoïdes, glycyrrhizine và acide oléanolique được tìm thấy trong rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius và abrusosides A, B, C, D, và E trong những bộ phận trên không .
- Những hydrates carbone và galactose, arabinose, và xylose 25 cũng được hiện diện trong những bộ phận trên không Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
Thành phần hợp chất isoflavones 7,5-dihydroxy-6,49-diméthoxy galactopyrannoside 7-ObD- mới có trong rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius cũng đã được ghi nhận bởi VK Saxena D.N. Sharma, 1999.
● Hạt .
▪ Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius rất phong phú nhiều thành phần acides aminés thiết yếu, như :
sérine, Abrusin, Abrusin-2'-0-apioside, hédéragénine, kaikasaponin III, sophoradiol, sophoradiol-22-0-acétate, tryptophane, triméthyl, alanine, amyrine, alpha, acide ursolique, valine, và ester méthyle.
▪ Hạt chứa những chất đạm protéines độc hại toxiques, một phân hóa tố enzyme tách chia chất béo, aglucoside acide abrussic, hémagglutinine, một chất đản bạch ( lòng trắng trứng ) albumineuse tên gọi abrin và một số lượng urées.
▪ Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius là độc hại toxique và có chứa những thành phần nguyên hợp chất, như :
abrine, abrine, abrine B, abrine C, abrine I, abrine ll, abrine III, abrus agglutinine APA-l, Abrus agglutinine APA-ll, abrus-saponines I và II, abrisapogenol, β-amyrine, alcool arachidylique, brassicastérol, décan-1-ol, docos-13-énoïque, docosan-1-ol, docosane, N,dodécane-1-ol, dotriacontane, N,eicos-11-énoïque, eicosane, N,alcool élaïdique, heneicosan-1-ol, acide lignocérique, heneicosane, N, heptacosan-1-ol, heptadecan-1-ol, hexacosane, N,hexacosan-1- ol, hexadéc-9-énoïque, hexadécane, N,hexadécane-1-ol, nonacosane, N,nonadecan-1-ol, octacosan-1-ol, octacosane, N,acide octadéca-9,12-diénoïque, octadécane, n,acide octanoïque, pentacosan-1-ol, pentacosane, N,pentatriacontane, N,pentadecan-1-ol, squalène, abricin, abridin, abrulin, cycloarténol, campestérol, cholestérol và sitostérol.
đã được tìm thấy trong những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
▪ Những alcaloïdes và azote thành phần ester méthyle của N, N-dimethyltryptophan metho-cation (I) và precatorine (II), hypaphorine, trigonelline, choline, flavonoïdes và triterpénoïdes, stéroïdes, saponines, flavones, glycosides flavonol, những đường giảm, những thành phần phénoliques glycosides, và precatorine.
hiện diện trong những hạt và những Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
▪ Lectine, flavonoïdes và anthocyanes-abrectorin, dimethoxycentaureidin-7-0-rutinoside, precatorins I, II, và III, abrectorin, centaureidin, déméthoxy 7-O-β-drutinoside, lutéoline, orientine, iso,orientine, chất ức chế sự tăng trưởng của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, và xyloglucosyl-delophinidin,
đã được phân lập từ những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
▪ Một saponine triterpinoid 3-O-β-D-glucopyranosyl- (1 → 2) -β-D-glucopyranosyl subprogenin D mới với 6 terpinoids đã được biết.
C-6,7-glucosylscutelarein diméthyléther (abrusin) và 2"-O-apioside đã được xác định như một thành phần có lượng nhỏ trong những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
Hạt của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius này cũng có chứa những nguyên tố như :
calcium, magnésium, sodium, potassium, phosphore, manganèse, zinc, fer, cuivre, cellulose và muscilase.
▪ Những đường trung tính bao gồm như :
mannose, xylose và fucose trong những tỹ lệ 2,08: 1,00 : 0,94.
Tétracos-15-énoïque, tetracosan-1-ol, tétracosane, N,tétradécan-1-ol, acide tétradécanoïque, tetratriacontane, N, triacosan-1-ol, triacontane, N,tricosane, N,tridecan-1-ol, tritriacontan-1-ol, tritriacontane, N,undécan-1-ol, anthocyanines, arabinose, acide arachidique, acide béhénique, acide linolénique.
acide palmitique : acide stéarique (Begum), acide oléique,
acide aspartique, cystéine, acide glutamique, glutamine, glycine, lysine, phénylalanine, sérine, callistephin, chrysanthemin, delphin, pélargonidine-3,5-diglucoside, heneicosane, 7,9,15-triméthyl, acide pentacosanoïque, cholanique, cystine, acide galacturonique, acide glucuronique, leucine, tyrosine, delphinidine glycoside, delphinidine, ( para-coumaroyl-galloyle) glucoside, delphinidine-3-sambubioside, acide docosadienoic, acide docosénoïque, acide eicosadiénoïque, eicosénoïque, eicosatriénoïque, acide hexadécénoïque, acide lignocérique, acide octadécadiénoïque, acide octadécatriénoïque, octadécénoïque, acide pentadécanoïque, acide docosatétraénoïque, acide docosatrienoic, acide myristique, galactose, xylose, acide gallique, acide laurique, acide linoléique, p-sterone, rhamnose, métho-cation NN-diméthyl ,
đã được tìm thấy trong những hạt của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius này.
Đặc tính trị liệu :
▪ Những vấn đề liên quan đến da :
Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius là rất hiệu quả trong chữa trị :
- bệnh bạch ban, bạch bì leucoderma.
Nếu bị nhiễm bởi những mụt mụn acné hay những nhọt đầu đinh furoncles, những lá của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius sẽ phục vụ như một thuốc rất tốt.
Nó cũng giúp để người bịnh không bị :
- ngứa démangeaisons,
- và những vấn đề liên quan đến da peau.
▪ Những vết trầy xướt gây ra bởi những động vật nuôi :
Nếu những vết thương bởi những động vật nuôi gây ra cho người :
- những vết trầy xướt rayures,
- hoặc những vết thương blessures,
áp dụng một bột nhão pâte của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius trên những vùng ảnh hưởng.
▪ Tăng trưởng tóc :
Trích xuất dầu từ những lá Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius có một tính chất thuốc rất lớn để :
- kích thích sự tăng trưởng của những sợi tóc.
▪ Những giun đường ruột vers intestinaux :
Dùng những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius. Sấy khô và làm thành bột.
Dùng bột này 1 lần / 2 ngày. Những giun đường ruột bị giết chết.
▪ Ho Toux :
Bột những rễ của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius và pha trộn với bơ. Tiêu dùng 3 lần / ngày .
- chữa lành ho toux guérit.
Một trà được chế biến từ những của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius và được dùng như một phương thuốc tốt cho :
- cảm lạnh rhume,
- ho toux,
- và bệnh sốt fièvre.
▪ Kích thích tình dục Aphrodisiaque :
Những hạt của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được sử dụng để ly trích dầu, được dùng như :
- một chất kích thích tình dục aphrodisiaque.
► Hiệu quả độc hại toxique :
Hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius rầt độc hại toxiques bởi do sự hiện diện của chất Abrin, là một chất đạm protéine. Nó có thể gây ra tử vong nếu người ta ăn phải.
Hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, ăn vào có thể ảnh hưởng đến đường :
- dạ dày-ruột gastro-intestinal,
- gan foie,
- lá lách rate,
- những thận rein,
- và hệ thống bạch huyết système lymphatique.
Ngâm trong nước sôi infusion của trích xuất những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius có thể gây ra :
- tổn thương mắt lésions oculaires,
- viêm kết mạc conjonctivite,
- và thậm chí bị đui mù cécité sau khi tiếp xúc.
Những triệu chứng chánh của sự ngộ độc, bao gồm :
- buồn nôn nausée,
- ới mữa vomissements,
- đau bụng douleurs abdominales,
- viêm dạ dày-ruột cấp tính gastro-entérite aiguë với :
- và tiêu chảy diarrhées dẫn đến sự mất nước déshydratation,
- và tiêu chảy nghiêm trọng diarrhée sévère,
- nóng bỏng trong cổ họng brûlure dans la gorge,
- tổn thương lỡ loét về sau của miệng ulcéreuses ultérieures de la bouche,
- và thực quản œsophage,
- co giật convulsions,
- và cú sốc choc.
▪ Mất nước déshydratation, cũng như độc tính trực tiếp trên :
- những thận reins,
có thể dẫn đến một thiểu niệu oligurie, diển tiến đưa đến cái chết trong :
- chứng bệnh niếu độc urémie (William Boericke, 1999; Inchem, 2004).
▪ Thành phần Abrine, trong đó gồm có :
- abrus agglutinine,
và những lectines độc hại :
- abrins a, b, c và d
là 5 glycoprotéines độc hại hiện diện trong những hạt (Budavari, 1989).
▪ Thành phần Abrine là một ribosome - một chất đạm bất hoạt mà khối chất đạm protéine tổng hợp và là một trong những độc tố toxine của nhiều tử vong được biết.
Độc tố được phóng thích chỉ sau khi qua trung gian của hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius (Tropilab, 2004).
Chủ trị : indications
● Những chỉ định trong y học thực vật dân gian Ethnobotanical :
Gây sẩy thai abortif, đau nhức douleur (đầu), giải độc antidote, kích thích tình dục aphrodisiaque, mật bilieux, vết rắn cắn Bite (Serpent), bàng quang vessie, bệnh lậu blennorrhagie, ung thư cancer, ngực poitrine, hệ thần kinh trung ương SNC- an thần sédatif, lạnh froide, đau bụng tiêu chảy coliques, thuốc nhỏ mắt collyre, viêm kết mạc conjonctivite, ngừa thai contraception, co giật convulsions, ho toux, tiêu chảy diarrhée, lợi tiểu diurétique, tiểu khó dysurie, buồn nôn émétique, làm mềm émolliente, viêm ruột entérite, khối u ác tính mô biểu bì epithelioma, long đờm expectorant, giải nhiệt fébrifuge, sốt fever, gẫy xương fracture ( thú y vétérinaire), viêm dạ dày gastrite, viêm nướu răng gingivite, bệnh lậu gonorrhée, tim coeur, mất ngủ insomnie, vàng da jaunisse, thận reins, nhuận trường laxatif, sốt rét paludisme, nhai  masticatoire, đau cơ myalgie, mù ban đêm cécité nocturne, viêm mắt ophtalmie, đau ngực pectoral, tẩy xổ purgative, làm lạnh réfrigérant, thấp khớp rhumatisme, an thần sédatifs, da peau, dạ dày estomac, cầm máu hémostatique, chất làm ngọt édulcorant, cổ họng gorge, đau mắt hột trachome, niếu sinh dục urogénital, bệnh da liễu vénériennes, diệt giun sán vermifuge
Kinh nghiệm dân gian :
► Thực vật dân gian Ethnobotanique và tiềm năng Thực vật dược lý Phytophrmacological của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius L :
▪ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius theo truyền thống được sử dụng để chữa trị :
- bệnh sài uốn ván, chứng phong đòn gánh tétanos,
- và ngăn ngừa bệnh dại rage.
▪ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được sử dụng trong một số thuốc truyền thống để chữa trị :
- những vết trầy rayures,
- và những vết thương plaies,
và những thương tích do bởi những động vật :
- chó chiens,
- mèo chats,
- và những chuột souris,
▪ Áp dụng bột nhão pâte từ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius với vôi tôi chaux-eau  theo tĩ  lệ (2: 1) trên
-  sưng tuyến gonflement des glandes;
▪ Nghiền nát những của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, hâm nóng nhẹ và đắp thuốc dáng trên thắt lưng để :
- triệt diệt đau nhức tuer la douleur.
▪ Xay những của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius cùng với những của Lawsonia alba và Tamarindus indica với tĩ lệ (1: 1: 1), thêm một ít muối, đun sôi một ít và áp dụng đắp hỗn hợp trên trên khắp cơ thể để nhận được :
-  một giảm đau nhức bắp cơ musculaire có nguyên nhân do sự kiệt sức over exhaustion.
Làm thành một bột nhão pâte của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius với rễ của Carissa carandas và Gossypium arboreum, hâm nóng bột nhão nhẹ và cũng dắp lên trên khắp cơ thể của bệnh nhân chịu đựng cơn co giật tiềm tàng.
Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, dán trong :
- bệnh bệnh bạch ban leucoderme;
những hạt dán trong :
- những bệnh ngoài da maladies de la peau;
▪ Những của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được sử dụng đ ểchữa trị :
- bệnh sốt fièvre,
- ho toux,
- và cảm lạnh rhume.
Trong những Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, y học truyền thống ayurvédique, là thuốc :
- nhuận trường laxatives,
- long đờm expectorantes,
- và là thuốc kích thích tình dục aphrodisiaques médicaments,
và đã sử dụng trong :
- mề đai urticaire,
- chóc lở eczéma,
- viêm miệng stomatite,
- viêm kết mạc conjonctivite,
- rụng tóc từng vùng pelade,
- đau nửa đầu migraine,
- ung thư hạch bạnh huyết lymphomes / bệnh bạch cầu leucémies,
- và đau bụng kinh nguyệt dysménorrhée.
▪ Nghiền nát những rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, làm thành những viên thuốc nhỏ, bao những viên thuốc trong mật mía và ăn cũng để điều trị :
- chứng dạ manh cécité nocturne ( héméralopie ).
Rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius như một chất gây ra :
- sảy thai abortif ,
- và tê liệt paralysie;
▪ Những rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng để chữa trị :
- bệnh vàng da jaunisse,
- và tiểu ra huyết cầu tố và mật hémoglobinurie. ( sự hiện diện của huyết cầu tố hémoglobine trong nước tiểu làm cho nước tiểu có màu đen sậm, chứng tỏ có vấn đề bất thường trong sự xuất huyết….
▪ Dán những rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được sử dụng để chữa trị :
- những đau bụng douleurs abdominales,
- ung bướu khối u tumeurs,
và cũng cho :
- phá thai avortement.
Rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được nhai như một phương thuốc cho :
- vết rắn cắn morsure de serpent.
▪ Trích xuất trong nước nóng của rễ  tươi Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius là thuốc :
- chống bệnh sốt rét anti-paludéen,
- và chống co giật anti-convulsivant.
▪ Nước nấu sắc décoction của rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius sấy khô được sử dụng để chữa trị :
- viêm phế quản bronchite,
- và viêm gan hépatite.
▪ Những hạt sấy khô của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng để chữa lành bệnh :
- nhiễm trùng giun infection du ver.
▪ Trong thú y vétérinaire, người ta sử dụng trong chữa trị cho :
- gảy xương fractures.
▪ Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius cũng có tiềm năng tốt cho :
- thuốc trừ sâu insecticide,
- và hoạt động kháng khuẩn antimicrobienne.
▪ Trong những bộ lạc Châu Phi khác nhau sử dụng những hạt trong dạng bột là :
- thuốc uống ngừa thai contraceptifs oraux.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius cũng được uống cho :
- bệnh lao tuberculose,
- và sưng đau gonflements douloureux .
▪ Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho là dùng để :
- tẩy xổ purgative,
- nôn mữa émétique,
- thuốc bổ tonique,
- chống viêm anti-inflammatoire,
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- và chống những vấn đề của mắt anti-ophtalmique.
► Sự sử dụng trong y học truyền thống dân gian ở một số Quốc gia :
▪ Afghanistan.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius sấy khô, được uống như để :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Brésil.
Những và những thân Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho là độc hại toxique khi được ăn bởi gia sức .
Trích xuất trong nước của những sấy khô và rễ, được cho uống như :
- thuốc bổ thần kinh tonic nerveuse.
▪ Cambodge.
Trích xuất trong nước nóng của những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, được cho  uống để chữa trị :
- bệnh sốt rét malaria.
▪ Afrique centrale.
Rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được nhai như một phương thuốc :
- vết rắn cắn morsure de serpent.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được uống bởi nhiều bộ lạc của Trung Phi để chữa trị :
- trùng giun đường ruột vers intestinaux,
và như :
- thuốc uống ngừa thai contraceptif oral.
Hiệu quả của một liều duy nhất (200 mg) được cho là có hiệu quả cho :
- chu kỳ kinh nguyệt cycles menstruels.
▪ Afrique de l'Est.
Nước nấu sắc décoction của những bộ phận trên không Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được uống để chữa trị :
- bệnh lậu gonorrhée.
Nước ép của tươi Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống để chữa trị :
- bệnh lậu gonorrhée,
- chứng nhiễm biharzia bilharziose, là một bệnh nhiễm ký sinh trùng do những trùng hút máu hématophage Schistosome, còn gọi là bệnh sán máng Schistosomiase
- đau dạ dày maux d'estomac,
và như :
- chống nôn mữa antiémétique.
Bột của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được áp dụng trên :
- những vết cắt coupures,
- và sưng enflures.
Nước nấu sắc décoction của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng để uống cho :
- đau nhức ngực douleurs thoraciques.
Đối với những mắt bị viêm sưng enflammés, hơi nước của những Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius đun sôi được sử dụng :
Trích xuất trong nước của hạt sấy khô Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, được áp dụng trên những mắt để chữa trị :
- những bệnh nhiễm trùng có mủ purulentes oculaires;
những hạt được ngâm vào trong nước.
Rễ tươi Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được nhai như để :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Egypte.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng uống với mật ong như chất :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Guam.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được ghi nhận là độc hại toxique; phân nửa một hạt được ghi nhận, có thể đưa đến :
- tử vong mortel.
Lớp vỏ bao ngoài phải được bể ra, là một chất độc hại toxique.
Những triệu chứng bao gồm :
- viêm dạ dày-ruột cấp tính gastro-entérite aiguë
với những ói mữa vomissements, buồn nôn nausées và tiêu chảy diarrhée, tiếp theo là một sự mất nước déshydratation, co giật convulsions và chết mort.
▪ Guinée-Bissau.
Bột nhão pâte của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống bởi những người đàn ông như để :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
và bởi những người đàn bà để :
- thuận lợi cho sanh đẻ faciliter l'accouchement.
Hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống được xem như như :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
- và sẩy thai abortive.
▪ Haïti.
Nước nấu sắc décoction của lá được cho uống, để chữa trị :
- bệnh ho toux,
- và bệnh cúm flu.
▪ Inde.
Trích xuất trong nước nóng của sấy khô và những rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được áp dụng vào mắt œil để chữa trị :
- bệnh mắt maladies œil.
Trích xuất trong nước nóng của rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius cho uống như để :
- dịu đau trấn thống emmenagogue.
Rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius ngâm trong nước đun sôi infusion được cho uống để :
- gây ra sẩy thai abortif .
Trích xuất trong nước nóng của những hạt, được cho uống như :
- một yếu tố chống thụ thai anti conceptionnel,
- như một thuốc gây sẩy thai abortifacient,
và ngăn chận :
- sự thụ thai conception.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được sử dụng như một thuốc dán cao cataplasme trong âm hộ vagin, trong hệ thống y học truyền thống ayurvédique và unani như :
- một thuốc phá thai abortif.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được nấu chín trong sữa và dùng uống bởi người đàn ông trong y học truyền thống ayurvédique và unani như một chất :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Đã xác nhận rằng sự đun sôi tiêu hủy hành động độc hại của :
- thành phần chất Abrin.
Như kiểm soát sự sinh sản, một hạt nguyên Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius toàn bộ bao phủ với đường mía hay đường thốt nốt được nuốt vào trong thời kỳ kinh nguyệt période menstruelle và đủ để :
- ngăn chận sự thụ thai conception cho 1 năm .
Nước nấu sắc của hạt sấy khô Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống để :
- gây ra sẩy thai abortion.
Trích xuất trong nước nóng của những hạt sấy khô được uống như chất :
- một kích thích tình dục stimulant sexuel
trong hệ thống y học truyền thống y học Unani.
Nó cũng dùng để chữa trị :
- bệnh lao tuberculose,
- sưng đau nhức gonflements douloureux,
và như :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
- và tẩy xổ purgative.
Tinh dầu hạt khô của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống như để :
- gây sẩy thai abortifacient.
Ước ép jus của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho vào bên trong âm hộ intravaginale để :
- gây ra sẩy thai abortif.
▪ Côte-d'Ivoire.
Trích xuất trong nước của những thân Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống bởi những người đàn ông, như để :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
và bởi những người đàn bà cho :
- thuận lợi cho sự sinh con faciliter childbirth.
▪ Jamaïque.
Nước nấu sắc décoction của khô và rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, đun sôi trong sữa, được dùng như :
- một thuốc bổ tonic.
▪ Kenya.
Nước ép jus của tươi Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống để chữa trị :
- bệnh ho toux.
Những tươi Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng uống cho :
- ho toux .
▪ Mozambique.
Trích xuất trong nước nóng của rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống như để :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Népal.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống như để :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Nigeria.
Trích xuất trong nước nóng của rễ tươi Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống như để :
- chống bệnh sốt rét antipaludique,
- và chống co giật anticonvulsant.
▪ Pakistan.
Trích xuất trong nước nóng của những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, được uống như chất :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được sử dụng dưới dạng thuốc nhét hậu môn suppositoire để :
- gây ra sẩy thai abortion.
▪ Soudan.
Trích xuất trong nước nóng của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được cho uống như :
- một yếu tố chống khả năng sinh sản antifertilité agent.
▪ Taiwan.
Nước nấu sắc décoction của rễ sấy khô Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được uống để chữa trị :
- viêm phế quản bronchite,
- và viêm gan hepatitis.
Tanzanie.
Nước nấu sắc décoction của những rễ và nhựa của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng để uống cho :
- bệnh suyễn asthme,
và như thuốc :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Thaïlande.
Nghiền nát Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius với dầu, được sử dụng như một thuốc dán cao cataplasme, dùng để :
- chống viêm anti-inflammatory.
▪ Quẩn đảo Vierges.
Trích xuất của hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng uống cho :
- ho toux.
▪ Ở Tây Phi Afrique De L'Ouest.
Một nước nấu sắc décoction của rễ sấy khô của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng uống như một thuốc :
- chống nôn antiémétique,
để chữa trị :
- chứng nhiễm biharzia bilharziose, là một bệnh nhiễm ký sinh trùng do những trùng hút máu hématophage Schistosome, còn gọi là bệnh sán máng Schistosomiase
- đau dạ dày maux d'estomac,
- nhiễm loài sán xơ mít ténias,
- bệnh lậu gonorrhée,
- đau ngực poitrine,
và cũng được sử dụng như thuốc :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Tây thuộc Ấn Antilles :
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được dùng để uống như thuốc :
- nôn mữa émétique,
- tẩy xổ purgative,
- và diệt giun sán anthelmintic.
▪ Trong Cộng hòa dân chủ Congo, nguyên Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius ( rễ, thân và lá chung ) được sử dụng để chữa trị :
- đau bụng tiêu chảy coliques abdominales, của những trẻ sơ sinh .
Trong một số vùng của Ấn Độ, những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được luộc chín để tiêu dùng, tuy nhiên sự nấu chín những hạt làm bất hoạt độc tố toxine.
Nghiên cứu :
● Hoạt động dược lý pharmacologiques :
Nhiều bộ phận của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius có những hoạt động dược lý khác nhau, như là :
Chống bệnh tiểu đường anti-diabétique, chống oxy hóa anti-oxydant, bảo vệ thần kinh neuroprotecteur, kháng siêu vi khuẩn anti-virale, thần kinh bắp cơ neuromusculaire, chống co giật anti-convulsivant, chống động kinh anti-épileptique, điều hòa miễn nhiễm immuno-modulation, gây sẩy thai abortif, chống đậu trứng anti-implantation, chống giun sán anti-helminthiques, chống trầm cảm anti-dépression, cải thiện trí nhớ amélioration de la mémoire, chống chất dẫn truyền thần kinh ( xung thần kinh ) anti-sérotonine, lợi tiểu diurétique, kháng vi khuẩn anti-microbienne, chống nấm men anti-levure, chống viêm anti-inflammatoire, chống viêm khớp anti-arthritique và giảm đau analgésique, chống ung thư anti-cancer, chống khả năng thụ tinh anti fertilité, chống sinh tinh anti-spermatogenèse, chống œstrogène anti œstrogénique, chống bệnh sốt rét anti-paludéen, chống dị ứng anti-allergiques, chống suyễn anti-asthmatiques, chống đục thủy tinh thể anti-cataracte, chống côn trùng anti-insecticide, hoạt động chống độc tính activité anti-toxicité.
● Hoạt động kháng khuẩn antibactérienne :
Trích xuất éthanol / nước theo tĩ lệ (1: 1) của những bộ phận trên không Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, với một nồng độ 25,0 mcg / ml trên đĩa thạch, đã không hoạt động trên vi khuẩn :
- Bacillus subtilis,
- Escherichia coli,
- Salmonella typhosa,
- Staphylococcus aureus,
- và Agrobacterium tumefaciens.
Trích xuất éther của những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, trên đĩa thạch, đã hoạt động trên vi khuẩn :
- Staphylococcus aureus.
Trích xuất éthanol (95%) hoạt động trên :
- Escherichia coli,
- và Staphylococcus aureus.
● Chống co giật anticonvulsivant :
Trích xuất éthanol (70%) của rễ tươi Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, sử dụng bởi đường tiêm vào trong màng bụng intrapéritonéale ở những chuột của 2 phái tính với những liều thay đổi, đã hoạt động so với  sự co giật convulsions gây ra bởi metrazole và không hoạt động co giật convulsions gây ra bởi chất strychnine.
Trích xuất Éthanol / nước (1: 1) từ những bộ phận trên không Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, dùng ở chuột bởi tiêm vào  đường màng bụng intrapéritonéale với liều 500,0 mg / kg, đã không hoạt động co giật convulsions gây ra đối với sốc điện electroshock.
● Hoạt động chống viêm anti-inflammatoire :
Trích xuất éthanol / eau (1: 1) từ những bộ phận trên không Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, được cho uống bởi những chuột với liều 500,0 mg / kg, đã không hoạt động so với chất carrageenin gây ra phù thủng ở bàn chân oedème de pédale.
Những động vật đã nhận được trước 2 giờ, trước tiêm chất carragénine.
 Chất Saponines triterpénoïdes được phân lập bởi những bộ phận trên không Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, thể hiện một hoạt động chống viêm anti-inflammatoire bằng cách sử dụng mô hình “ tai dầu coton ” croton oil ear.
Những acétates chỉ ra sự ức chế lớn nhất của thành phần hợp chất chánh.
● Hoạt động chống siêu vi khuẩn antivirale :
Trích xuất éthanol / nước (1: 1) của những bộ phận trên không Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius với nồng độ 50,0 mcg / ml trong một nuôi cấy tế bào đã không hoạt động inactif trên siêu vi khuẩn Ranikhet virus và siêu vi khuẩn Vaccina virus.
Trích xuất trong nước và méthanol của những hạt khô Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius trong cấy nuôi tế bào đã không hoạt động trên HLTV với virus-1. IC100> 77,0 và > 40,0 mcg / ml, tương ứng đã được quan sát .
Hoạt động không quan sát được trong dưới liều gây độc tế bào cytotoxique.
● Hiệu quả chống sinh tinh antispermatogène :
Trích xuất alcoolique của hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, được sử dụng qua đường bên trong dạ dày intragastrique với những chuột đực với liều 100,0 mg / kg trong thời gian 60 ngày, đã không hoạt động.
Trích xuất éthanol / nước tĩ lệ (1: 1) của những hạt khô, dùng đặt ống cho vào dạ dày ở chuột với một liều 250,0 mg / kg, đã hoạt động actif.
Mặc dù không có sự thay đổi mô học đáng kể trong những dịch hoàn testicules được ghi nhận, nồng độ của tinh trùng sperme đã được báo cáo là rõ ràng cho cả hai trong đuôi mào tinh hoàn queue de l'épididyme và những dịch hoàn testicules sau khi dùng thuốc trong thời gian 60 ngày là đáng kể.
Phần đoạn stérols của hạt sấy khô Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius dùng bởi đường tiêm trong cơ bắp intramusculaire ở những chuột là hoạt động actif.
Sự tổn thương dịch hoàn testiculaires được đánh dấu bởi ngưng sản xuất tinh trùng spermatogenese và một sự giảm đáng kể của đường kinh ống dẫn tinh tubes séminifères cũng đã được ghi lại.
● Hiệu chống loài nhuyễn thể Antimolluscicidal :
40 và 80% của CL50 của 24 heures của thành phần abrine và glycyrrhizine gây ra một sự giảm đáng kể của những mức độ :
- chất đạm protéines,
- acides aminés tự do,
- AND,
- và ARN
trong những mô thần kinh của loài nhuyễn thể ốc Lymnaea acuminata.
Thành phần Abrine gây ra một sự giảm đáng kể của những mức độ của phospholipide và một sự gia tăng đồng thời của tỷ lệ của oxy hóa chất béo không bảo hòa peroxydation lipidique trong loài ốc được xử lý .
● Hiệu quả gây độc phôi embryotoxique :
Trích xuất éthanol (95%) của những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, được dùng cho uống với những chuột hamsters mang thai và những chuột rats với những liều 200,0 mg / kg, đã không hoạt động inactive.
Trích xuất éther de pétrole, dùng cho uống ở những chuột rats với một liều 150,0 mg / kg, đã không hoạt động inactive.
Trích xuất trong nước của những hạt sấy khô Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, dùng bởi đường ống vào trong dạ dày ở những chuột rates mang thai với một liều 125,0 mg / kg, đã không hoạt động inactive.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius có độc tính cao toxique. Nó có chứa thành phần abrine ( một trong 5 glycoprotéines tương cận với chất ricine, từ Cây Thầu dầu Ricinus communis ), là một chất độc hại thực vật được biết nguy hiểm nhất. Chỉ cần một hạt có thể đưa đến tữ vong cho một em bé.
▪ Độc tính của hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius được sử dụng ở Việt Nam để tự vận, do đó có tên địa phương là cây  " Tương tư tữ ", dịch nghĩa là “ Tương tư rồi tự tữ ” và trong Ấn Độ, dùng cho mũi tên tẩm độc.
Biện pháp phòng ngừa :
▪ Những người đàn bà mang thai không nên tiêu thụ thực vật này, bởi vì có thể gây ra hư thai fausse couche.
▪ Những người phụ nữ độc thân không nên dùng những hạt của thực vật này, bởi vì nó tiềm năng ngăn ngừa mang thai conception.
▪ Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius có chứa một hàm lượng chất độc hại gọi là Abrin. Do đó, mà những hạt này không nên tiêu dùng trực tiếp.
Những độc tố được loại bỏ bằng cách đun sôi những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius trong sữa và sau đó được sấy khô chúng.
▪ Không giống như những thực vật khác, những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius không được tiêu thụ trực tiếp. Nó phải được xử lý để loại bỏ những độc tố toxines trước khi tiêu dùng.
▪ Bởi vậy, không nên khuyến khích trồng những Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius này trong vườn nhà.
▪▪▪ Người ta nói rằng sự nấu chín tiêu hủy những chất độc trong hạt. Những hạt có một trọng lượng duy nhất 1 / 10 ème gramme, như vậy có thể sử dụng làm đơn vị trọng lượng đo lường.
Ứng dụng :
▪ Thành phần abrine khi xưa được dùng để chữa trị :
- bệnh đau mắt hột trachome.
Cây nguyên tươi hoặc sấy khô dùng để chữa trị :
- ho toux,
- hoặc bệnh kiết lỵ dysenterie..
▪ Khó chịu trong bụng Inconfort abdominal :
Nghiền nát rễ của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, thành bột nhão pâte, đắp vào nơi bụng.
Dùng 5 g bột nhão pâte như một liều duy nhất. Liều duy nhất cũng dùng chữa trị :
- ung bướu khối u ở bụng tumeur abdominale.
▪ Phá thai avortement :
Thu hoạch rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius vào ngày thứ 7 bất kỳ và nghiền với nước thành bột mịn .
Dùng 5 ml đến 10 ml bột mịn này pâte, với liều duy nhất, dùng 1 lần .
▪ Ngừa thai contraception :
Bóc vỏ của 2 hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
Nhét những hạt này trong 1 trái chuối chín. Sau khi có kinh menstruation, đi tắm và ăn trái chuối này như một liều / ngày. Tiếp tục trong 3 ngày.
(hoặc) Lột vỏ 3 hạt  của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
Dùng 3 hạt trong 1 liều vào ngày thứ 3 của chu kỳ kinh nguyệt. Điều này hành động như cách ngừa thai trong vòng 3 năm.
▪ Ho toux :
Nghiền nát những rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius.
Dùng 5 g bột nhão này với sữa bơ nguyên chất ( chế tạo từ sữa bò ) 3 lần trong ngày, trong vòng 4 ngày .
Thận trọng : Không dùng  những thức ăn không có thực vật ( thức ăn chay ) trong quá trình chữa trị.
▪ Linh hồn ma quỷ esprit Evil :
Nghiền nát rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius với từ 3 đến 5 số hạt tiêu đen và 5 g gừng sấy khô để thành một bột nhão pâte. Dùng bột nhão này uống để loại bỏ những linh hồn xấu ( ma quỷ ) mauvais esprits hoặc những ma thuật đen magie noire.
Ngoài ra cũng buộc một miếng rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius trên tay để có được kết quả ngay lập tức.
▪ Lão hóa tóc vieillissement des cheveux :
Nghiền nát những và những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius. Ly trích nước ép jus  của bột nhão pâte. Áp dụng nước ép jus trên tóc như dầu 1 lần / ngày, 1 giờ trước khi đi tắm gội.
Áp dụng trong vòng 3-4 ngày.
▪ Di tinh, mộng tinh Spermatorrhée :
Mang nước mát sạch và giữ trong 1 ngày trong một bình chứa. Mài phân nửa của 1 hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius với 1 ít nước của bình chứa.
Uống dung dịch này như một liều / ngày . Dùng 21 liều trong 21 ngày.
▪ Nhiễm sâu infection Worm :
Nghiền nát những hạt khô Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius làm thành bột.
Dùng 1 muỗng cà phê 1 lần / ngày, trong 2 ngày.
▪ Vết thương :
Nghiền nát những rễ Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius với căn hành tươi của nghệ Curcuma longa.
Áp dụng bột nhão này trên những vết thương cho đến khi kéo mài cứng.
● Những sử dụng khác :
▪ Đơn vị đo lường kim hoàn.
Những hạt của Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius có một đặc tính duy nhất của một trọng lượng duy nhất 1 / 10ème gramme. Nó đã được sử dụng bởi những tiệm kim hoàn như một đơn vị đo lường truyền thống.
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius, ngày xưa đã từng sử dụng bởi những người dân Ashantis của Phi Châu Afrique như một đơn vị đo lường carats để cân vàng.
▪ Chuổi hạt trang sức .
Những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius là những hạt chuổi màu đen hoặc trắng hoặc một màu giống như con bọ rùa coccinelles tuyệt với. Nó rất phổ biến được sử dụng như những hạt chuổi trong trang sức.
▪ Trang trí, những hạt được sử dụng để chế tạo những chuổi tràng hạt ( nguồn gốc của sự sử dụng dưới tên địa phương « hạt đậu của bài kinh chủ nhật haricot paternoster ») hoặc món đồ trang sức bijoux.
Nếu mang đồ trang sức bijoux như thế nào không thể hiện một sự không bình thường nguy hiểm, tuy nhiên, nó được khuyến khích mạnh là giữ không cho vào trong miệng hoặc cho những trẻ em.
Vào tháng 3 năm 2012, những vòng đeo tay chuổi hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius đã được rút khỏi thị trường Anh Quốc Royaume-Uni sau khi phát hiện có những triệu chứng của sự ngộ độc.
▪ Nhạc cụ Instruments de Musique
Những hạt như những hạt chuổi và được sừ dụng trong chế tạo nhạc cụ gõ.
Réunion, cũng được sử dụng trong những kayamb hoặc "caïambe", nhạc cụ hình vuông chế tạo bởi ống tre rỗng, mà người ta khuấy động của những bàn tay để có âm thanh “ hạt ” của vũ điệu maloya.
▪ Linh hồn ác mauvais Esprits – Biến đi.
Trong một vài nước như Antilles, những hạt màu được đeo vào cổ tay / trang sức họ tin rằng để thoát khỏi những linh hồn ma quỷ.
▪ Những và những hạt Cây Cườm thảo đỏ Abrus precatorius là chất dinh dưởng mà những hạt nấu chín được tiêu dùng trong một số vùng của Ấn Độ.

Nguyễn thanh Vân