Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

lundi 18 août 2014

Mật sát - Sea mango - Tanghin

Sea mango - Tanghin
Mật sát - Mướp xác hường
Rừng ngập mặn mangroves
Cerbera manghas L.ex Gaertn
Apocynaceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học đồng nghĩa : Cerbera tanghin Hook, Cerbera venenifera (Poir.) Steud.
Cerbera là một giống với khoảng 10-15 loài cây nhỏ với lá không rụng hoặc những tiểu mộc, có nguồn gốc ở Châu Á nhiệt đới Asie tropical, trong Australie, Madagascar, Seychelles và những đảo phía tây biển Thái Bình Dương océan Pacifique.
Ba (3) cây của giống Cerbera sống trong những vùng rừng ngập mặn mangroves là :
Cerbera floribunda, Cerbera manghas, và Cerbera odollam.
Giống Cerbera được gọi theo tên Cerberus, bởi vì tất cả những bộ phận cửa cây là độc hại, cây chứa chất cerberin, một glycoside cardiaque, một chất tác dụng ngăn chận những xung điện impulsions électriques trong cơ thể ( bao gồm nhịp đập của tim ).
Không bao giờ người ta dùng gổ Cerbera để đốt lửa. Ngay cả khói của nó cũng gây ra ngộ độc.
Ngộ độc của cây Cerbera odollam là nguyên nhân quan trọng của tử vong ở Madagascar trong thời victorienne.
▪ Môi trường sống
Người ta tìm thấy thường nhất ở ven sông, trên bờ biển, môi trường ngập mặn. Cây Cerbera có thể phát triển trong những khu rừng ẫm ướt, rừng khô và trong sự hình thành khu rừng chịu mặn halophile.
Cerbera manghas được phân phối tự nhiên trong quần đảo Seychelles trong Ấn Độ Dương về phía đông đến Polynésie Pháp. Cerbera manghas chiếm môi trường sống ở ven biển và thường gắn liền với những rừng ngập mặn mangroves.
Ở Madagascar, Cerbera manghas được phổ biến và gặp trong những khu rừng thường xanh ẫm ven bờ biển cũng như trong những khu rừng khô rụng lá bên trong đất liền cho đến 150 m độ cao.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Đại mộc nhỏ, lá không rụng, có thể đạt từ 6 - 8 m chiều cao nhưng dưới 25 m, và thân có thể đến 50 cm đường kính, thân thường ngoằn ngoèo, không lông, mủ trắng trong tất cả các bộ phận của cây, vỏ dầy thô, có vảy, nốt mụn lớn, màu xám đến nâu sẫm, nhánh dày và mọng nước để lại nhiều vết sẹo của lá rõ ràng.
, có phiến thon, hẹp hay hình bầu dục kích thước 5-30 cm x 1-8 cm, dạng cái nêm cunéiforme ở đáy, nhọn ở đỉnh, lá đơn, bìa nguyên, láng như da, dài 20-30 cm, mọc cách xếp theo đường xoắn óc, hợp thành nhóm ở ngọn nhánh, gân phụ mảnh, nhiều, với 15-40 cặp gân bên, cuống lá dài 4-5 cm.
Phát hoa, chùm ở ngọn nhánh đạt được 25 cm x 15 cm, mang nhiều hoa, cuống phát hoa 1,5-12 cm, lá bắc dài gần như những đài hoa, rụng sớm.
Hoa, rộng 4-5 cm, hình phễu màu trắng, tâm hường. Hoa lưỡng phái, đều, 5 cánh có thùy, thơm, cuống hoa dài 0,5-3 cm, không đĩa mật. Đài hoa hình trứng hay hình bầu dục từ 0,5-(1)-3,5 cm x khoảng 0,5 cm, xòe ra vặn cong. Vành hoa hình ống phễu từ 1,5 - 5,5 cm dài, lan rộng ra ở ngọn, màu xanh sáng. Tiểu nhụy 5, gắn ngay trên đỉnh ngọn, được bao phủ bởi những vảy của ống vành, bao phấn, không cuống. Bầu noãn thượng, hình cầu, tâm bì rời 2, vòi nhụy dài và mãnh, đầu nướm gồm môt phần cơ bản với 5 cạnh, một màng và một đỉnh hình chóp.
Quả, nhân cứng, từng cập rời do bầu noãn 2 tâm bì rời, bầu dục, hơi nhọn, to 2,5-5 cm đường kính, màu đỏ tươi khi trưởng thành, bên trong chứa 1 đến 2 hạt rất độc.
Hạt, hình cầu dẹt, khoảng 2,5 cm đường kính, với một cánh nhỏ ở đầu,
Bộ phận sử dụng :
Lá, vỏ, hạt, hoa, mủ sữa trắng Latex.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Trong sự nghiên cứu những thành phần hóa học của cây vùng rừng ngập mặn mangrove ở Tàu, thực vật Cerbera manghas được thu hoạch ở đảo Hainan. Trên cột sắc ký giấy, đã lập lại nhiều lần, đã thực hiện để phân lập và làm tinh khiết. Những thành phần hợp chất đã được xác định bởi sự phân tích những dữ kiện của RMN 1D và 2D, cũng như những dữ kiện quang phổ IR và SM.
▪ Một monoterpène thẳng mới được đặt tên là :
- (2E, 6S) -8-2-hydroxyméthyl-6-méthyl-2-octénoïque hydroxy-acide (1),
- với cerbinal (2),
- cerberidol (3),
- 2α, 3β, 24 trihydroxyolea-12FR 28oic-acide (4),
- 4,4 ', 9,7'-tétrahydroxy-3,3'-diméthoxy-7,9'-epoxylignan (5),
- (-) - olovil (6), (+ ) -cycloolivil (7),
- naringénine-7-glucoside (8),
- aromadendrin (9),
- naringenine (10),
- và (+) - dihydroquercétine (11)
đã được phân lập từ những trích xuất EtOH và CH2CI2.
Những hợp chất 4, 5, 8 đến 11 đã được phân lập từ cây này lần đầu tiên.
Xia Yu1, Min-Juan XU1, Zhi-Wei Deng2, Wen-Han Lin1 *
● Nghiên cứu Cardenolide monoglycosides mang lại :
▪ Sáu (6) monosides nhỏ, chủ yếu là :
- digitoxigenibn,
- acofriosides,
- và tanghinigenin.
▪ và monosides lớn :
- 17β - neriifolin,
- và 17α-neriifolin,
- 17β- deacetyhanghinin,
- và 17α-deacetyhanghinin.
▪ Nghiên cứu vỏ cây Mật sát Cerbera manghas thu được 2 hợp chất mới :
- 1,3-bis(m-carboxylphenyl)-propan-2-one,
- và 2-(m-carboxylphenyl)-3-(m-carboxylbenzyl) succinic acid.
● Những thành phần hóa học của Mật sát Cerbera manghas, gồm có :
- diacetylneriifolin,
- acide succcinic,
- nicotiflorin,
- rutine,
- L (+) bornessitol,
- neriifoline,
- 17-β-H-nériifoline,
- deacetyltanghinin,
- và 17 β-H-deacetyltaughinin.
▪ Chín (9) thành phần hợp chất thư được, bao gồm :
- p-hydroxybenzaldéhyde (1),
- benzamide (2),
- n-hexadécane monoglycéride acide (3),
- loliolide (4),
- β-sitostérol (5),
- cerberin (6),
- nériifoline (7),
- cerleaside A (8),
- daucosterol (9).
Zhang Xiao-poa, Pei Yue-moyeu, Liu Ming-Shenga, ,,, Kang Sheng-lia, Zhang Jun-Qinga,
● Những thành phần hóa học của vỏ Mật sát Cerbera manghas, thu được :
- một iridoïde-cerbinal,
với dẫn xuất của nó :
- 10-carboxy (acide cerberic),
- và 11-carboxy ( acide cerberinic ) (Rastogi và Mehrotra, 1993).
▪ Hai (2) hợp chất mới :
- 1,3-bis (m-carboxylphenyl) propan-2-one (1),
- và 2-(m-carboxylphenyl) -3 (m-carboxylbenzyl) acide succinique (2),
đã được phân lập từ vỏ của cây Mật sát Cerbera manghas, và cấu trúc của chúng được thiết lập trên căn bản của phương pháp quang phổ spectroscopiques.
Xiao-Po Zhanga, Ming-Sheng Liu, Jun-Qing Zhang, Sheng-Li Kang vàYue-Hu Pei
Rễvỏ của thân Mật sát Cerbera manghas chứa :
- những glycosides cardiaques gentiobiosyl thevetoside,
- glucosylique thevetoside,
- và thevetosides tanghinigenin.
▪ Rễ cũng chứa :
- β-sitostérol (Rastogi và Mehrotra, 1990).
● Nghiên cứu trích xuất của rễthân thu được 20 thành phần hợp chất và đã xác định 8 như là :
Hai (2) cardiaques glycosides,
- (-)-17β-neriifolin,
- và 17β-Digitoxigenin-β-D-glucosyl-(1→4)-α-L-thevetoside;
Hai (2) iridoids,
- Cerbinal,
- Coniferaldehyde;
Một (1) acide hửu cơ :
- Vanillique acid;
và hai ( 2) lignans,
- (-)-olivil,
- và (+)-Cycloolivil;
và :
- 8-Hydroxypinoresinol.
● Nạt của hạt Mật sát chứa :
- thévétine B,
- monoacetylthevetin B,
- nériifoline,
- diacetylneriifolin,
- và glycosides cardiaques cerbertin,
- cerbertatin,
- và acetylcerbertin.
▪ Những hạt cũng chứa :
- glycosides digitoxigénine,
- và glycosides tanghinigenin.
Đặc tính trị liệu :
Hoa Mật sát Cerbera manghas dùng để chữa trị :
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
▪ Vỏ của thân hoặc những cây Mật sát Cerbera manghas đôi khi được sử dụng như :
- thuốc tẩy xổ purgatif,
nhưng những biện pháp phòng ngừa tuyệt đối phải được thực hiện nghiêm nhặt lý do là :
- độc tính quá cao của cây.
Vỏ thân Cerbera manghas sử dụng cho :
- nhuận trường laxatif,
- và hạ sốt antipyrétique,
và chữa trị :
- tiểu khó dysurie,
- và bệnh ghe hay nấm ngoài da teigne.
  Rễ, vỏ và những Mật sát Cerbera manghas dùng chuẩn bị để :
- tẩy xổ purgatif.
Quả nhân cứng Cerbera manghas là :
- chất gây mê narcotique,
- và độc hại toxique.
Hạt cây Mật sát Cerbera manghas được ghi nhân là :
- độc hại toxique.
- làm nôn mữa émétique,
- và làm tẩy xổ purgatif.
▪ Hạt nhân trái Mật sát Cerbera manghas khi ăn vào bên trong cơ thể, gây ra :
- nôn mữa vomissements ,
- và xổ mạnh, tiếp sau đó suy sụp mất ý thức và tử vong mort.
Những hạt Cerbera manghas là cực kỳ độc hại toxiques và chứa :
- chất glycosides berbérine,
- có một tác dụng mạnh trên tim cœur.
Dầu hạt Mật sát Cerbera manghas trong thạch cao plâtres được áp dụng trên da có hiệu quả để chữa trị :
- ghẻ gale,
- và ngứa prurigo,
và được áp dụng trên tóc, để giết :
- chí rận poux.
Những trích xuất glycosides của hạt có hoạt động trên :
- suy tim insuffisance cardiaque.
Cơ chế đặc tính hóa học :
▪ Những hạt Mật sát Cerbera manghas chứa những dẫn xuất hétérosides của tanghinigénine và digitoxigénine (cardénolides), như là :
- cerbérine,
- nériifoline,
- thévétine B,
- và 2’-O- acétyl-thévétine B.
Những cardénolides chánh chứa trong vỏrễ cây Mật sát Cerbera manghas là :
- gentiobiosyl-thévétoside,
- và glucosyl-thévétoside
cũng như chất khác :
- thévétosides dẫn xuất của tanghinigénine.
Số lượng của cardénolides hiện diện trong những thay đổi theo những mùa.
▪ Một số nhất định cardénolides cho thấy ở người một hoạt động chống sự tăng sinh antiproliférative chống lại với những bệnh :
- ung thư đại trường cancer du côlon,
- ung thư vú sein,
- phổi poumon,
- và những dòng tế bào ung thư biểu mô vảy cellules de carcinomes épidermoïdes,
cũng như một hoạt động :
- chống kích thích tố sinh dục nữ œstrogène anti-œstrogène.
▪ Chất cerbérine hành động trên những chuẩn bị của cơ trơn muscles lisses như một kích thích cho cả hai :
- căng thẳng bắp cơ tension musculaire,
- và cho những như động ruột mouvements péristaltiques.
Cũng như, hoạt động như :
- một chất độc kích thích hệ thần kinh đối giao cảm poison parasympathomimétique.
Cerbérine hành động cho cả hai, trên :
- nhịp tim rythme,
- và trên biên độ tim amplitude cardiaque.
Với liều dùng vừa phải, chất cerbérine có những đặc tính :
- co bóp tốt ( tích cực ) inotropes positives,
nhưng nếu dùng liều mạnh, trở nên độc hại toxiques, cho ra một hiệu quả :
- co bóp inotrope yếu,
- và thay đổi làm chậm nhịp đập tim chronotrope négatif.
● Những nghiên cứu hóa thực vật phytochimiques cũng đã cho thấy sự hiện diện của một chuổi :
- chất lignanes, dẫn xuất của olivil ( những cerbéralignanes )
và những monoterpénoïdes như :
- cerbéridol.
● Những trích xuất trong éthanol của cây Mật sát Cerbera manghas đã cho thấy một hoạt động chọn lọc chống lại :
- vi khuẩn viêm miệng mụn nước virus de la stomatite vésiculeuse (VSV).
▪ Chất olivil, carinol và cyclo-olivil cho thấy những hoạt động :
- chống oxy hóa anti-oxydantes.
► Độc tính Toxicité :
▪ Những trái hạt cây Mật sát Cerbera manghas là độc hại toxiques.
▪ Trái xanh sử dụng để giết chết chó chiens.
▪ Nhựa trắng Latex gây ra mù lòa cécité.
▪ Nhân hạt trái Mật sát Cerbera manghas là một chất độc kích ứng poison irritant, có thể là nguyên nhân làm :
- ói mữa vomissements,
- tẩy xổ purge,
- làm suy sụp, mất ý thức ( ngất ) effondrement,
- và tử vong mort.
▪ Cây Mật sát Cerbera manghas với hàm lượng hợp chất glycosides cardiaques có nguyên nhân của :
- tự tử chết décès suicidaires,
- hoặc giết người meurtrières.
▪ Báo cáo tự sát suicide :
Nghiên cứu ở Tích Lan Sri-lankaise ghi nhận 7 trường hợp tử vong do sự tự ngộ độc auto-intoxication của cây Mật sát Cerbera manghas với đặc điểm điển hình của sự ngộ độc của cardénolide :
- rối loạn nhịp tim rythme cardiaque,
- và gia tăng lượng kali trong máu hyperkaliémie.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Những hạt cây Mật sát Cerbera manghas được dùng trong y học truyền thống ở Madagascar để chữa trị :
- những bệnh tim affections cardiaques.
Tuy nhiên, những hạt này rất độc hại toxiques và được sử dụng cho đến giữa thế kỷ XIXe như :
- xét nghiệm chất độc poison d’épreuve.
▪ Trong Á Châu nhiệt đới, những hạt được sử dụng để điều trị :
- bệnh ghẻ gale,
- và những bệnh ngứa démangeaisons,
để bào chế :
- một thuốc bổ tóc tonique capillaire,
và như :
- một chất độc cho cá poison de pêche,
▪ Trong Nam Dương Java, sử dụng như những dầu nóng, chà xát trên da như thuốc bôi làm nổi đỏ da rubefacient để chữa lành :
- bệnh cảm lạnh rhume.
▪ Trong Birmanie, dầu được áp dụng trên tóc như :
- thuốc diệt côn trùng insecticide ( như giết chí rận )
▪ Nhựa sữa trắng Latex thu được ở những lá Mật sát Cerbera manghas là chất làm :
- nôn émétique,
- và tẩy xổ purgatif.
Vỏ mật sát Cerbera manghas là :
- chất tẩy xổ purgative.
▪ Trái Mật sát Cerbera manghas đi kèm với Cà độc dược Datura sử dụng cho :
- sợ nước hydrophobie.
▪ Trái đỏ, với tình trạng tươi, chà xát vào chân để cho :
- những bệnh phong thấp rhumatismes.
▪ Nhựa sữa trắng Latex là :
- chất làm đỏ rubefacient trên da peau.
▪ Nhân hạt trái Mật sát Cerbera manghas sử dụng như chất gây :
- sẩy thai abortif.
▪ Dầu Mật sát Cerbera manghas dùng trên da để chữa trị :
- ngứa démangeaisons.
Nghiên cứu :
● Cardénolide monoglycosides / Lá :
Nghiên cứu những lá khô ngoài không khí của cây Mật sát Cerbera manghas và cây tự tử Cerbera odollam cho được glucos-3-ulosyl-thevetosides của :
- 17α -digitoxigénine và 17 α- tanghinigenin.
Những tươi cho được :
- oleagenin glucosyl-thevetoside,
- và digitoxigénine gentiotriosyl-thevetoside. (1)
đặt bên cạnh glycosides được biết :
- glucosyl-thevetosides của digitoxigenin,
- và tanghinigenin.
Sự khác biệt của lá khô phơi ngoài không khí và lá tươi và những mô hình trong hai loài manghas và odollam đã được thảo luận.
● Gây độc tế bào Cytotoxicité :
Hoạt động gây độc tế bào của những trích xuất trong méthanoliques của những lá thu thập từ 39 thực vật của bờ biển Iriomote Island, cận nhiệt đới Nhật Bản đã được khảo sát trên những tế bào bạch huyết người leucémie humaine (K562 cellules) bằng cách sử dụng máy đo tế bào dòng chảy cytomètre en flux với 2 đầu dò huỳnh quang fluorescentes :
- bromure d'éthidium,
- và annexine V-FITC.
Năm (5) trích xuất (10 microg / ml) của những mẫu thực vật :
- Hernandia nymphaeaefolia,
- Cerbera manghas,
- Pongamia pinnata,
- Morus australis var. glabra,
- và Thespesia populnea,
ức chế mạnh sự tăng trưởng của những tế bào K562. Khi mà nồng độ được giảm xuống còn 1 microg / ml, chỉ có một trích xuất của Hernandia nymphaeaefolia còn ức chế sự tăng trưởng tế bào.
● Tanghinigenin / HL-60 tế bào kích hoạt tự hủy apoptose cellulaire :
Tanghinigenin, một glycoside cardiaque, được phân lập từ những hạt của cây Mật sát Cerbera manghas L.
Trong nghiên cứu này, cho thấy tanghinigenin giảm khả năng tồn tại của tiền tủy bào bạch huyết người promyélocytaire leucémie humaines Hl-60 trong một cách phụ thuộc vào :
- liều dùng,
- và thời gian,
- và quá trình tự hủy tế bào gây ra bởi tế bào HL-60,
như một bằng chứng xét nghiệm bởi :
- annexine V/PI ,
- sự phân mảnh của ADN,
- và nghiên cứu sự nhuộm màu AO / EB (Acridine orange/ethidium bromide).
● Phénylpropionique / khả năng gây độc tế bào cytotoxicité :
Hai (2) dẫn xuất mới của acides aminés :
- phénylpropioniques cerberic A (1),
- phénylpropioniques cerberic B (2),
được phân lập từ vỏ cây Mật sát Cerbera manghas. Cấu trúc được thiết lập trên cơ sở của phương pháp quang phổ spectroscopiques, bao gồm IR, ESI-FT-ICR- 1D và 2D NMR.
Thử nghiệm sinh học chính cho thấy thành phần hợp chất (1) có một hoạt động gây độc tế bào cytotoxique chống lại :
- HepG2,
- MCF-7,
- và HeLa dòng tế bào với IC(50) gíá trị  44,7, 52,3, 48,7 microg / ml, tương ứng.
● Chống nấm antifongique :
Trích xuất bằng phương pháp ngâm và ly trích bởi siêu âm ultrasons, những trích xuất của lá Mật sát Cerbera manghas đã cho thấy là :
- kháng khuẩn antifongique đến 9 loại nấm gây bệnh bởi phương pháp GRIB..
Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng giai đoạn ly trích trong butanol từ những lá Mật sát Cerbera manghas đã được xác định chắc chắn tối ưu cho hoạt động :
- kháng khuẩn antifongiques.
Hoạt động tốt nhất chống lại nấm Fusarium oxysporum f.sp cubense.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Những lá và những trái Mật sát chứa một chất tác dụng mạnh cho tim ( một glycoside ) được gọi là "cerberin", cực kỳ độc toxique trong trường hợp ăn vào ingestion.
▪ Những người trong thời cổ đại xa xưa, chất nhựa của cây Mật sát Cerbera manghas như một chất độc dùng để săn thú vật (Tomlinson, PB 1995 Le Botanique des mangroves Thực vật của rừng ngập mân ).
▪ Những trái được ghi nhận, ăn vào để tự tử trong quần đảo Marquises, (Whistler, WA 1992 Fleurs de l'île du Pacifique Seashore).
▪ Trong Hawaii Mật sát Cerbera manghas đôi khi còn đuợc gọi là " trái táo tự tử ” “ pomme de suicide".
Ứng dụng :
▪ Cây Mật sát Cerbera manghas cho ra một hạt nhân cứng rất độc hại gọi là « tanguin ». Những người Malgaches ngày xưa sử dụng như kiễm tra chất độc của một thử thách “ ordalie ” một hình thức cổ xưa bằng chứng tại tòa tôn giáo gọi là sự phán xét của Chúa đương sự phải chịu một sự thử nghiệm để xác định có tội hay vô tội của những người bị kết tội phù thủy sorcellerie.
  Chất độc : Trong Benua, nhựa cây pha trộn với cây antiaris toxicaria gọi là cây "ipoh hay Upas" để sản xuất một chất độc.
▪ Ở Philippines, dùng như chất độc để thuốc cá trong những con suối nhỏ .
▪ Ở Sri Lanka, gỗ cây Mật sát Cerbera manghas dùng để chế tạo những mặt nạ đặc biệt vì gỗ nhẹ.
- Gỗ : gỗ mềm cho tạo ra một than gỗ tốt, người Siamois sử dụng vào năm 1778 cho bột thuốc súng poudre à canon.
 Thấp sáng : Trong Penang, dầu hạt dùng như một nguồn để thấp sáng .
▪ Gổ Mật sát Cerbera manghas đôi khi dùng ở Á Châu nhiệt đới sử dụng trong :
- những khuôn đúc moulures,
- vật dụng trang trí trong nhà boiseries intérieures,
- những thùng trái cây cagettes de fruits,
- tủ gổ bois de placage,
- những cây viêm quẹt allumettes,
- cánh cửa volets,
- guốc sabots,
- vật dụng đơn giản mobilier simple,
- điêu khắc sculpture,
- và như than củi charbon de bois.


Nguyễn thanh Vân

samedi 16 août 2014

Lá Lức - Indian camphorweed

Indian camphorweed
Lá Lức - rừng ngập mặn
Pluchea indica (L.) Less.
Asteraceae
Đại cương :

Danh pháp ưu tiên chấp nhận :

▪ Pluchea indica (L.) Less.

Những danh pháp khoa học đông nghĩa khác :

▪ Baccharis indica L.
▪ Conyza corymbosa Roxb.
▪ Conyza foliolosa Wall. Ex DC.
▪ Conyza indica (L.) Blunme ex DC.
▪ Erigeron denticulatus Burm. F.

Tên địa phương :

Tên thông thường bao gồm :
- camphorweed Indien,
- vergerette Indien,
- và Pluchea indienne.
Việt Nam gọi là Cây Lá Lức
Cây Lá Lức có nguồn gốc của một số vùng Châu Á và Úc Australie, và rất lan rộng trong những đảo của Thái Bình Dương Pacifique như một loài xâm lấn đưa vào và thường xuyên.
Loài lai giống với Pluchea carolinensis khi mà 2 cây cùng trồng chung với nhau cho ra một loài lai đã được đặt tên là Pluchea × fosbergii.
Cây Lá Lức Pluchea indica
 chứa những thành phần hợp chất như :
- β-sitostérol,
- và stigmastérol, có những đặc tính chống bệnh tiểu đường antidiabétiques.
β-sitostérol phân lập của trích xuất từ rễ cũng có thể :
- trung hòa nọc độc của rắn vipère Russell ( Daboia de russelii ),
- và rắn cobra monocle ( Naja de kaouthia ).
Môi trường sống và hệ sinh thái :
Cây Lá Lức Pluchea indica, môi trường sống trong những vùng đồng bằng, những vùng đất ẫm ven sông, đầm lầy nước lợ ven biển và những vùng nước mặn khác, những vùng ngập mặn rừng sác mangroves và những bãi triều.
Cây Lá Lức Pluchea indica đôi khi được tìm thấy phía trong đất liền trong những khu vực rừng, nhưng loài này không thích hợp chịu đựng với những bóng râm dầy đặc.
Những vấn đề liên quan với loài này cũng tương tợ liên quan với loài Pluchea carolinensis. Loài cây này giới hạn với môi trường sống đồng bằng, đặc biệt trong những vùng ẫm ngập nước và những ao hồ (Smith, 1985. P 199).
▪ Mặc dù không phải là một cây cạnh tranh với những loài cây khác, cây Lá Lức Pluchea indica có thể dễ dàng xâm chiếm những môi trường sống ven biển và tác động vào những thực vật bản địa và sự canh tác.
Chúng " Thay đổi chổ thức ăn gia súc trong những cánh đồng cỏ ven biển và những thực vật bản địa trong những vùng đầm lầy marais và những vùng nhiễm mặn salines. Phá hủy môi trường sống của những chim nước oiseaux d'eau ” (Motooka và al., 2003).
▪ “ Thông thường, trong những đầm lầy nước lợ mặn marais saumâtres và những vùng nước mặn khác. Tại Đài Loan, lan rộng dọc theo bờ biển phía tây, thường xuất hiện trong những vùng duyên hải như là những rừng ngập mặn mangroves, những đầm lầy nước lợ, những bãi triều, v...v.. đôi khi tìm thấy trong  các khu vực rừng ở độ cao thấp ” (Peng và al, 1998).
▪ “ Dễ dàng ổn định thành tập đoàn trong những vùng và những vách đá chung quanh bờ biển nhiệt đới nhưng cũng đã được ghi nhận bên trong nội địa ở Hawaii với một độ cao 450 m.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Tiểu mộc cao 2-5 m, dựng đứng, phân nhánh nhiều, giòn. Những nhánh hơi có lông khi còn non, về sau trưởng thành trở nên láng.
, có phiến màu xanh lục sáng đều 2 mặt, gần như láng ở mặt trên, mùi thơm khi người ta nghiền nát, hơi mập, dòn, bìa lá có răng và không đều nhau, hình bầu dục thuôn dài hoặc ellip, kích thước 8 cm dài và 2-4 cm rộng, với đỉnh tù, bên dưới dạng cái nêm ( rộng bên dưới từ từ hẹp lên trên ), gần như không cuống.
Phát hoa, tản phòng ở ngọn, hoa đầu tím nhạt, hơi có lông, mỗi tản phòng từ 5 đến 7 cm dài, có nhiều hoa đầu nhỏ gọn, dưới  lá hoa 4-5 hàng.
Mỗi hoa đầu khoảng 6-7 mm đường kính, trên một cuống từ 0-10 mm dài. Tia hoa riêng lẻ với vành hoa từ 3 đến 5 mm dài, màu tím, 5 thùy, gồm 2 – 7 hoa nhỏ. Lá bắc hình trứng 5-7 xếp theo hàng, với những lá bên trong dài ra.
- hoa cái ở bên ngoài,
- hoa bên trong lưỡng phái, 2 – 7, tràng hoa từ 4,5-5,5 mm dài, với 5 thùy ở đầu, thùy có tuyến, bao phấn và vòi nhụy nhô ra rõ, có chùm lông trắng, thời gian tồn tại như tràng hoa.
Bế quả, màu nâu đỏ, rất nhỏ, dài 1 mm, rộng 0,3 mm, có lông, có 10 sọc, lông mào hơi trắng, khoảng 20 lông, không rụng
Bộ phận sử dụng :
Lá và rễ, dùng tươi hoặc khô.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Những và những bộ phận trên không của cây Lá Lức Pluchea indica chứa :
- những alcaloïdes,
- flavonoïdes,
- tannins,
- acide chlorogénique,
- những terpénoïdes,
- flavonoïdes,
- và một tinh dầu thiết yếu huile essentielle
những nguyên tố khoáng gồm :
- muối sodium Na,
- potassium K,
- aluminium Al,
- calcium Ca,
- magnésium Mg,
- và phosphore P.
Rễ cây Lá Lức Pluchea indica chứa :
- những flavonoïdes,
- và những chất tanins.
- pterocaptriol,
- plucheoside C, D1, D2 et D3 và E,
- plucheol A và B,
- hop-17 (21) -en-3 'β' - yl acétate,
- và acétate boehmeryl.
dầu thiết yếu huile essentielle :
Những thành phần hợp chất chánh của dầu thiết yếu huile essentielle, gồm :
- camphre,
- α-pinène,
- alcool benzylique,
- acétate de benzyle,
- eugénol,
- linalol,
- và delta-cadinol
Đặc tính trị liệu :
▪ Dầu thiết yếu cho thấy một hoạt động kháng khuẩn antimicrobienne trong những điều kiện của phòng thí nghiệm trên sự tăng trưởng của vi khuẩn :
- Staphylococcus aureus,
- và Escherichia coli,
những nấm gây bệnh như :
- Microsporium gypseum,
- và Candida albicans,
cũng như những nấm không gây bệnh non-pathogène, như :
- Pithium ultimum,
- và Xanthomonas campestris
Trích xuất của cây Lá Lức Pluchea indica thể hiện một hiệu quả lợi tiểu diurétique liên quan với liều dùng, không có sự thay đổi bệnh lý pathologiques phát hiện thậm chí sau những liều dùng tăng cao.
▪ Một trích xuất trong methanol của rễ cây Lá Lức Pluchea indica đã được thử nghiệm trong những mô hình khác nhau của :
- sự viêm inflammation,
- và loét ulcères, thực hiện trên cơ thể sinh vật in vivo
đã chứng minh một hành động :
- chống viêm anti-inflammatoire đáng kể,
và cũng một hành động bảo vệ chống lại :
- những bệnh loét ulcères
Trích xuất này cũng cho thấy một hành động quan trọng :
- bảo vệ gan hépatoprotecteurs đối với những tổn thương gan hépatiques do thực nghiệm gây ra.
▪ Trích xuất trong méthanolique của rễ cây Lá Lức Pluchea indica đã hoạt động che chở chống lại :
- nọc độc của rắn Vipera russellii,
nơi đây đã phát hiện để :
- giảm đáng kể sự nguy hiểm chết người létalité gây ra bởi nọc độc rắn,
- và hoạt động xuất huyết hémorragique
Nọc độc rắn gây ra sự đông máu coagulant và hoạt động chống đông máu anticoagulante cũng đã được đối kháng lại.
▪ Trong y học truyền thống, những lá cây Lá Lức Pluchea indica được xem như :
- chống ho antitussif,
- đổ mồ hôi sudorifique,
- hạ nhiệt fébrifuge,
- thuốc dễ tiêu stomachique,
- và lợi sữa galactagogue
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion được sử dụng để :
- kích thích đổ mồ hôi transpiration trong bệnh sốt. fièvre
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion như một trà thé, hoặc những và những chồi non nghiền nát ngâm trong rượu alcool, được dùng để chữa trị :
- bệnh đau lưng lombalgie
▪ Những lá nghiền nát, sống hay nấu chín bằng hơi nước, được tiêu dùng để :
- sửa chữa lại hơi thở hôi mauvaise haleine,
- và mùi hôi của mồ hôi khó chịu transpiration offensive
▪ Một nước nấu sắc décoction của lá và thân, được uống để giảm :
- bệnh suyễn asthme,
- và những vấn đề của phổi khác pulmonaires
▪ Một nước nấu sắc décoction của tươi được sử dụng trong hít thở inhalant để :
- chữa lành bệnh cảm lạnh rhume
▪ Bên ngoài cơ thể, những lá được dùng để làm giảm :
- những bệnh ngoài da maladies de la peau,
trong khi những tươi được áp dụng để chữa lành :
- những bệnh trĩ hémorroïdes.
▪ Những lá dưới dạng bột, trộn lẫn với sáp mật ong cire d'abeille và dầu trái thầu dầu huile de ricin, được áp dụng trong băng bó bandage cho trường hợp :
- gẫy xương kín fractures fermées
▪ Nước ép jus của những lá nghiền nhuyễn, pha trộn với nước ép của những cây khác, được dùng như một đơn thuốc chống lại :
- bệnh kiết lỵ dysenterie
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion của lá, thường kết hợp vớí thành phần khác, được cho là một phương pháp để chữa trị :
- những bệnh huyết trắng, bạch đới,  khí hư leucorrhées
Chủ trị : indications
Cây Lá Lức Pluchea indica có thể được chỉ định để :
- loại những mùi hôi của cơ thể, hơi thở hôi mauvaise haleine,
- thiếu mất khẩu vị bữa ăn manque d’appétit,
- những rối loạn tiêu hóa ở những trẻ em digestifs chez les enfants,
- hạch lao phổi glandes de la tuberculose (de skrofuloderma),
- đau nhức viêm khớp douleur de l'arthrite,
- đau nhức xương  douleur osseuse (osteodinia),
- đau lưng maux de dos (lumbago),
- bệnh sốt fièvre,
- kinh nguyệt đến không đều menstruations irrégulières, trắng nhạt.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Ấn Độ, những rễ và những cây Lá Lức Pluchea indica được sử dụng trong y học như :
- chất làm se thắt astringents,
- và là thuốc hạ sốt antipyrétiques.
▪ Trong Đông Dương Indochine.
Nước nấu sắc décoction của rễ dùng trong bệnh sốt fièvres như thuốc kích thích :
- đổ mồ hôi diaphorétique,
Ngâm trong nước đun sôi infusion lá cây Lá Lức Pluchea indica sử dụng cho :
- đau lưng lumbago.
▪ Trong Đông Nam Á và Thái Lan, những lá cây Lá Lức Pluchea indica được sử dụng như :
- thuốc bổ thần kinh tonique nerveux,
và chữa trị :
- viêm inflammation.
▪ Nước nấu sắc décoction của vỏ cây Lá Lức Pluchea indica dùng cho :
- những bệnh trĩ hémorroïdes.
▪ Trong Thái Lan tất cả bộ phận của cây Lá Lức Pluchea indica được sử dụng như :
- lợi tiểu diurétique,
- và chống bệnh tiểu đường antidiabétique
Một nước nấu sắc décoction của rễ hoặc lá cây Lá Lức Pluchea indica được đề nghị để chữa trị :
- bệnh sốt fièvre,
- đau đầu maux de tête,
- bệnh phong thấp rhumatismes,
- bong gân entorses,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- và chứng khó tiêu dyspepsie
Cây Lức sử dụng để tắm, trong chữa trị :
- bệnh ghẻ gale
Những rễ cây Lá Lức Pluchea indica, pha trộn với những thành phần khác, được áp dụng trong thuốc dán cao cataplasme để chữa trị :
- những đau nhức bệnh phong thấp douleurs rhumatismales
▪ Những nhà hiền triết Ấn Độ sử dụng bên ngoài, trong tắm đặc biệt, cho :
- một mùi thơm aromatique,
- và kích thích stimulant,
và cũng dùng trong :
- sự nhiễu loạn thần kinh tăng cường fomentations nerveuses.
Cây Lá Lức Pluchea indica được trộn với những thành phần khác trong một thuốc dán cao cataplasme, có hiệu lực một thuốc xoa bóp chống lại :
- sự yếu kém sau khi bị bệnh tiêu chảy diarrhée,
và chống lại :
- những loét ulcères,
- và những vết thương plaies
Nghiên cứu :
● Trong Ấn Độ Inde.
cây Lá Lức Pluchea indica được biết cho những đặc tính :
- chống viêm anti-inflammatoires,
- chống loét anti-ulcéreux,
- thuốc hạ nhiệt anti-pyrétiques,
- hạ đường máu hypoglycémique,
- hoạt động lợi tiểu diurétiques,
- và kháng vi khuẩn anti-microbiennes,
thêm nữa còn có nhiều hoạt động dược lý khác pharmacologiques.
Thành phần hợp chất có hoạt động chống lại :
- loài biến hình trùng Entamoeba histolytica, đã được xác định ( Ria Biswas và al., 2007 ).
Cũng ở Ấn Độ, những trích xuất từ rễ cây Lá Lức Pluchea indica thể hiện một hoạt động :
- bảo vệ gan hépatoprotective
đáng kể đối với sự tổn thương gan, thực nghiệm gây ra do bởi chất tétrachlorure de carbone ở chuột cống rat và chuột nhắc souris ( Sen và al., 2002 ).
● Trong Malaisie.
▪ Một nghiên cứu đã xác nhận rằng có một số căn bản cho sự sử dụng tại chổ của những trích xuất cây Lá Lức Pluchea indica để lám giảm những triệu chứng của :
- bệnh ho lao tuberculose (Suriyati Mohamad và al., 2011).
▪ Công việc nghiên cứu khác trong Malaisie kết luận rằng Lá Lức Pluchea indica có những tiềm năng đặc tính y học, có thể phát triển để sản xuất những sản phẩm:
- dược phẩm dinh dưởng neutraceutical,
- bổ sung thực phẩm suppléments alimentaires,
- hoặc sản phẩm mỹ phẩm cosmétiques ( Normala và al., 2011 ).
▪ Trích xuất trong nước nóng của cây Lá Lức Pluchea indica chứa một nguồn chống oxy hóa antioxydants và những chất ức chế của sự sản xuất oxyde nitrique và prostaglandine E2, có thể được sử dụng như thực phẩm bổ sung với những hiệu quả thúc đẩy cho sức khoẻ tốt ở Thái Lan (Srisook và al., 2012).
▪ Hoạt động chống oxy hóa mạnh rõ ràng liên kết với hàm lượng hợp chất phénolique cũng đã được đo lường ở Malaisie (Mohd Shukri và al, 2011; Mohd Nazri và al., 2011) và ở Ấn Độ và kết hợp với chất flavonoïdes cao (Sanchita Ghosh và al, 2008.) Indonésie ( Andarwulan và al., 2010 ).
Những kết quả thử nghiệm trên bình diện của những vi khuẩn cho thấy có thể sử dụng cây Lá Lức Pluchea indica như một liệu pháp thay thế trong chữa trị :
- những bệnh nhiễm trùng đường tiểu infections des voies urinaires (Sittiwet, 2009),
và để chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie (Pramanik và Chatterjee, 2008).
● Chống viêm Anti-inflammatoire :
Nghiên cứu phần đoạn méthanolique cửa trích xuất của chloroforme đã khử mỡ của rễ cây Lá Lức Pluchea indica cho thấy một hoạt động ức chế đáng kể bệnh viêm inflammation so với những chất như :
- carrageenin,
- histamine,
- sérotonine,
- hyaluronidase,
- và sodium urate,
Kết quả thiết lập hiệu quả của trích xuất trong :
- việc tiết dịch hữu cơ rĩ ra trong quá trình viêm exsudative,
- tăng sinh proliférative,
- và giai đoạn mãn tính của viêm inflammation.
● Hàm lượng phénolique :
Nghiên cứu cho thấy một sự khác biệt đáng kể của hàm lượng trên tổng số thành phần hợp chất phénolique trong những bộ phận khác nhau của cây Lá Lức Pluchea indica thử nghiệm.
Những chứa những thành phần phénoliques cao nhất, tiếp theo là thân và thấp nhất trong những hoa.
● Kháng vi khuẩn antimicrobiens :
Một trích xuất trong nước đã được thử nghiệm chống lại những vi khuẩn gram âm – và gram dương +.
Những kết quả cho thấy vùng ức chế Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae. Những kết quả cho thấy có thể sử dụng cây Lá Lức Pluchea indica như là một liệu pháp thay thế alternative thérapeutique trong chữa trị những bệnh nhiễm trùng đường tiểu voies urinaires.
● Bảo vệ dạ dày gastroprotectrice :
Phần đoạn méthanolique của trích xuất từ rễ cây Lá Lức Pluchea indica đã được tìm thấy như có một hoạt động chống loét anti-ulcère đáng kể trong những mô hình động vật làm thí  nghiệm khác nhau.
Cho thấy những hành động bảo vệ quan trọng trong :
- acide acétylsalicylique,
- sérotonine,
- và những tổn thương dạ dày lésions gastriques,
gây ra bởi chất indométacine ở chuột của phòng thí nghiệm.
● Chống oxy hóa antioxydant / Rễ :
Nghiên cứu trích xuất của rễ cây Lá Lức Pluchea indica cho thấy một hoạt động chống viêm anti-inflammatoire đáng kể đối với glucose oxydase gây ra chứng phủ thũng oedème chân, sự ức chế của gốc hydroxyle và sản xuất superoxyde gây ra bởi CCl4 peroxyde chất béo do quá trình oxy hóa chất béo không bảo hòa peroxydation lipidique và hoạt động của phân hóa tố dioxygénase.
● Chống tiểu đường Anti-diabétique / Gia tăng tiết insuline :
Một nghiên cứu trước đây đã cho thấy trích xuất thô giảm lượng đường máu glycémie trong thử nghiệm hạ đường máu hypoglycémie trên chuột bình thường.
Nghiên cứu của glibenclamide chữa trị, hexane, dichlorométhane và trích xuất nước, nhóm điều trị  cho thấy hiệu quả của những tế bào-β với sự gia tăng phóng thích insuline.
● Ức chế phân hóa tố α-glucosidase / Gia tăng phóng thích insuline :
Trích xuất lá cây Lá Lức Pluchea indica có một hoạt động ức chế chống lại phân hóa tố maltase ruột.
Một nghiên cứu cho thấy một tiềm năng của cây Lá Lức Pluchea indica như một thực phẩm chức năng aliments fonctionnels và bổ sung y học để chữa trị và ngăn ngừa :
- bệnh tiểu đường diabète.
● Chống ung thư Anti-Cancer / lá và rễ :
Trích xuất thô trong nước của lá và rễ cây Lá Lức Pluchea indica:
- tiêu hủy sự tăng sinh prolifération supprimée,
- khả năng sinh tồn viabilité,
- và sự di chuyễn migration của những tế vào HeLa và GBM8401.
Trong hiệu quả chống ung thư anti-cancer thực hiện trong ống nghiệm in vitro của thô và trích xuất từ rễ cho thấy một tiềm năng như một yếu tố chống :
- ung thư mới anti-cancer.
● Bảo vệ gan hépatoprotecteur / Thioacetamide gây ra xơ gan fibrose hépatique :
Một nghiên cứu đánh giá một trích xuất trong nước của rễ cây Lá Lức Pluchea indica trên một mô hình của chuột xơ gan fibrose hépatique gây ra bởi TAA.
Những kết quả cho thấy một hiệu quả :
- chống xơ anti-fibrotique.
● Trầm cảm của hệ thần kinh trung ương SNC :
Nghiên cứu trích xuất rễ cây Lá Lức Pluchea indica cho thấy một hiệu quả trầm cảm của hệ thống thấn kinh trung ương système nerveux central SNC mạnh với sự thay đổi mô hình của tâm tánh hành vi comportement :
- sự giảm vận động tự phát motilité spontanée,
- kéo dài thuốc an thần pentobarbital gây ra một giấc ngủ,
- ức chế mạnh mẽ một số hành vi tâm tánh hung hăng comportement agressif,
- và “ tránh phản ứng có điều kiện ”,
là một phản ứng biết thực hiện có ý thức hay không ý thức để tránh một kích thích khó chịu hoặc đau đớn réponse d’évitement conditionné.
phenylisothiocyanate PITC II / Chống ung thư Anticancer :
phenylisothiocyanate PITC II là một hợp chất mới thiophène thu được từ cây Lá Lức Pluchea indica của loài cây trồng.
Những dẫn xuất của monoamine tổng hợp cho thấy trong những nghiên cứu thực hiện trong ống nghiệm in-vitro để có những hiệu quả :
- chống ung thư anti-cancéreux,
- và gây độc tế bào cytotoxiques
chống lại dòng tế bào bạch huyết con người leucémiques humaines.
● Hoạt động gây tử vong cho muỗi Mosquitocidal / dầu thiết yếu :
Nghiên cứu đánh giá hoạt động gây chết muỗi mosquitocidal của dầu thiết yếu cây Lức Pluchea indica chống lại ấu trùng và trứng muỗi.
- Aedes aegypti,
- Aedes albopictus,
- Anapheles stephensi,
- và Culex quinquefasciatus.
Những kết quả cho thấy những mức độ khác nhau của hoạt động gây chết một trứng ovicidal, gia tăng theo nồng độ.
Kết quả dẫn đến con đường để khám phá thăm dò cây Lá Lức Pluchea indica để diệt trừ côn trùng muỗi vectors mosquitoes, sự lựa chọn về mặt y tế quan trọng cho con người.
● Nọc độc của rắn venin de serpent - Sự trung hòa neutralisation :
Nghiên cứu trên những thuốc giải độc antidotes cho tiêm nọc độc rắn hấp thu vào trong cơ thể envenimation cho thấy cây Lá Lức Pluchea indica như là một trong nhiều cây thuốc cho một hoạt động làm trung hòa vừa phải đối với nọc độc của rắn.venin de serpent.
● Rắn vipère và nọc độc rắn cobra - sự trung hòa neutralisation :
Nghiên cứu báo cáo sự trung hòa của nọc độc rắn cobra và Vipère, của chất :
- β-sitostérol,
- và stigmastérol, được phân lập từ rễ cây Lá Lức Pluchea indica.
Một nghiên cứu cho thấy rằng chất β-sitostérol và stigmastérol có thể đóng một vai trò quan trọng với kháng huyết thanh antisérum, bằng cách trung hòa những hành động gây ra bởi nọc độc của rắn venin de serpent.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không tìm thấy đề cập đến.
Ứng dụng :
● United States Department of Agriculture - Agricultural Research Service USDA-ARS (2012), đề cập đến một loạt những ứng dụng rộng rãi của sự sử dụng truyền thống cho cây Lá Lức Pluchea indica trong :
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- sốt fièvre,
- chứng hoại tử hay chứng bệnh hư thối gangrène,
- đau lưng lumbago,
- chứng béo phì obésité,
- bệnh huyết trắng, bạch đới khí hư leucorrhée,
- đồng tử khép nhỏ myosis,
- bệnh đậu mùa variole,
- những vết lở loét plaies,
- và những vết bị thương blessures.
và như :
- chất làm se thắt astringent,
- đổ mồ hôi diaphorétique,
- hoặc thuốc bổ tonique.
Cây lá Lức cũng được sử dụng như trà .
● Bản chất và lợi ích :
của cây Lá Lức Pluchea indica có mùi thơm và hương vị điển hình của ether, xem như :
- kích thích khẩu vị bữa ăn appétit ( dạ dày estomac),
- giúp đở sự tiêu hóa digestion,
- đổ mồ hôi sueur (diaforetik),
-  thuốc hạ sốt fièvre (antipyrétique),
Rễ cây Lá Lức Pluchea indica hiệu quả như :
- đổ mồ hôi sueur,
- và điều hòa ( làm dịu adoucissant )
● Phương cách sừ dụng :
Những lá và những rễ càng nhiều càng tốt khoảng 10-15 grammes,  trong nước đun sôi, sau đó uống.
Để sử dụng bên ngoài, những lá được nghiền nát, sau đó được gói cho cứng, dùng cho :
- những vết thương plaies,
- ghẻ gale,
- và những vết loét ulcères.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Những cây Lá Lức Pluchea indica non, những đọt mầm và những phát hoa được tiêu dùng sống hay chín.
▪ Thêm vào trong salade hoặc hấp chín với hơi nước và sử dụng như món ăn kèm với cơm gạo.
▪ cũng sử dụng như một gia vị.
▪ Những lá, những chồi non và những phát hoa, hoặc sống hoặc chín được tiêu dùng ở Nam Dương như một thức ăn kèm theo cơm gạo, salade, và đôi khi là một thành phần của món ăn súp.
▪ Trong Thái Lan, những lá được dùng như một hương liệu.
▪ Cây  Lá Lức Pluchea indica sử dụng như một rau cải salade trong Malaisie (Mohd Nazri và al., 2011) và như rau cải légume trong Indonésie (Andarwulan và al., 2010).


Nguyễn thanh Vân