Tâm sự

Tâm sự

dimanche 20 mai 2018

Cải phấn bột màu - Pastel des teinturiers

Dyer's woad
Pastel des teinturiers
Cải phấn bột màu
Isatis tinctoria - L.
Brassicaceae - Cruciferae
Đại cương :
Danh pháp khoa học : Isatis tinctoria L.
Tên thông dụng : Isatis,  pastel  des  teinturiers,  guède (guedde ou guesde), vouède, herbe de Saint-Philippe, herbe du Lauraguais, indigo français ou indigo des teinturiers.
▪ Isatis đi từ tiếng Hy lạp có nghĩa là “ đánh bóng polir ”.
Anh Anglais : woad, dyer’s woad
Đức Allemand : Waid, Färberwaid
Hà lan Néerlandais : Wede
Vùng Flamande : Weede
Ý Italien : Glasto comune (Glastum en latin), Guado
Tây ban Nha Espagnol : Guasto, Glasto, Hierba pastel
Liên sô Russe : Ijenack
Ba lan Polonais : Nilo
Tàu Chinois : tên gọi khác nhau cho những bộ phận khác nhau :
- Ban  Lan  Gen  (rễ ),
-  Da  Qing  Ye  (lá ),
-  Qing Dai (bột xanh dương ),
- trích xuất của Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria được biết dưới tên Da Qing Ye.
- và những trích xuất của rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria được biết dưới tên Ban Lang Gen.
Việt Nam : Cây Cải phấn bột màu.
● Môi trường sống và nguồn gốc :
Thực vật bản địa của những đồng cỏ miền đông nam nước Nga Russie, nó được lan tràn sang Châu Á Asie và trong Châu Âu Europe. Người ta cũng tìm thấy trong miền tây của Hoa Kỳ États-Unis, nơi đây nó được xem như một thực vật hoang dại độc hại.
Nó đã được gợi ý rằng Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria là thích ứng tốt ở miền Tây Hoa Kỳ Etats-Unis, bởi vì Cây này thích ứng được với những điều kiện kiềm alcalines và một khí hậu khô cằn (McConnell và al., 1999).
Loài này thịnh vượng trên một đất đá với một khả năng giữ nước giới hạn (McConnell và al., 1999), nhưng nó có thể mọc tốt trong một môi trường sống thay đổi khác nhau lớn.
Điều này bao gồm những môi trường sống đặc biệt nơi đây những loài thực vật hiếm khi được tìm thấy.
Tương tự, Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria có thể chiếm ưu thế những quần thể thực vật trong những cánh đồng cỏ, những khu rừng và vùng đất chăn thả khi nó sản xuất trong trạng thái của vi sinh vật có hại trong những tiểu bang miền tây Hoa Kỳ États-Unis.
Reeves (2010) đã ghi nhận sự tăng trưởng trên những đất đá khô với cấu trúc thô cũng được ghi nhân nó có thể xâm nhập vào trong những khu vực không bị quấy rầy và xáo trộn như là những lề đường, đường sắt, đồng cỏ, những cánh đồng ngủ cốc và cỏ linh lăng luzène, nhưng khu rừng và những đồng cỏ chăn thả.
 Trong Utah, Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria thích những đất lỏng lẻo vé kiềm alcalins (Varga và Evans, 1978).
Nó cũng mọc trên những đống đất quặng mỏ (Durães và al, 2015), dung nham (Anon, 2015c) và trong những đất trồng trọt với sự bổ sung những phân bón cao engrais (Howard, 2010). Hurry (1930) đã ghi nhận rằng nó đáp ứng với canh tác thâm canh.
Phạm vi địa lý rộng bao la của Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria trong Châu Âu Europe và Châu Á Asie có th ểlà yếu tố quan trọng của sự thành công của nó trong miền Tây Hoa Kỳ Etats-Unis.
Nó cho thấy rằng những loài được phân bố rộng rãi ađ’ phát triển khả năng dung nạp những điều kiện sinh học biotiques và nguồn tài nguyên đa dạng và đề kháng với nhiều kẻ thù có tiềm năng gây hại (Pyšek và al., 2015).
Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria chỉ ra một mức độ cao của tính đa dạng di truyền diversité génétique (Gilbert và al., 2002).
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân thảo, sống ổn định 2 năm, hoặc sống trong một thời gian ngắn, đôi khi được mô tả như một thực vật mùa đông, nhưng nó có thể thỉnh thoảng hoặc rất địa phương hóa.
Cây bắt đầu mọc như một đóa hoa hồng, những thân thẳng, đo được từ 35 đến 120 cm cao, nhưng thường thường đặc biệt trung bình từ 50 đến 90 cm và có thể tăng nhẹ hơn so với những con số trên. Cây láng hoặc có lông mịn.
Hệ thống rễ được chi phối bởi một rễ cái trọng yếu có thể vượt quá 1,5 m sâu, với những rễ phụ trên từ 20 đến 30 cm lan rộng ngang ra khoảng 40 cm.
Một số nguồn cho thấy có khoảng 20 thân bắt đầu phát triển từ mỗi dạng đóa hoa hồng với 7 hoặc ít hơn trưởng thành, trong khi những trong khi người khác cho rằng Cây thường một thân chánh, đơn giản bên dưới và phân nhánh bên trên.
, màu xanh dương lá cây và có lông nhẹ (Varga et Evans, 1978). những lá bên dưới thường có cuống dài khoảng 4-10 cm dài và 0,8-4 cm rộng, thường bao phủ bởi lá đơn với những lá của thân hẹp hơn những lá bên dưới dần dần giảm mọc lên trên thân, và những lá có màu xám xanh thuôn dài hình mũi dáo.
▪ Những lá năm đầu đính hình hoa hồng màu xanh lá cây dương đậm màu. Tiếp theo sau một tai nạn ( bị thương, mưa đá… ) những điểm xuất hiện màu tím.
▪ Năm thứ hai, những lá có màu xanh lá cây mềm hình mũi dáo, mang bởi thân đính dọc theo thân và càng lúc càng nhỏ và hẹp dần dần nó dựng đứng.
Nó ôm lấy thân bên dưới và mọc thành hai giai đoạn. Lúc đầu, mỗi lá tăng trưởng kèm theo “ một chồi nách nằm trong nách lá ” , sau đó chồi này phát triển và dẫn đến sự sản xuất một nhánh lá hoặc một nhóm hoa.
Sự phát triển này được tối ưu hoá. Nó được thực hiện theo vòng xoắn ốc chung quanh trục của thân.
Phát hoa, chùm hoa hình chùy phân nhánh vào mùa hè, đính nhiều hoa nhỏ màu vàng.
Hoa, lưỡng phái ( có cả hai cơ quan đực và cái ) và thụ phấn trùng môi ( nhờ côn trùng )
Trong năm thứ 2, những hoa vàng kim nhỏ khoảng 4 mm với những cánh hoa dài khoảng 3,5 mm, hợp thành nhóm chùm rậm hình thành ở đỉnh ngọn.
Tương tự, những hoa sinh ra ở bên dưới của lá sẽ không bị cản trở bởi những lá ở trên. Đặc tính này cho phép Cây thích ứng với nhiều vùng trên thế giới, thành phần của hoa gồm :
- đài hoa gồm 4 lá đài,
- vành hoa hình thành của 4 cánh hoa.
- và cơ quan sinh dục đực bao gồm 6 tiểu nhụy tétradynames (4 tiểu nhụy bên trong dài và 2 tiểu nhụy bên ngoài ngắn ).
- cơ quan sinh dục cái 2 tâm bì, với bầu noãm 1 noãn duy nhất.
Trái, là silique, có màu tối đen khi trưởng thành, không khai, từ 8 đến 18 mm dài và 2,5 đến 7 mm rộng, rơi xuống với một cuống trái ngắn và mỏng rủ xuống hoặc cong .
Hạt, một hạt ở giữa màu đen nhạt.
Bộ phận sử dụng :
Những , những rễ và những sắc tố pigments.
Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria là một dược thảo có thành phần hóa học trong lá, rễ, trái và những hạt dùng làm thuốc rất là thú vị.
▪ Những Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria được thu hoạch vào mùa và có thể sử dụng tươi hoặc sấy khô bảo quản để sử dụng về sau.
Những được thu hoạch khi trưởng thành và 3 đến 4 vụ thu hoạch có thể trong tổng số.
▪ Nó cũng  được ngâm và ly trích những sắc tố pigment màu xanh dương.
▪ Những rễ được thu hoạch vào mùa thu và sấy khô để sử dụng về sau.
▪ Mặc dù rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria được sử dụng thường nhất, những cũng là lợi ích.
Những Bác sĩ Y học truyền thống Tàu TCM nói rằng những Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria :
- "đi đến những bộ phận bên trên của cơ thể " nhiều hơn rễ,
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Thành phần hoạt tính chánh :
Có hơn 60 thành phần trong những lá Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria. Trong số những hoạt động mạnh nhất :
- glucosinolates aliphatiques,
- và indoliques,
những alcaloïdes như :
- tryptanthrine,
- E,Z-3-(3’,5’-diméthoxy-4’-hydroxy-benzylidene)-2-indolinone,
- indoxyle,
- những sắc tố pigments  (indigo,  indirubine)  với những tiền chất của chúng (isatan A, B, C và indican) và dẫn xuất của chúng (iso-indirubine, iso-indigo),
- những polyphénols,
- caroténoïdes,
- lignanes,
- porphyrines,
- và những acides béo thiết yếu  (AGE) [acide α-linolénique].
▪ Những glucosinolates của những lá phân hủy ở những nhiệt độ trên 50 và 100 °C trong 10 phút, tĩ lệ phần trăm của chúng giảm 60 %.
Ngược lại, ở nhiệt độ trong phòng, không có sự phân hủy phân hóa tố enzymatique nào xảy ra. Bằng cách đục những với những cây kim, tĩ lệ phần trăm của glucosinolates indoliques gia tăng. 
▪ Do đó, nó là những hợp chất bảo vệ điển hình của những họ Brassicaceae.  Tuy nhiên, hiện tượng là thoáng qua với một mức tối đa ngày tổn thương tiếp theo sau một sự cân bằng 2 tuần sau đó (căng thẳng thuận nghịch ).
Đối với chàm indigo, nó đưọc xem bởi những nhà hóa học như một tạo phẩm artefact của trao đổi chất biến dưởng thứ cấp métabolisme secondaire.
Đặc tính trị liệu :
Woad Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria có một báo chí hỗn hợp cho những hiệu năng y học của nó.
▪ Một tác giả nói rằng nó là chất làm se thắt astringent nó không phù hợp để được sử dụng bên trong cơ thể - nó chỉ được sử dụng bên ngoài cơ thể như một thạch cao plâtre áp dụng ở những vùng của lá lách rate và như một thuốc mỡ onguent cho :
- những loét ulcères,
- viêm inflammation,
- và chảy máu saignement.
▪ Tuy nhiên, nó được sử dụng rộng rãi bên trong cơ thể trong thực vật liệu pháp phytothérapie tàu nơi đây những liều lượng cao thường được sử dụng để mà duy trì của những mức độ cao của thành phần hoạt tính.
▪ Những Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria là :
- kháng khuẩn antibactériennes,
- chống ung thư anticancéreuses,
- chống siêu vi khuẩn antivirales,
- làm se thắt astringentes,
- và hạ nhiệt fébrifuges.
▪ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria kiểm soát một loạt vi sinh gây bệnh organisme  pathogènes, bao gồm :
- những siêu vi khuẩn virus.
▪ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria cũng được sử dụng trong y học, đặc biệt là trong chữa trị :
- sốt cao fortes fièvres,
- và những co giật convulsions ở trẻ em,
- ho ra máu toux du sang,
và như chất giải độc détoxifiant trong những bệnh nhiễm trùng, như là :
- những bệnh quai bị oreillons.
Rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria là :
- kháng khuẩn antibactérienne,
- và chống ung thư anticancéreuse.
được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh sốt fièvres,
- viêm sinh mủ inflammation pyogénique trong bệnh cúm grippe,
- và viêm màng não méningite,
- điểm đổi màu trên da macula trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính infectieuses aiguës,
- đan độc, viêm quầng érysipèle,
- quai bị oreillons,
- và dịch bệnh tuyến mang tai ( dịch bệnh quai bị ) parotide épidémique.
▪ Hành động kháng khuẩn của nó có hiệu quả chống lại những vi khuẩn :
- Bacillus subtilis, streptocoque hémolytique, Corynebacterium diphtheriae, Escherichia coli, Bacillus typhi, paratyphi B, Shigella dysenteriae, Shigella flexneri et Salmonella enteritidis.
▪ Những và những rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria được sử dụng trong chữa trị :
- viêm phổi pneumonie.
Rễtoàn cây Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria có :
- những đặc tính chống ung thư anticancéreuses
trong khi những trích xuất của Cây cho thấy :
- những đặc tính thuốc diệt vi khuẩn bactéricides.
- kháng khuẩn antibactérienne,
- chống siêu vi khuẩn antivirale,
- và chống loài ký sinh trùng antiparasitaire,
▪ Đây là một thay thế có hiệu quả cho thuốc kháng sinh antibiotiques của đơn thuốc phương Tây trong một số trường hợp.
▪ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria chứa nhiều sắc tố pigment đậm màu mạnh, bao gồm :
- indigo bleu,
- và indirubine màu đỏ.
▪ Một số hợp chất trong những rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria có :
- một hoạt động chống ung thư anticancéreuse,
và những trích xuất của rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria đã được sử dụng để chữa trị những bệnh nhân mắc phải bệnh :
- khối u cứng tumeurs solides,
- và bệnh bạch cầu leucémie
▪ Một sử dụng truyền thống dẫn đến sự thanh lọc của thành phần hợp chất indirubine.
▪ Những Isatis Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria chứa những thành phần alcaloïdes và những yếu tố có những đặc tính :
- chống viêm anti-inflammatoires,
- chống dị ứng anti-allergiques,
- kháng khuẩn antibactériennes,
- chống ung thư anticancéreuses,
- chống siêu vi khuẩn antivirales,
- làm se thắt astringentes,
- và hạ nhiệt fébrifuges.
▪ Những trích xuất của Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria được sử dụng để loại bỏ :
- nhiệt chaleur,
- và những độc tố toxines của máu sang,
và được sử dụng trong y học truyền thống để tranh đấu chống lại những sinh vật gây bệnh organismes pathogènes,  bao gồm :
- những siêu vi khuẩn virus
và chữa trị những bệnh nhiễm trùng infections, bao gồm :
- viêm não encéphalite,
- viêm màng não méningite,
- những nhiễm trùng infections của những đường hô hấp voies respiratoires,
- và viêm dạ dầy-ruột gastro-entérite.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Việc sử dụng y học của Cây Phần bột màu Isatis tinctoria rất xưa củ trong Á Châu Asie, nhưng cũng trong phương Tây  Occident nơi đây nó có từ thế kỷ thứ nhất.
Thảo dược cũng được phục vụ làm căn bản để chế tạo những phẩm nhuộm indigo teintures indigo, như chỉ ra một trong những tên gọi tiếng latins (Isatis indigota) và một trong những tên gọi tiếng Pháp (Cây chổi của những màu nhuộm genêt des teinturiers)
▪ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria là một trong những thảo dược Y học truyền thống Tàu TCM hiệu quả nhất được sử dụng như :
- kháng sinh antibiotique căn bản thảo dược,
- sát trùng antiseptique,
- và chống siêu vi khuẩn antiviral.
▪ Những Bác sĩ Y học truyền thống Tàu TCM sử dụng mỗi khi có những dấu hiệu của :
- bệnh sốt fièvre,
- hoặc nhiệt độc chaleur toxique do bệnh siêu vi khuẩn maladie virale,
- ngộ độc máu empoisonnement du sang,
- bệnh bạch cầu leucémie,
- viêm gan hépatite,
- viêm màng não méningite,
- bệnh tinh hồng nhiệt ( sốt đỏ da ) scarlatine,
- nhiễm trùng những xoang mũi infections des sinus,
- viêm thanh quản laryngite,
- và những bệnh tương tự khác affections similaires.
▪ Trong Y học truyền thống tàu, Cây Cải Sà lách Isatis Isatis tinctoria được sử dụng hết hợp với những thảo dược khác để chữa trị nhiều đau bệnh, trong đặc biệt :
- viêm não encéphalite,
- bệnh quai bị ( sưng hàm ) oreillons,
- viêm tuyến amidan amygdalite,
- những nhiễm trùng của những đường hô hấp bên trên voies respiratoires supérieures,
- và viêm dạ dày-ruột gastro-entérite.
▪ Một chế phẩm chứa 10 thảo dược, bao gồm rễ isatis Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria, được phổ biến để chữa trị :
- bệnh cúm grippe ở giai đoạn đầu (Yin Qiao Jie Du Pian).
Rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria, dùng để chữa trị một số loại của :
- viêm phổi pneumonie,
được biết được phổ biến trở lại vào năm 2003 trong Á Châu do :
- dịch viêm phổi épidémie de pneumonie không điển hình (SRAS hoặc hội chứng syndrome  hô hấp cấp tính nghiêm trọng respiratoire aigu sévère).
cũng như những được sử dụng cho :
- những bệnh nhiễm trùng những đường hô hấp trên voies respiratoires supérieures với rễ.
▪ Trong Sicile, những cư dân ở những vùng nông thôn tiêu dùng thảo dược.
Nghiên cứu :
● Hiệu quả chống viêm anti-inflammatoire :
Đây là hiệp đồng synergie giữa những hợp chất khác nhau của Cây hành đông trên viêm inflammation.
Trong những Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria, thành phần tryptanthrine, một hợp chất lipophile, là alcaloïde hoạt động mạnh nhất.
▪ Nó ức chế phân hóa tố NO-synthase cảm ứng inductible (enzyme tiền viêm pro-inflammatoire), việc tạo ra chất trung gian médiateurs, và loại bỏ những cytokines như là :
- interféron (INF) γ,
- và interleukine (IL) 2,
- và hoạt động enzymatique cyclo-oxygénase (COX).
Vì vậy, nó có chức năng đôi ức chế những NO và sản xuất chất prostaglandine E2 bởi sự kích hoạt của những đại thực bào macrophages.
▪ acide α-linolénique (của những và những hạt ) là trách nhiệm một phần của hoạt động chống viêm anti-inflammatoire của Cây.
Đây là một phần, chất ức chế chủ yếu của :
- 5-lipoxygénase (5-LOX),
can thiệp vào sự sản xuất của leucotriènes tiền viêm pro-inflammatoires của acide arachidonique và phần khác, chất kích hoạt của sự thấm nhập của những hợp chất hoà tan vào trong chất béo liposolubles (tryptanthrine) trong da peau.
▪ Chất indirubine ức chế sự sản xuất của :
- cytokine tiền viêm pro-inflammatoire,
- IL6,
- và IFNγ.
● Hiệu quả chống viêm anti-inflammatoire.
Một thử nghiệm sơ bộ đã được tiến hành ở Taiwan với 20 đối thượng mắc bệnh ung thư cancer nằm ở cổ cou hoặc ở đầu tête :
những đối tượng, đã trải qua với một xạ trị radiothérapie, súc miệng hoặc với nước mặn eau salée, hoặc với dung dịch chứa rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria.
Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria giảm những tác dụng phụ của xạ trị radiothérapie như là :
- viêm niêm mạc mucosite (viêm những màng nhày inflammation des muqueuses của miệng bouche và cổ họng gorge),
- mất khẩu vị bữa ăn perte d’appétit,
- và nuốt khó khăn difficulté à avaler.
▪ Hiệu quả kháng khuẩn antibactérien :
Trong một thử nghiệm lâm sàng so sánh được tiến hành trong Tàu ở 200 đối tượng, những giọt cơ bản của rễ isatis Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria đã cũng có hiệu quả như những giọt với cơ bản thuốc lévofloxacine (một thuốc kháng sinh antibiotique) để chữa trị kết mạc viên vi khuẩn conjonctivite bactérienne cấp tính.
● Hiệu quả chống oxy hóa antioxydant chống gốc tự do antiradicalaire :
Trong trích xuất trái Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria, những hành động này là do với những hợp chất polyphénoliques, những caroténoïdes chứa trong trích xuất của .
▪ Phân tích nụ hoa Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria cho thấy một số lượng quan trọng của :
- polyphénols,
- những hiệu quả chống oxy hóa antioxydant,
- và chống gốc tự do antiradicalaire,
của những cuối cùng ảnh hưởng trên sự ngăn ngừa bệnh ung thư cancer.
Galletti và al. đề xuất lồng ghép những nụ hoa bourgeons floraux vào trong thực phẩm như :
- chống oxy hóa antioxydant.
● Hiệu quả kháng vi khuẩn antimicrobien :
Trong Răng hàm mặt stomatologie, trích xuất của indigo française Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria với những nồng độ từ 1,71 đến 3,48 mg/ml đã ức chế sự tăng trưởng của bệnh lý nha chu parodontopathie (đề cập đến tất cả tình trạng những mô hỗ trợ của răng ) và những vi khuẩn gây bệnh sâu răng bactéries cariogènes.
Đây là tryptanthrine, thành phần hoạt chất kháng vi khuẩn antimicrobien, với những liều lượng đi từ 3,13 đến 25 g/ml, điều trị :
- những bệnh nha chu parodontales,
- và những sâu răng caries dentaires.
● Hiệu quả chống khô antidessèchement và chống nhăn antirides :
Những AGE [ω3 và ω6] chứa trong những hạt hoặc trong trích xuất của Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria điều hòa mức độ giữ ẩm hydratation của da peau. Những ứng dụng sau cùng này trên một da kích ứng tránh một sự mất nước quá mức.
Bên cạnh đó, những polyphénols đóng một vai trò thanh lọc bằng cách truy tìm những gốc tự do piégeant les radicaux libres (ức chế oxy hóa chất béo không bảo hòa lipopéroxydation).
● Hiệu quả kháng siêu vi khuẩn antiviral.
Trong một thử nghiệm lâm sàng so sánh trên 60 đối tượng, một chế phẩm thuốc tàu (Huanglan) có chứa rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria, cây Hoàng kỳ astragalus và một loài dương sỉ fougère khác (Drynaria rigidula) cũng có hiệu quả của một thuốc kháng siêu vi khuẩn antiviral (ribavirine) để chống lại siêu vi khuẩn virus của bệnh sởi rubéole.
● Những nghiên cứu nổi bật :
▪ Thành phần indirubine (tìm thấy trong Isatis) liên kết với phân hóa tố enzymes điều hành sự phân cắt tế bào và do đó, điều này ngăn chận sự tăng sinh prolifération của những tế bào ung thư máu cancéreuses sanguines.
Một bài viết trong đặc san Nature Cell Biology đã báo cáo những kết quả của một nghiên cứu khảo sát những hiệu quả của trích xuất indirubine trên :
- bệnh bạch cầu huyết tăng tủy bào leucémie myélocytaire mãn tính,
- và bệnh bạch cầu giảm lạp bào leucémie granulocytaire mãn tính.
Những thuyên giảm đã kéo dài đến nhiều năm. Độc tính toxicité của trích xuất tương đối nhẹ (Hoessel và al., 1999).
▪ Nhà máy dược phẩm pharmaceutique thử nghiệm của trường Cao đẳng y học truyền thống Tàu Bắc Kinh Beijing tìm thấy rằng alcool đã vượt trên so với nước để ly trích chất indigotine và chất indirubine (Zhang và al., 1990).
Hơn nữa, chất meisoindigo, một dẫn xuất của chất indirubine, hình như ức chế hiệu quả hơn sự sao chép của những tế bào ung thư cancéreuses do bởi sự hấp thu cao của nó (Ji và al., 1991).
Theo quan điểm của một nhà thảo dược, cả hai nghiên cứu có thể tranh luận để chữa trị bệnh bạch cầu leucémie với những trích xuất alcooliques của thảo dược chứa indigoindirubine, như những Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria, kết hợp với những thảo dược cải thiện sự tiêu hóa digestion như những tiêu đen poivre noir hoặc tiêu dài poivre long.
Những thảo dược khác cho thấy một hành động chống bệnh bạch cầu anti-leucémique trong phòng thí nghiệm bao gồm chất nhựa Cây Bách hương gomme boswellia và rễ nghệ curcuma.
▪ Trong những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên những chuột, những polysaccharides của những rễ Cây Chàm đậu Indigofera tinctoria đã gia tăng đáng kể trọng lượng của lá lách rate và số lượng bạch cầu globules blancs và tế bào bạch huyết lymphocytes, cũng như trung hòa một phần của ức chế tính miễn nhiễm immunosuppression do bởi hydrocortisone (Xu và Lu, 1991).
● Hiệu quả chống ung thư anticancéreux, chống ung bướu khối u antitumoral :
Chất indirubine được sử dụng trong y học truyền thống tàu chống bệnh bạch cầu leucémie, điều trị ức chế kinase cycline-dépendante (Cdk).
● Những nghiên cứu trên Cây isatis :
Nhiều thử nghiệm trong ống nghiệm in vitro và trên những động vật đã xác nhận tính hợp lệ của những sử dụng truyền thống của Cây, bởi vì nó cho phép tìm thấy rằng rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria, dưới dạng trích xuất, có những đặc tính :
- kháng khuẩn antibactériennes,
- và kháng siêu vi khuẩn antivirales.
và những lá có những đặc tính :
- chống viêm anti-inflammatoires.
Trong những năm gần đây, vài nghiên cứu cũng đã xác nhận hiệu quả nầy ở con người.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Tác dụng phụ và an toàn :
▪ Isatis là có thể an toàn khi nó được áp dụng ngoài da peau một cách thích hợp trong một thời gian ngắn.
Người ta tìm thấy nó rất an toàn cho một sự sử dụng ngắn hạn, ít hơn 3 tuần.
▪ Một sản phẩm đặc biệt có chứa Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria thành phần chất indigo naturalis dưới dạng trích xuất dầu (Lindioil), được áp dụng thoa trên da với những liều lượng từ 0,05 đến 0,1 mL 2 lần mỗi ngày, được sử dụng với tất cả sự an toàn trong 24 tuần .
▪ Thảo dược này rất mạnh và không được sử dụng trong một thời gian dài, cũng không ở những bệnh nhân thể hiện một suy nhược nghiêm trọng, có thể làm :
- suy yếu sự tiêu hóa digestion,
- và đôi khi có thể gây ra một điều rất thú vị những cảm giác lạnh bên trong cơ thể đảo ngược, đến mức run rẩy frissonner.
▪ Người ta luôn sử dụng Cây nầy với tất cả sự thận trọng, bởi vì nó có thể gây ra :
- những buồn nôn nausées ở những cá nhân nhạy cảm individus sensibles,
- và làm suy yếu sự tiêu hóa digestion với thời gian.
▪ Nó có thể gây ra một ớn lạnh nếu sử dụng lâu hơn 3 tuần, điều nầy sẽ giải quyết hết được ngưng dùng thảo dược.
▪ Dung dịch trong cồn của lá có thể là nguyên nhân của những buồn nôn nausées.
▪ Isatis sẽ làm tăng những hiệu quả của những kháng sinh antibiotiques và những tiêm chủng siêu vi khuẩn vaccins viraux. Không dùng Isatis rất lâu hơn 3 tuần.
▪ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria không được sử dụng trong trường hợp :
- bệnh thận với thận suy yếu insuffisance rénale,
- hoặc lọc thận dialyse.
▪ Sự sử dụng lâu dài của Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria nguyên chất có thể giảm những vi khuẩn đường ruột bactéries intestinales có lợi, nhưng sử dụng duy nhất dưới sự giám sát của một nhà chuyên môn có khả năng thật sự.
▪ Tuy nhiên những phản ứng bất lợi là ít hơn nhiều nếu được đưa ra với những thảo dược khác trong một sự kết hợp của công thức cơ bản thảo dược.
Ghi chú : Trong năm 1990, đã có 38 báo cáo trong Tàu và 16 ở Đài Loan vể phản ứng phụ với Cây isatis (Ko, 1999).
● Mang thai Grossesse và cho con bú allaitement :
▪ Không có những thông tin đáng tin cậy trên sự an toàn của sự dùng Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria nếu một phụ nữ mang thai hoặc cho con bú.
Để qua một bên, tránh sử dụng.
▪ Nó có thể sử dụng với sự thận trọng ở trẻ em. Tham khảo ý kiến của Bác sỉ trước khi dùng.
● Dị ứng với aspirine Aspirinallergie :
Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria chứa những chất hóa học tương tự với những hóa chất trong aspirine.
Người ta sợ rằng Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria có thể gây ra những cơn suyễn asthme hoặc một phản ứng dị ứng allergique ở những người dị ứng với thuốc aspirine.
Ứng dụng :
● Sử dụng y học :
Rễ Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria sấy khô (được chế biến thành những hạt granules và hoà tan trong nước nóng hoặc trà thé) được gọi là Banlangen Keli và được phổ biến khắp trong tàu nơi đây được sử dụng để :
- loại bỏ nhiệt độc chaleur toxique,
- làm dịu những đau cổ họng maux de gorge,
và chữa trị :
- bệnh cúm grippe,
- bệnh sởi rougeole,
- bệnh quai bị oreillons,
- bệnh giang mai syphilis,
- và sốt ban đỏ écarlate fièvre.
▪ Nó cũng được sử dụng cho :
- viêm yết hầu pharyngite,
- viêm thanh quản laryngite,
- đan độc, viêm quầng érysipèle,
- bệnh than anthrax,
- để ngăn ngừa bệnh viêm gan A hépatite A,
- dịch viêm màng não méningite épidémique,
- và viêm inflammation.
▪ Nó được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị một loạt những rối loạn, bao gồm :
- viêm màng não ( não mạc viêm ) méningite,
- viêm não encéphalite,
- quai bị oreillons,
- bệnh cúm grippe,
- đan độc, viêm quẩng érysipèle,
- những nổi chẩn, phát ban do nhiệt éruptions de chaleur, v…v….
● Liều lượng bắt đầu :
• Bột khô : 2 hoặc 3 gr / ngày.
• Trích xuất đậm đặc của nước nấu sắc décoction Cây khô : từ 1 đến 4 gr / ngày.
▪ Một liều cho người lớn điển hình của rễ sấy khô của Isatis Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria là :
- 1-2 g mỗi ngày, liều chia thành phần nhỏ doses fractionnées.
▪ Nhiều thử nghiệm công bố trong Tàu cho thấy rằng sự quản lý uống từ 150 đến 200 mg chất indirubine tinh khiết mỗi ngày dẫn đến một sự thuyên giảm ở 60 % của những bệnh nhân mắc phải :
- bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính leucémie myéloïde chronique.
● Ứng dụng khác  :
▪ Thuốc nhuộm colorant - Chất bảo quản conservateur.
Woad Cây Chàm đậu Indigofera tinctoria có lịch sử nổi tiếng như một Cây thuốc nhuộm teinture, đã được sử dụng như thuốc nhuộm cơ thể peinture corporelle bởi những người Anh Britanniques cổ đại trước khi có sự xâm lược của những người La mã Romains.
Một phẩm nhuộm xanh dương colorant bleu thu được từ những Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria bởi một quá trình phức tạp liên quan đến sự lên men của những và tạo ra mùi hôi puanteur.
Thuốc nhuộm hiếm khi được sử dụng ngày nay, được thay thế bởi Cây Chàm đậu Indigofera tinctoria nhiệt đới và gần đây hơn thay thế bởi những phẩm màu tổng hợp.
Tuy nhiên, đây là một phẩm nhuộm phẩm chất rất tốt mà vẫn còn được tìm thấy ở một số sử dụng từ những người hoạ sĩ v…v… họ muốn làm việc với những phẩm nhuộm thiên nhiên.
Một màu xanh lá cây phẩm chất rất tốt thu được khi pha trộn với phẩm nhuộm gỗ xanh lá cây  (Cây Genista tinctoria).
Woad Cây Chàm đậu Indigofera tinctoria cũng được sử dụng để cải thiện màu và phẩm chất của phẩm nhuộm indigo, cũng như để tạo thành một cơ bản cho những thuốc nhuộm đen colorants noirs.
▪ Những nghiên cứu gần đây của Đức Allemagne cho thấy rằng  Cây nầy là một chất bảo quản có phẩm chất rất tốt cho gỗ [chương trình nông nghiệp phát thanh Radio ].
• Sản phẩm hoá học của phẩm nhuộm ly trích từ Woad Cây Cải phấn bột màu Isatis tinctoria là chất indigo – đây là phẩm nhưộm tương tự với phẩm nhuộm ly trích của “ chàm indigo thực sự ", của Cây Chàm đậu Indigofera tinctoria, nhưng  ở nồng độ thấp hơn.
Thực phẩm và biến chế :
Bộ phận ăn được : lá .
Sự sử dụng ăn được comestibles :
▪ Những - cần thiết một thời gian dài ngâm trong nước để  loại bỏ những chất đắng và thậm chí sau đó vẫn còn đắng amères.
▪ Không có một ghi nhân nào của những hạt ăn được comestibles, nhưng nó chứa 12 - 34% chất đạm protéines và 12 - 38% chất béo trên cơ bản độ ẩm humidité không có bằng 0.

Nguyễn thanh Vân

jeudi 17 mai 2018

Giác mộc thuốc - Dogwood

Cornelian-cherry dogwood
Giác mộc thuốc
Cornus officinalis - Siebold.&Zucc.
Cornaceae
Đại cương :
Cornus officinalis thuộc họ Cornaceae.
Danh pháp thường dùng :
- Cornelian cherry,
- dogwood,
- cornouiller
- Japanese cornelian cherry,
Việt Nam tên gọi :
- Giác mộc thuốc.
Tên tiếng tàu của nó là :
- shan zhu yu.
▪ Cornus officinalis Siebold & Zucc., nằm trong một giống phong phú gồm 60 loài cây cảnh cao, Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis nổi bật nhờ phát hoa vàng rất đẹp ở giữa mùa đông, vỏ màu cam đẹp của nó, những trái ăn được.
▪ Cây có nguồn gốc từ Nhật Bản Japon và Đại Hàn Corée, trong những khu rừng của Đông Á, Tàu đến Đại Hàn Corée.
 Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis được dùng trang trí suốt năm. Nó bắt đầu vào tháng 2 tháng 3, trước khi xuất khi xuất hiện lá, với phát hoa màu vàng phong phú của nó, đặc biệt thấy rõ nếu vào lúc mặt trời mọc và nếu Cây tiểu mọc này được trồng một mình.
▪ Môi trường sống tìm thấy trong những cánh đồng cỏ, bụi cây, rừng cây, sườn dốc đá, cạnh đầm lầy, chủ yếu là những rừng rậm hoặc những rừng ở độ cao 4000 mètres.
Nó chịu được tất cả những loại đất nhưng đặc biệt được đánh giá cao ở một đất thoát nước và đá vôi cũng như phơi hoàn toàn ngoài ánh nắng. Nó chịu được những nhiệt độ lên đến -25°C.  
Nó hiện có vài chọn lọc bao gồm 'Kintoki', với hoa lớn hơn và 'Lemon Zest', với hoa thơm.
Giống với anh em họ Châu Âu của nó, Giác mộc đực Cornus mas, nó được nhầm lẫn với Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis và Cây Giác mộc đực Cornus mas, cái giống nhau của nó đôi khi cũng đáng lo ngại. Điều đó nói lên rằng, một số đặc điểm nhất định cho phép phân biệt khác nhau chúng.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây Tiểu mộc bụi nhưng có thể đạt đến từ 6 đến 8 m cao, mạnh mẽ với tàn lá lan rộng có nhiểu nhánh, có lá rụng nói chung.
Vỏ của Cây bóc ra rất nhiều những tế bào chết để lại những mảng màu cam, vỏ của những nhánh màu xám nâu sần sùi, nức nẻ và những nhánh láng, hiếm khi có những Cây đại mộc lớn hoặc thân thảo.
, đơn, mọc đối, ít khi mọc cách, phiến lá hình bầu dục, màu xanh lá cây đậm, nhuộm màu đỏ tía vào mùa thu, từ 5 đến 7 cm dài và từ 3 đến 4,5 cm rộng, đỉnh hẹp và dài, bên dưới tròn hoặc rộng hình nêm, bìa lá nguyên với mặt dưới gần như láng hoặc đôi khi có lông mịn, với những búi lông ở nách lá của những gân, gân lá rõ ràng, cuống lá đo được khoảng 1 cm dài.
 Vào mùa thu, nếu Cây phơi ngoài nắng đầy đủ, những lá của nó có màu rất đẹp , với những màu sắc thay đổi đến màu vàng cam đến đỏ tươi rất hấp dẫn.
Phát hoa, hình thành những phát hoa chùm tán đơn giản, hợp thành nhóm ở đầu của những nhánh và bao gồm bao chung quanh từ 4 hoặc 6 lá hoa lớn với một quy mô của những chồi nụ, với những hoa nhỏ.
Những chồi hoa xuất hiện trên căn bản của những thân của năm trước, nhưng chủ yếu trên những thân ngắn và rất ngắn của 2 và 3 năm trườc, hoặc nhiều hơn.
Hoa, lưỡng phái, nở trước những lá, màu vàng trong một tán hơi bó sát với nhau khoảng từ 1 đến 4 cm đường kính. Mỗi hoa được mang bởi một cuống, gắn vào ở trung tâm của một tổng bao involucre của 4 lá hoa màu xanh lá cây đỏ nhạt.
- đài hoa, 4 đài hoa kín đáo,
- cánh hoa, 4 màu vàng,
- tiểu nhụy, 4,
- bầu noãn hạ.
Trái, quả nhân cứng, dạng quả mọng, từ 1,2 đến 1,5 cm dài, khoảng 7 mm đường kính, không lông màu đỏ tươi khi trưởng thành chín.
Hạt, bầu dục thuôn dài và không nhọn ở 2 đỉnh.
Bộ phận sử dụng :
▪ Thân, vỏ của thân, trái, nạt của trái.
▪ Trái được thu hoạch tháng 10 tháng 11, khi chín hoàn toàn và sấy khô bảo quản để sử dụng về sau.
Thành phần hóa học và dược chất :
Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, chứa nhiều thành phần :
- cornusiin A,
- cornusiin B,
- và cornusiin C,
- cornuside, là những chất tannins thủy phân hydrolysables dimères, monomères và trimères,
- loganine,
- morroniside,
- diméthyltétrahydrofurane cis-2,5-dicarboxylate, một dẫn xuất của furane,
- acide gallique,
- acide 1,2-benzènedicarboxylique,
- ester 2-méthylpropylique butyle,
- myristate d'isopropyle,
- những anthocyanes.
▪ Thành phần hóa học của trích xuất Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, gồm :
(1) Thành phần nucléosidiques, ngoại trừ :
- glycosides cornouiller,
- và đơn mono glycosides,
- Nux vomica glycosides,
- glycosides de chevreuil,
- 7 - oxygène - méthyl mono glycosides,
- 7 - khử oxy hóa désoxydation nux vomica glycosides,
- những mono glycosides de khử nước déshydratation,
- glycosides mới de cornouiller, v…v…
 (2) acide hữu cơ và những esters của nó :
Nạt thịt pulpe của trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis chứa :
- 2 acide α-hydroxy-ursolique,
- acide ursolique,
- acide oléanolique,
- acide gallique,
- acide malique,
- acide tartrique,
- acide protocatéchique
- và acide 3, 5-dihydroxybenzoïque, v…v….
(3) Những lớp tanins : có 11 phần hợp chất tanniques, bao gồm :
- 4 tanins acide gallique,
- và 7 gallotannin;
(4) Thành phần vi lượng oligo-éléments và những thành phần khác : nạt thịt pulpe của trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis chứa :
▪ 23 loại nguyên tố khoáng éléments minéraux, như là :
- aluminium Al,
- sắt Fe,
- calcium Ca,
- béryllium Be,
- manganèse Mn,
- kẽm Zn,
- muối sodium Na,
- phosphore P
- thréonine C4H9NO3,
- valine C5H11NO2,
- acide aspartique C4H7NO4, v…v….
và 17 loại acide amine.
▪ Cây chứa :
- acide oléanolique,
- và acide ursolique.
▪ Những tế bào cấy nuôi của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis chứa :
- những gallotannines dưới dạng tri-, tétra- và pentagalloylglucoses.
▪ Những tanins chánh là :
- 1,2,3,6-tétragalloylglucose,
- 1,2,6-trigalloyl-glucose,
- 1,2,3,4,6-pentagalloyl-glucose,
- và 6-digalloyl-1,2,3-trigalloyl- glucose.
Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis (Cornaceae)
Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis (họ Cornaceae)
▪ Sáu (6) galloyl glucoses,
- 1, 2, 3-tri-O-galloyl-β-D-glucose,
- 1, 2, 6-tri-O-galloyl-β-D-glucose,
- 1, 2, 3, 6-tétra-O-galloyl-β-D-glucose,
- 1, 2, 4, 6-tétra-O-galloyl-β-D-glucose,
- 1, 2, 3, 4, 6-penta-O-galloyl-β-D-glucose,
- và tellimagrandin II,
và hai (2) acides phénoliques :
- acide gallique 4-O-β-D-glucoside,
- và acide gallique 4-O-β-D- (6'-O-galloyl) -glucoside
đã được phân lập từ phần đoạn hòa tan trong acétate d'éthyle của những hạt Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis Seibold & Zucc.
Trong số tất cả những hóa chất thực vật phytoconstituants :
- những glucoses de tétra-O-galloyle 1, 2, 3, 6-tétra-O-galloyl-β-D-glucose,
- và 1, 2, 4, 6-tétra-O-galloyl-β-D-glucose
cho thấy một hoạt động chất ức chế mạnh với những IC50 0,70 và 0,76 mmol·L-1, tương ứng đối với enzyme AR của chuột.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis:
- kháng khuẩn antibactérienne,
- lợi tiểu diurétique,
- hạ huyết áp hypotensive
- và khử trùng đường tiểu antiseptique urinaire.
Vỏ của thân Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis là :
- làm se thắt astringente,
- chống sốt rét antipaludéenne,
- và là thuốc bổ tonique.
Trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis là :
- kháng khuẩn antibactérien,
- chống nấm antifongique,
- ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn Bacillus dysenteriae và Staphylococcus.
- hạ huyết áp hypotenseur,
- chống ung bướu khối u antitumoral,
- làm se thắt astringent,
- lợi tiểu diurétique,
- bềnh gan hépatique
- và là thuốc bổ tonique.
Trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, không hạt, được nấu sắc décoction dùng để chữa trị :
- viêm khớp arthrite,
- bệnh sốt fièvre
- và một loạt những bệnh khác.
▪ Nó được sử dụng trong chữa trị :
- đau lưng già yếu lumbago sénile,
- bệnh tiểu đường diabète,
- viêm bàng quang cystite,
- những ù tai acouphènes, v…v….
● Cơ chế hoá học :
acide ursolique cho thấy những hiệu quả trong ống nghiệm in vitro :
- bảo vệ những tế bào thính giác cellules auditives.
▪ nó đã cho thấy rằng những trích xuất éthanoliques của trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis ngăn ngừa :
- những tổn thương gan hépatiques
liên quan đến nhiễm độc gan hépatotoxicité gây ra những tổn thương gan hépatiques do bởi acétaminophène (ở những chuột ) bằng cách :
- ngăn ngừa hoặc làm giảm những căn thẳng oxy hóa stress oxydatif.
▪ Những thành phần hóa học được phân lập từ trái (Corni fructus) có những hiệu quả bào vệ trên :
- những tế bào β trong ống nghiệm in vitro,
và có thể kiểm soát :
- tăng đướng máu hyperglycémie sau bữa ăn postprandiale bởi sự ức chế phân hóa tố α-glucosidase.
Cornel iridoid glycoside, là trích xuất của một chất hóa học của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, thúc đẩy :
- sự quá trình hình thành tế bào thần kinh neurogenèse,
- và tạo mạch angiogenèse
và cải thiện chức năng thần kinh neurologique sau :
- cơn bệnh thiếu máu cục bộ ischémie ở những chuột rats.
▪ Một chất hóa học được phân lập từ Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis cũng có thể cải thiện :
- tính di động motilité của tinh trùng người sperme humain.
● Lợi ích của Cây Giác mộc thuốc theo thuyết y học truyền thống Ying và Qi:
▪ Đối với những người lớn tuổi, có :
- nhiều khoảnh khắc khó chịu,
- và đi tiểu không tự chủ người incontinence urinaire người lớn tuổi sénile.
Nó sẽ làm cho những người lớn tuổi rất đau đớn douloureuses khi mà nước tiểu không thể giúp thoát ra ngoài từ niếu đạo urètre và làm ướt quần chỉ vì những nguyên nhân :
- một sự hắc hơi éternuements,
- cơn ho toux,
- một cái cười rire,
- hoặc áp lực của bụng pression abdominale.
Do đó, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng cho sức khỏe của những người lớn tuổi do :
- thể chất khổng lồ,
- và nổi đau đớn tâm lý tinh thần psychologique,
- và áp lực pression.
▪ Từ quan điểm của y học truyền thống Tàu MTC :
- đi tiểu không tự chủ incontinence urinaire
ở những người già chủ yếu là do bởi sự đắm chìm của khí qi của khoang giữa jiao moyen-jiao. {theo y học truyền thống Tàu, mô liên kết (xem như một cơ quan ) phân chia ra 3 vùng đốt cháy triple Brûleur :
- khoang ngực upper jiao,
- khoang bụng middle jiao,
- khoang vùng chậu lower jiao }.
Như người ta có thể biết, Khí thận Qi rénal của chúng ta có xu hướng trở nên yếu đi khi tuổi già. Vì vậy, bệnh này liên quan thực sự đến :
- lá lách rate, phổi poumon, thận rein và gan foie mặc dù bộ phận ảnh hưỏng đến là bàng quang vessie.
▪ Và phương thuốc tương ứng là :
- cường kiện tonifier khí qi của thận rein,
- và nâng cao năng lượng énergie khoang giữa jiao moyenne-jiao trong khi điều hòa chức năng của những cơ quan khác nhau.
và Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, thảo dược này có thể giúp ích.
▪ Trong y học Tàu jing, jing nằm chủ yếu trong thận reins và có chất liệu vật chất dày đặc nhất trong cơ thể ( trái với khí Qi và thần, thiên tính Shén, được xem như dễ bay hơi nhất ) . Nó được xem là nuôi dưởng và làm mát cơ thể, và kết quả của khái niệm này nó cũng có liên quan đế việc sản xuất tinh trùng sperme ở nam giới và kinh nguyệt mentrues ở nữ giới.
Người ta phân biệt 2 dạng jing :
- Jing bẩm sinh : năng lượng trước khi sinh và vốn là di truyền.
- Jing có được : năng lượng có được trong cuộc sống, liên quan đến Âm Yin và kết quả của sự tiến hóa của khí Qi, mà nó tương tác với nhau….. ).
như thế khi đề cập đền một người đàn ông, có nghĩa là đề cập đến tinh trùng sperme.
Khả năng bảo tồn jing là kết quả của những đặc tính :
- ổn định stabilisation,
- và liên kết liaison,
- và khả năng kiểm soát những dịch cơ thể fluides corporels.
Trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis cũng được sử dụng trong công thức :
- tăng cường lưng dos và những đầu gối genoux,
- cả hai vùng liên quan đến ying thận rein jing.
Nó cũng được sử dụng trong những công thức kiểm soát :
- những dịch cơ thể liquides corporels
và chữa trị :
- đổ  mồ hôi quá nhiều sueurs excessives,
- những rỉ thoát nước tiểu fuites d'urine,
- rỉ thoát tinh trùng fuites de sperme (di tinh mộng tinh spermatorrhée),
- và những kinh nguyệt phong phú và kéo dài.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Shan Zhu Yu hoặc Cây Giác mộc thuốc đã được sử dụng ít nhất 2000 năm trong chữa trị thảo dược phytothérapie tàu. Đây là một thảo dược “ làm ổn định và liên kết ” và được sử dụng chánh để làm giảm :
- chảy máu kinh saignements menstruels phong phú,
- và những sự bài tiết hoạt động không bình thường sécrétions inhabituellement,
bao gồm :
- chảy mồ hôi phong phú transpiration abondante,
- đi tiểu quá mức mictions excessives không thể giữ được incontinence,
- giảm chức năng cương dương vật fonction érectile,
- di tinh mộng tinh spermatorrhée,
- và xuất tinh sớm éjaculation précoce.
Như tất cả những thảo dược, có khả năng ức chế loại bỏ :
- những dịch cơ thể fluides corporels (thậm chí quá nhiều ),
điều này đơn giản kéo dài hoặc sẽ làm nghiêm trọng thêm những triệu chứng nếu nó được sử dụng mà không có thuốc bổ tonique cũng không có thuốc giải độc toxifiantes.
▪ Do đó nó thường được kết hợp với những thảo dược khác như là :
- Địa hoàng sinh địa Rehmannia glutinosa,
và là một thành phần của « viên nang 8 thành phần » được sử dụng trong Tàu để :
- « hâm nóng và cường kiện dương yang của những thận reins».
▪ Những người Hy lạp cổ đại, tất cả dấu hiệu, biểu tượng hoặc bùa hộ mệnh nổi tiếng có sức mạnh :
- tránh những con mắt ác mauvais œil,
- hoặc phục vụ cho bất cứ phương cách nào để chống lại sự xui xẻo malchance.
Do đó, những cái phong tục được gọi là cornouiller ( Dogwood ) Giác mộc thuốc  cũng được hình thành.
Nạt của trái sấy khô của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, được sử dụng truyền thống như một thuốc bổ trong Châu Á Asie và đặc biệt trong Tàu, có năng lực cho :
- hương vị an toàn gout sûré của nó,
- làm se thắt astringent,
và hâm nóng nhẹ được sử dụng trong chữa trị :
- chóng mặt vertiges,
- tiếng vo ve tai bourdonnement,
- chứng bất lực impotence,
- suy thận déficience rénale,
- tăng huyết áp động mạch hypertension artérielle,
- di tinh mộng tinh spermatorrhée,
- rong kinh, kinh nguyệt quá nhiều ménorrhagie
Nghiên cứu :
● Nghiên cứu thử nghiệm dược lý pharmacologiques của những quả mọng baies của Cây Giác mộc thuốc :
▪ Trích xuất alcool của nó có một hiệu quả hạ đường máu hypoglycémiant đáng kể trên bệnh tiểu đường diabète gây ra bởi chất alloxane, adrénergique và streptozotocine (STZ) ở chuột;
▪ Trích xuất lỏng của nó có một hiệu quả lợi tiểu diurétique trên những chó bị gây mê anesthésiés.
▪ Nó có thể cải thiện chức năng miễn nhiễm immunitaire không đặc biệt và những thử nghiệm trong ống nghiệm in vitro, nó có thể :
- ức chế những tế bào ung bướu khối u cổ trướng cellules tumorales ascites.
▪ Nó có thể đề kháng với một tổn thương gan lésion hépatique thí nghiệm.
▪ Nó có thể gia tăng của sự giảm số lượng bạch huyết cầu globules blancs gây ra bởi xạ trị radiothérapie;
▪ Nó có một hiệu quả chống oxy hóa antioxydant;
▪ Nó có một hiệu quả kích thích thấp trên những giây thần kinh đối giao cảm nerfs parasympathiques;
● Mặc dù những kết quả không hoàn toàn rõ ràng, một số nhất định những nghiên cứu cho thấy rằng của trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis có những đặc tính :
- kháng khuẩn antibactériennes,
- và chống nấm antifongiques.
● Trong một số nhất định nghiên cứu, những trích xuất của trái Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis có đặc tính :
- ức chế sự tăng trưởng của một số nhất định chủng vi khuẩn Staphylococcus.
nó cũng có thể là có hiệu quả chống lại :
- Salmonella và Shigella,
- 2 vi khuẩn gây ra những rối loạn tiêu hóa dạ dày-ruột gastro-intestinaux.
● Hai nghiên cứu Tàu được công bố vào năm 1997 và 1998 trong American Journal of Chinese Medicine phát hiện rằng những trích xuất của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis gia tăng :
- dòng chảy lưu lượng máu flux sanguin đến những thận reins và lá lách rate
và gia tăng :
- tính di động motilité của tinh trùng người sperme humain.
Rất ít nghiên cứu khoa học đã được thực hiện trên Cây này ở bên ngoài nước Tàu.
● Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi double aveugle, kiểm soát đối với giả dược placebo đã cho thấy rằng một công thức tàu trên căn bản chủ yếu thảo dược bao gồm Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis không chỉ có hiệu quả để :
- cải thiện chức năng cương dương fonction érectile,
nhưng cũng không nguy hiểm để chữa trị :
- sự rối loạn cương dương dysfonction érectile.
● Rối loạn cương dương vật Dysfonction érectile :
J Sex Med. 2012.
▪ Điều tra trên cơ thể sinh vật sống in vivo và trong ống nghiệm in vitro trên hiệu quả của một hỗn hợp của trích xuất của Cây Quỉ kiến sầu đất Tribulus terrestris và Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis trên sự cương dương vật érection du pénis.
Khoa tiết niệu urologie, Trường Đại học y khoa Quốc gia Gyeongsang, Jinju, Đại Hàn Corée.
▪ Nghiên cứu này đã khảo sát những hiệu quả của trích xuất Cây Quỉ kiến sầu đất Tribulus terrestris và Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis trên sự thư giản của cơ trên muscle lisse của thể hang ( mô sốp ở dương vật ) corps caverneux (CC), cơ chế hành động của chúng và những hiệu quả của sự quản lý uống của một hỗn hợm trích xuất của Cây trên sự cương cứng dương vật érection pénienne.
Những hiệu quả của sự thư giản relaxation và những cơ chế hành động của trích xuất của Cây Quỉ kiến sầu đất Tribulus terrestris, của trích xuất Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis và hỗn hợp của cả hai trích xuất trên thể hang sốp corps caverneux ( CC) của thỏ đã được nghiên cứu trong một bồn tắm cơ quan bain d'organe.
Để đánh giá phản ứng của sự thư giản relaxation của thể hang sốp CC cho thấy trong một bồn tắm cơ quan bain d'organe xảy ra trfong cơ thể sinh vật sống in vivo, sự áp suất bên trong thể hang sốp pression intracaverneuse (ICP) đã được tính ở những chuột sau khi quản lý uống trong thời gian 1 tháng.
Ngoài ra ,
- adénosine 3 ', 5'-monophosphate cyclique (AMPc),
- và guanosine 3', 5'-monophosphate cyclique (GMPc)
trong thể hang sốp CC cũng đã được đo lường bằng cách sử dụng một liều lượng miễn nhiễm  immunodosage.
Trích xuất Cây Quỉ kiến sầu đất Tribulus terrestris, trích xuất Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis và hỗn hợp của cả hai trích xuất thể hiện những hiệu quả thư giản relaxation phụ thuộc vào nồng độ của CC.
Trong cả hai, nhóm loại bỏ nội mô endothélium và trong nhóm xử lý trước ester méthylique N (G) -nitro-L-arginine, trích xuất Tribulus terrestris đã ức chế sự thư giản relaxation.
Áp suất bên trong thể hang sốp PIC  đã được đo lường sau khi quản lý uống hỗn hợp của trích xuất trong thời gian 1 tháng là cao hơn so với đo lường trong nhóm kiểm chứng, và một sự gia tăng đáng kể của AMPc đã được quan sát trong nhóm hỗn hợp.
Trích xuất của Cây Quỉ kiến sầu đất Tribulus terrestris và trích xuất của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis thể hiện một sự thư giản phụ thuộc vào nồng độ trong một bồn tắm cơ quan bain d'organe.
Trong nghiên cứu trên cơ thể sinh vật sống in vivo của hỗn hợp trích xuất, ICP và AMPc đã có tiềm năng đắng kể.
● Hiệu quả trích xuất alcoolique của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis trên sự biểu hiện của GLUT4 trong cơ xương muscle squelettique ở những chuột mellitus bệnh tiểu đường loại 2 diabétiques de type 2 (không phụ thuộc insuline non insulino-dépendant).
Zhongguo Zhong Yao Za Zhi. 2001.
Trên cơ sở của những hìệu quả của nó trên sự giảm của đường huyết tương glucose plasmatique sau bữa ăn postprandial và sự gia tăng của mức độ insuline ở những chuột bệnh tiểu đường diabétiques không phụ thuộc insuline non insulino-dépendants (NIDDM), người ta đã nghiên cứu những hiệu quả của trích xuất alcoolique của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis trên sự biểu hiện của GLUT4 ở những chuột mô hình NIDDM.
Những biểu hiện này chứng minh rằng trích xuất alcool của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis Sieb. và Zucc có thể gia tăng ARNm của GLUT4 và sự biều hiện chất đạm protéique của nó ở những chuột NIDDM bằng cách thúc đẩy sự tăng sinh prolifération của những đảo nhỏ îlots và bằng cách gia tăng sự bài tiết insuline sau bữa ăn và do đó đẩy nhanh quá trình vận chuyển của đường glucose.
● Cây Giác mộc thuốc Cornus Officinalis đã được thử nghiệm trong ung thư gan cancer du foie.
▪ Ngăn ngừa hóa trị Chimioprévention chống ung thư biểu mô ác tình carcinome tế bào gan hépatocellulaire của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis trong ống nghiệm in vitro.
Am J Chin Med. 2004.
▪ Những trích xuất nước của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis Sieb. và Zuce chống lại ung thư biểu mô carcinome tế bào gan hépatocellulaire đã được nghiên cứu cho tiềm năng ngăn ngừa hóa học chimiopréventif của nó.
Ba (3) dòng tế bào HCC (HepG2, SK-Hep1 và PLC / PRF / 5) và 3 dòng tế bào bạch huyết leucémiques đã được thử nghiệm với xét nghiệm XTT.
Những trích xuất Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis ức chế tất cả những tế bào ung thư gan cancéreuses hépatiques và tế bào bạch huyết leucémiques với một nồng độ 100 μg / ml và phụ thuộc vào liều.
P53 và Ras ảnh hưởng đáng kể hoạt động của nó chống lại HCC.
Những trích xuất của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis cũng có hoạt động chống oxy hóa antioxydante bởi thông qua của một hoạt động truy tìm những gốc tự do piégeage des radicaux libres với một nồng độ 50 microg / ml.
Tóm lại, thí nghiệm ngụ ý nói rằng Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis có thể là ứng viên cho yếu tố ngăn ngừa hóa học chimiopréventif chống lại ung thư gan cancer du foie nhờ hiệu quả chống oxy hóa antioxydants và chống ung thư anti-néoplasiques.
● Sức khỏe tinh trùng Santé du sperme :
Một chất phân lập của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis cải thiện tính di động của tinh trùng người sperme humain.
Am J Chin Med. 1997.
Những hiệu quả của thảo dược tàu, Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, trên tính di động của tinh trùng người sperme humain đã được nghiên cứu.
Một trích xuất nước đã được bào chế từ những trái sấy khô của thảo dược và được sử dụng trong nghiên cứu này.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Những phản ứng phụ và an toàn :
▪ Như trích xuất Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis hiếm khi sử dụng một mình, khó mà phân biệt những phản ứng phụ nào gây ra bởi những thảo dược khác trong công thức.
▪ Không có phản ứng phụ nào được ghi nhận.
▪ Liều lượng bổ sung của trích xuất Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis :
- Theo tình huống là khác nhau .
Ứng dụng :
● Sử dụng y học :
▪ Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis cũng là một thành phần trong những công thức chữa trị :
- ù vo ve những tai bourdonnement des oreilles (ù tai acouphènes),
- thính giác kém mauvaise audition,
- thị giác mờ vision floue,
- chóng mặt étourdissements,
- những cú sốc chocs,
- và chấn thương traumatismes,
- và một loạt những điều kiện khác.
▪ Thuốc Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, nó được sử dụng rộng rãi để chữa trị cho :
- đau bên dưới lưng bas du dos và những đầu gối genoux,
- chóng mặt vertiges,
- ù tai acouphènes,
- di tinh mộng tinh spermatorrhée,
- đi tiểu thường xuyên mictions fréquentes,
- ớn lạnh frissons và sốt fièvre,
- đổ mồ hôi dai dẳng transpiration persistante do sự thiếu hụt,
- đánh trống ngực palpitations,
- xung phân tán pouls dispersés,
- suy nhược thần kinh neurasthénie,
- rối loạn kinh nguyêt troubles menstruels, v…v….
Vỏ Cây Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis được đun sôi, và nước nấu sắc décoction làm se thắt astringente kết quả được sử dụng trong những công thức chữa trị :
- bệnh sốt fièvres,
- và như chống bệnh sốt rét antipaludéen.
Điều thú vị, trong những nhà thảo dược herboristerie phương tây, vỏ của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis, cũng được sử dụng chống lại :
- bệnh sốt rét paludisme.
▪ Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis cũng được sử dụng để chữa trị :
- bệnh tiểu đường diabète,
- viêm khớp arthrite,
- và bất lực liệt dương impuissance.
▪ Nước nấu sắc décoction của Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis trong ống nghiệm in vitro có những mức độ khác nhau của sự ức chế trên những vi khuẩn :
- Shigella, Staphylococcus aureus,
- trichophyton violaceum,
- siêu vi khuẩn bệnh cúm virus de la grippe, và hơn nữa….
▪ Tiêm injection vào bên trong cơ thể của nó có thể cải thiện :
- chức năng của tim cœur,
- gia tăng huyết áp động mạch tension artérielle,
- ức chế sự kết tập tiểu cầu agrégation plaquettaire,
- và ngăn ngừa huyết khối thrombose.
● Sử dụng khác :
▪ Ngoài ra, những người dân cũng có thói quen chế tạo những rượu thuốc, bảo quản trái cây, đồ hộp và những thức uống cho sức khỏe bằng cách kết hợp với đường, mật ong và rượu.
▪ Sản xuất rượu vang Cây Giác mộc thuốc Cornus officinalis có thể trở lại thời nhà Tống và đã được xem như một thuốc bổ tonique hiếm mà nó được mô tả như một sự kính trọng.
Thực phẩm và biến chế :
Bộ phận ăn được : Trái .
Trái : dùng sống hoặc chín.
Trái chín hoàn toàn là khá dễ chịu nhưng hơi làm se thắt astringent.
▪ Nó đo khoảng 1,5 cm.
Trái chứa khoảng 8,6% đường, 2,9% acide malique, 0,74% tro.

Nguyễn thanh Vân