Tâm sự

Tâm sự

mercredi 16 janvier 2019

Rau diếp hoang - Wild Lettuce

Wild Lettuce
Rau diếp hoang
Lactuca virosa - L.
Asteraceae
Đại cương :
● Những danh pháp thông thường khác :
Acrid Lettuce, Bitter Lettuce, German Lactucarium, Green Endive, Lactuca virosa, Lactucarium, Laitue à Opium, Laitue Sauvage, Laitue Scariole, Laitue Serriole, Laitue Vireuse, Lechuga Silvestre, Lettuce Opium, Poison Lettuce, Strong-Scented Lettuce.
- Tên lactuca có nguồn gốc từ tên latin cổ điển của nước ép jus nhựa sữa trắng lacté,
- virosa hay "chất độc poison".
Rau diếp hoang Lactuca virosa, có lẽ có nguồn gốc từ Trung Á Asie centrale, nhưng ngày nay nó được trồng trên khắp thế giới.
Rau Diếp được trồng như một loại cây lương thực bởi những người Hy Lạp Grecs, những người La Mã Romains và những người Tàu cổ đại.
Cũng theo nguồn gốc khác của Rau diếp hoang laitue sauvage bắt nguồn từ Ai Cập Égypte cổ đại, nơi đây những chữ tượng hình hiéroglyphes thường mô tả thần Min, một thần của sinh sản fertilité, với những Cây. Người ta cho là một chất kích thích tình dục aphrodisiaque và hoạt động tâm thần psychoactive.
▪ Rau Diếp đã được đưa đến Tân Thế giới  từ sớm, Trên thực tế những bộ lạc Hopi đã lồng ghép với những nghi lễ tôn giáo của họ. Họ đã hút thuốc nhựa résine của lá Rau diếp hoang Lactuca virosa để gây ra một trạng thái mơ màng rêve.
Bất chấp điều này và tên gọi thay thế "Rau diếp Á phiện Laitue opium", những hiệu quả gây nghiện narcotiques của Rau diếp hoang Lactuca virosa là không đáng kể.
Được tìm thấy ở bờ biển Anh Quốc Grande-Bretagne, hiếm khi thấy ở phía đông bắc của Irlande.
Rau diếp hhoang Lactuca virosa được phân phối rộng trong khắp phần lớn miền trung centrale và miền nam méridionale Châu Âu.
Người ta có thể tìm thấy tại địa phương ở miền đông nam và miền đông nước Anh Angleterre. Ở những phần còn  lại của nước Anh Grande-Bretagne, nó rất hiếm thấy và trong Irlande thì vắng mặt.
Người ta cũng tìm thấy trong khu vực của Pendjab ở Pakistan, trong Ấn Độ Inde và trong Australie, nơi mà chúng mọc trong trạng thái hoang dả.
▪ Trong Bắc Mỹ Amérique du Nord, nó đã được ghi nhận như được du nhập ở Californie, Alabama, Iowa và ở Washington, DC, và nó mọc ở trạng thái tự nhiên hoang dại trong những bộ phận khác của lục địa.
Ngày nay, người ta có thể tìm thấy Rau diếp hoang Lactuca virosa trong miền nam của Hoa KÉtats-Unis và ở miền trung và nam Châu Âu Europe.
▪ Ở Hoa Kỳ Aux États-Unis, sau khi nhập từ Đức Allemagne thông qua Anh Angleterre, nó được sử dụng một chất giã mạo thuốc phiện opium.
Người ta thường tìm thấy những miếng không đều nhau, màu nâu đỏ nhạt, kích thước như một hạt đậu lớn, thường bị mốc moisis ở bên ngoài.
Hoa Kỳ, lactucarium Đức allemand và Pháp được xem như thua kém sản phẩm Anh Quốc britannique.
Rau diếp hoang mọc trên những bờ và những nơi hoang phế, trong những đất cát, thoát nước tốt chung quanh những cánh đồng, những bãi đất trống và bên lề đường.
 Cây trổ hoa vào tháng 7 và tháng 8.
Nó được trồng trong Áo Autriche, Pháp France, trong Đức Allemagne và trong Écosse.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Lactuca virosa là thực vật có đời sống 2 năm bisannuelle. Nó có thể đạt đến 200 cm. Thân thẳng đứng, lớn, những thân và những lá đôi khi có màu tím nhạt, màu xanh mượt, nhạt đôi khi có những đốm màu tím, những lá ít chia thùy và tỏa rộng ra, có lông ở phần bên dưới và những nhánh nhỏ bên trên, xuất phát từ một rễ màu nâu.
Cây nguyên giàu chất nhựa sữa trắng jus laiteux chảy ra tự do từ bất kỳ những vết thương nào trên Cây và lá. Chất nhựa sữa trắng latex có một vị đắng và một mùi hôi của chất gây nghiện thuốc phiện odeur narcotique.
Một khi nó được sấy khô, cứng lại màu nâu và được gọi là lactucarium.
Những nhà sưu tầm, cắt ngang đầu của những Cây và cạo nước ép jus trong những mạch hứng vào trong những tô sành porcelaine nhiều lần trong ngày cho đến khi cạn kiệt không còn.
Bằng cách hâm nóng và gõ nhẹ, nó được tách rời khỏi khuông, cắt thành những thỏi ¼ và sấy khô.
▪ Lactucarium không dễ dàng thành bột và chỉ tan ít trong nước đun sôi, mặc dù nó mềm ramollisse và trở thành plastique.
, lá nằm ngang nhiều lá lớn bên dưới gốc đo được 15,5 đến 45,5 cm dài, nguyên và thuôn dài, gần như láng và có những răng mịn, lá hình trứng ngược, không phân chia, cuống lá nhỏ, thường có thùy, lá có dạng mũi tên ôm sát ở phần dưới lá, gân lá chánh nhiều hay ít bị tấn công bên dưới với những lông gai đáng chú ý, chẳng hạn như cũng ở bìa lá.
Những lá của thân là gầy ốm, mọc cách và nhỏ và bao quanh thân với 2 thùy nhỏ.
Phát hoa, hoa đầu là nhiều và không thứ tự, với một phong phú của những lá bắc nhỏ nhọn có dạng trái tim. Cuống phát hoa tròn với những hoa đầu ở ngọn, phân nhánh nhiều.
Vảy lông mịn không thường ở đầu, không có vỏ hoặc cạnh sườn.
Hoa vàng, gắn vào thân.          
- vành hoa nhỏ màu vàng nhạt, có dạng như một chiếc vòng tay.  
Trái, quả khô, không lông, màu đen tím, hình bầu dục, với một cánh dài dọc theo rìa, kéo dài thành một cái mỏ màu trắng với những chùm lông trắng bạc.
Bộ phận sử dụng :
Toàn Cây, Lá và nhựa sữa trắng Latex
▪ Một nhựa đắng sève amère được gọi là Rau diếp Á phiện laitue opium, hoặc lactucarium, có thể được tìm thấy trong tất cả loại Rau diếp Lactuca.
Ở những loài hoang dại, chất nhựa này đắng nhiều hơn bởi vì nó có chứa một nồng độ cao của chất alcaloïdes dược liệu y học hơn những loại Rau diếp vườn trồng.
Rau diếp hoang Lactuca virosa là một loại variété ít phổ biến của Rau diếp hoang, nhưng nó phù hợp để trích xuất chế tạo hơn.
Nhựa có một hương vị rất đặc thù và mạnh, và giàu chất alcaloïdes.
▪ Chất nhựa này có thể chế biến thành dung dịch trong alcool teinture cơ bản của Cây hoặc những lá tươi và những ngọn đọt hoa Rau diếp hoang Lactuca virosa được sấy khô và chế biến thành trà tisanes, xông khói fumées hoặc ít thường xuyên hơn ở dạng những viên nang capsules.
Thành phần hóa học và dược chất :
Một chất nhựa sữa trắng latex gọi là lactucarium có thể là dẫn xuất của trích xuất của những sự bài tiết của thân Rau diếp hoang Lactuca virosa.
Chất nầy, lactucarium, một hỗn hợp của thành phần trong đó những đặc tính chất thuốc phiện narcotiques của sản phẩm đã được quy định.
Nó đã được báo cáo rằng Lactucarium chứa khoảng :
- 0,2% lactucine,
- một lactone sesquiterpinoïde.
Ngoài ra, hỗn hợp chứa :
- một dầu dễ bay hơi huile volatile,
- cao su caoutchouc,
- mannitol,
- và lactucérol (taraxastérol) (khoảng 50%).
Thành phần lactucérine, cũng hiện diện trong chất nhựa trắng latex, là dẫn xuất của :
- acétylé du taraxastérol,
một triterpène được phân phối rộng rãi.
Những báo cáo theo đó lactucarium chứa :
- hyoscyamine
đã bị bác bỏ.
▪ Một báo cáo theo đó, Rau diếp hoang Lactuca virosa chứa :
- N-méthyl-β-phényléthylamine, cũng đã bị bác bỏ.
▪ Những dầu và những trích xuất cũng có thể là sản phẩm từ Rau diếp hoang Lactuca virosa.
Những dầu và trích xuất nầy có những đặc tính an thần sédatives ở những loài gậm nhấm rongeurs.
Rau diếp hoang Lactuca virosa chứa :
- những flavonoïdes,
- những coumarines,
- và N-méthyl-β-phénéthylamine.
Một loạt của những hợp chất hóa học khác đã được phân lập từ Rau diếp hoang Lactuca virosa.
▪ Một trong những hợp chất, chất lactucine, là một thụ thể adénosine một chất chủ vận agoniste trong ống nghiệm in vitro, trong khi một chất khác, chất lactucopicrine, đã được chứng minh hành động như chất ức chế inhibiteur cvủa acétylcholinestérase thực hiện trong ống nghiệm in vitro.
▪ Một số nhầm lẫn nhất định tồn tại như danh pháp của những sản phẩm dẫn xuất từ Rau diếp hoang Lactuca virosa và những thực vật liên quan.
Những Cây có hoa của Rau diếp Lactuca chứa một số lượng lớn của chất nhựa sữa trắng sève blanc laiteux, với hương vị đắng amer và mùi nồng mạnh của thuốc phiện opiacée.
Khi nước ép jus được thu thấp và phơi ngoài không khí, nó chuyễn sang màu nâu nhạt.
▪ Nguyên Cây Rau diếp hoang Lactuca virosa giàu chất nhựa sữa trắng sève laiteuse chảy tự do từ bất kỳ những vết thương nào của Cây. Chất nhựa này đặc cứng và khô khi tiếp xúc với không khí .
▪ Nó được thu thập thương mại bằng cách cắt ngang đầu của những Cây và cạo lấy nước ép jus trong những bó mạch  trong chén sành porcelaine nhiều lần trong ngày cho đến khi Cây cạn kiệt hết nhựa.
Đặc tính trị liệu :
▪ Chất nhựa sève Rau diếp hoang Lactuca virosa có chứa “ lactucarium ”, được sử dụng trong y học cho những đặc tính của nó :
- không nguy hiễm, vô hại anodines,
- chống co thắt antispasmodiques,
- tiêu hóa digestives,
- lợi tiểu diurétiques,
- thôi miên hypnotiques,
- thuốc mê, gây nghiện narcotiques,
- và an thần sédatives.
Rau diếp hoang Lactuca virosa là một nguồn tốt của vitamine A, chất xơ thực phẩm fibres và nhiều vitamines và chất dinh dưởng nutriments khác.
Trong y học, Lá Rau diếp hoang Lactuca virosa được sử dụng như một thuốc an thần nhẹ sédatif doux, với lợi ích bổ sung là dễ dàng trên hệ thống tiêu hóa système digestif.
Nó được sử dụng để chữa trị :
- chứng phù thũng sủng nước hydropisie,
- những đau bụng tiêu chảy coliques
- và ho toux,
và cũng là :
- một lợi tiểu nhẹ diurétique léger,
- và một kích thích tình dục diaphorétique.
Một số người đã sử dụng Rau diếp hoang Lactuca virosa như giúp cho giấc ngủ sommeil.
▪ Lactucarium có những hiệu quả thuốc phiện yếu faible opium, nhưng không có xu hướng gây ra :
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs,
- cũng không gây nghiện addictive.
▪ Nó được dùng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- mất ngủ insomnie,
- lo âu anxiété,
- chứng loạn thần kinh névroses,
- chứng hiếu động thái quá hyperactivité ở những trẻ em,
- ho khan toux sèche,
- ho gà coqueluche,
- những đau nhức bệnh thấp khớp douleurs rhumatismales, v…v….
▪ Những nồng độ của lactucarium là thấp ở những Cây non và đậm đặc nhất khi Cây đi vào thời kỳ trổ hoa.
Loài này có lẽ là nguồn cung cấp giàu nhất chất lactucarium.
▪ Cây cũng chứa chất hyoscyamine, một thuốc trầm cảm puissant dépresseur của hệ thống thần kinh giao cảm système nerveux parasympathique.
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion của Cây trổ hoa tươi hoặc sấy khô cũng có thể được sử dụng.
▪ Chất nhựa sève Rau diếp hoang Lactuca virosa cũng được áp dụng bên ngoài cơ thể trong chữa trị :
- những mụn cóc verrues.
● Lợi ích và sự sử dụng của Cây Rau diếp hoang laitue sauvage :
Rau diếp hoang Lactuca virosa chứa một số nhất định chất dinh dưởng mạnh, đóng vai trò trong chữa trị nhiều bệnh tật và những ốm đau như là :
▪ Giảm đau douleur
Cũng được biết dưới tên « Rau diếp thuốc phiện Laitue à l’opium», Cây Rau diếp hoang Lactuca virosa nầy không chứa bất kỳ thuốc phiện nào opiacés và hoàn toàn hợp pháp.
Hiệu quả giảm đau analgésiques đến từ một chất nhựa trắng như sữa blanche laiteuse mà nó bài tiết ra, chất lactucarium, gồm những nguyên chất hoạt động được so sánh với những phiên bản tổng hợp chưng cất mà người ta tìm thấy trong những thuốc giảm đau anagésiques  trên toa thuốc.
▪ Những hợp chất hoạt động chánh của lactucarium là :
- lactupicrine,
- lactucine,
- và lactucopicrine.
Những hợp chất nầy đã được tìm thấy sở hữu một hoạt động giãm đau analgésique, cũng như một hoạt động an thần sédative.
Một nghiên cứu xác nhận rằng, một liều đơn giản 30 mg / kg của lactucopicrine tương đương với một liều 60 mg / kg của thuốc ibuprofène.
Những hợp chất hiện diện trong lactucarium hành động cùng một phương cách với chất morphine, tác động trực tiếp trên hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central và làm yếu đi khả năng cảm thấy đau nhức ressentir la douleur.
Đề nghị bởi những nhà thảo dược như một phương thuốc chống lại :
- đau nhức nửa đầu nghiêm trọng migraines sévères,
đặc biệt có hiệu quả cho những phụ nữ mắc phải :
- chứng đau nhức cấp tính douleurs aiguës
trong thời gian chu kỳ kinh nguyệt cycle menstruel.
▪ An thần nhẹ sédatif doux – Thôi miên nhẹ hypnotique doux :
Những phẩm chất giảm đau analgésiques của Rau diếp hoang Lactuca virosa, cũng giúp cho :
- thư giản cơ thể détendre le corps.
Điều này làm cho nó rất lợi ích trong chữa trị :
- mất nhủ insomnie,
- và lo âu anxiété,
- hoặc bồn chồn agitation.
vì người ta cũng còn gọi nó là một thuốc phiện yếu faible opium bởi vì nó không làm xáo trộn hệ thống tiêu hóa système digestif.
Tuy nhiên, người ta cho rằng, nó tạo ra những hiệu quả :
- hưng phấn euphorique,
- và mơ màng rêveur,
khiến dễ dàng thả mình vào ngủ nhiều hơn.
Hiệu quả an thần sédatif đặc biệt làm cho nó có lợi ích cho :
- hệ thống thần kinh hoạt động quá mức ( hiếu động ) système nerveux hyperactif,
và đặc biệt cho :
- những trẻ em hiếu động hyperactifs.
▪ Sức khỏe hệ hô hấp respiratoire :
Rau diếp hoang Lactuca virosa có thể được sử dụng như chữa trị tự nhiên chống lại :
- bệnh hen suyễn asthme,
- và ho toux.
Một thảo dược mạnh, giúp giảm sự kích ứng irritation :
- những phế quản bronches,
- và những phổi poumons.
nó cũng có thể có khả năng :
- nới lỏng loãng những chất nhầy libérer le mucus,
- và khó thở difficultés respiratoires
liên quan đến bệnh suyễn asthme.
Ngoài ra, nó có thể  cấu thành một chữa trị có hiệu quả chống lại :
- ho gà coqueluche,
- và viêm phổi bronchite.
▪ Hợp chất Lactones sesquiterpéniques :
Một chất có chứa một số nhất định hợp chất hoạt tính sinh học bioactifs (trong đó có 2 chất là «lactucinelactucopicrine») và đóng một vai trò thiết yếu trong tranh đấu chống lại những bệnh, như là :
- bệnh ung thư cancer,
- và những bệnh tim mạch cardiovasculaires.
▪ Chất Coumarins :
Đây là một hóa chất thực vật phytochimique và một chất chống oxy hóa anti-oxydant hỗ trợ cho nhiều chức năng của cơ thể, bao gồm :
- sự tuần hoàn máu circulation sanguine,
- và chức năng của tim fonctionnement du cœur,
- bảo vệ não bộ protection du cerveau,
- và hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central,
- và tăng cường hệ thống miễn nhiễm système immunitaire.
▪ Chất quercétine :
Một chất chống oxy hóa antioxydant mạnh góp phần vào sự bảo vệ :
- nhiễm thể ADN,
- và những màng tế bào membranes cellulaires
chống lại những gốc tự do radicaux libres, với sự giãm :
- áp suất động mạch pression artérielle,
- tăng huyết áp hypertension,
- ngăn ngừa mất xương (loãng xương) perte osseuse,
và nhiều phương thuốc khác.
▪ Rau diếp hoang Lactuca virosa có thể được sử dụng để tự chuẩn bị một trà thés của riêng bạn, một dung dịch trong cồn teinture và trích xuất để thu được những lợi ích tối ưu và thậm chí có thể hút với những mục đích giải trí.
● Những lợi ích khác có thể :
Bên cạnh những đau nhức douleur, Cây Rau diếp hoang Lactuca virosa được thể hiện như một chữa trị tự nhiên cho nhiều bệnh khác nhau, như là :
- lo ngại anxiété
- bệnh đường hô hấp respiratoires
- chuột rút kinh nguyệt crampes menstruelles
- viêm khớp arthrite
- bệnh ung thư cancer
- mất ngủ insomnie
- sự lưu thông máu kém circulation
- bồn chồn agitation
- nhiễm trùng đường tiểu infections urinaires
▪ Người ta cũng cho rằng nó có những đặc tính kháng khuẩn antibactériennes khi nó được áp dụng bên ngoài trên da peau.
Mặc dù người ta có thể tìm thấy những thông tin trên những phẩm chất chữa lành bệnh được cho là của Rau Diếp hoang Lactuca virosa trên trang mạng sites Web của y học thay thế médecine alternative, hiện tại nó không có những nghiên cứu khoa học nào được thực hiện để hỗ trợ cho sự sử dụng của nó để chữa trị một trong những bệnh được mô tả bên trên.
▪ Những nghiên cứu cho thấy rằng những loại khác của thành phần lactones sesquiterpéniques của họ Asteraceae là có hiệu quả để :
- giãm viêm réduire l'inflammation,
điều này có thể giúp cho một số bệnh nhất định, như là :
- hen suyễn asthme,
- và viêm khớp arthrite.
Hơn nữa, một số nhất định sesquiterpènes có những đặc tính :
- chống oxy hóa antioxydantes,
- kháng khuẩn antibactériennes,
- và chống ung bướu khối u antitumorales.
Thí dụ, camomille (Chamaemelum nobile), một thành viên của họ Astetraceae, chứa những thành phần :
- chamazulène,
- sesquiterpène
thể hiện phẩm chất mạnh chống oxy hóa antioxydantes.
▪ Camomille lớn, cũng trong nhóm của họ Asteraceae, giàu chất parthénolide, chất ức chế sự phát triển của những :
- tế bào bạch huyết cellules leucémiques,
trong một nghiên cứu trong ống nghiệm tubes à essai.
Tuy nhiên nó có rất ít nghiên cứu trên những hợp chất cụ thể trong Cây Rau diếp hoang Lactuca virosa.
Cho đến khi có những nghiên cứu khác được thực hiện trên những hiệu quả Rau diếp hoang Lactuca virosa trên sức khỏe, những xác nhận được phát tán bởi một số trang mạng sites Web.
Kinh nghiệm dân gian :
● Dân gian Folklore và lịch sử :
▪ Rau Diếp Á phiện opium de la laitue đã được sử dụng trong y học truyền thống cho những chỉ định :
- hỗ trợ cho sự tuần hoàn máu circulation sanguine,
đến chữa trị :
- những cơ quan sinh dục bị sưng organes génitaux enflés.
▪ Trong Châu Âu, nó được sử dụng thay thế thuốc phiện opium trong :
- chống ho antitussifs.
▪ Truyền thống của Rau diếp hoang Lactuca virosa đã có từ ngàn năm, thậm chí ở thời tiền sử préhistoire.
Những người Ai Cập Égyptiens đã sử dụng Rau diếp hoang Lactuca virosa như :
- thuốc kích thích tình dục aphrodisiaque,
nhưng đã cảnh báo rằng một sự sử dụng quá mức sẽ làm cho :
- não bộ lu mờ, đần độn cerveau ennuyeux.
▪ Trong y học Tàu, những chế phẩm của Rau diếp hoang được sử dụng rộng rãi .
Nước ép jus được sấy khô được đề nghị như :
- một chất sát trùng tại chỗ antiseptique topique cho những vết thương loét plaies
◦ và những hạt đã được sử dụng như :
- lợi sữa galactogogue (để gia tăng lượng sữa ở những bà mẹ cho con bú allaitantes).
Người ta đã cho rằng những hoa và những hạt có hiệu quả để :
- giảm những sốt fièvres.
▪ Tôn giáo sinh ra từ những gốc rễ nầy. Một trong những vị Thần, gọi là Min bởi những người Ai Cập Égyptiens, là vị Thần sinh sản dieu de la fertilité và cũng là Thần của những Cây Ma thuật plantes magiques, nó luôn luôn thể hiện với những thân của Cây Rau diếp hoang Lactuca virosa đàng sau họ và tổ chức có cả những buổi lễ hội để vinh danh nó.
▪ Dầu của hạt Rau diếp hoang Lactuca virosa còn được sử dụng cho đến ngày nay trong Ai Cập Égypte với những mục đích y học, của xoa bóp massage, nấu ăn cuisine và như :
- thuốc kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Những người Ai Cập Egyptiens đã có những buổi lễ hội dành riêng cho Thần Min.
Đây là một trong những lễ hội quan trọng nhất trong năm.
Dầu hạt Rau diếp hoang còn được sử dụng cho đến ngày nay trong Ai Cập Égypte với những mục đích :
- y học,
- xoa bóp,
- nấu ăn,
- và như thuốc kích thích tình dục aphrodésiaque.
▪ Vào giữa thế kỷ XIXe siècle, thương mại công nghệ của Lactucarium đã phát triển mạnh mẽ bởi vì đây là một loại thuốc được phổ biến chống lại :
- những đau đầu maux de tête
- và như chống ho antitussif.
▪ Rau diếp hoang Lactuca virosa xuất hiện nhiều lần trong  suốt lịch sử.
Hoàng đế Auguste của La Mã de Rome đã được chữa lành bệnh nghiêm trọng bởi nước ngâm trong nước đun sôi infusion của Rau diếp hoang Lactuca virosa.
▪ Rau diếp hoang Lactuca virosa  có thể được tìm thấy trong y học cổ đại, cũng như một thành phần trong những bình thuốc và những nghi lễ ma thuật rituels magiques trên toàn thế giới.
▪ Theo truyền thống Rau diếp hoang Lactuca virosa  đã có từ ngàn năm, từ thời tiền sử. Kiến thức của chúng ta của sự văn minh loài người bắt đầu hiếm đi vào khoảng 4000 năm trước J.-C., nhưng chúng ta biết rằng những gì chúng ta biết được quay ngược từ cuối thời kỳ băng há période glaciaire.
▪ Thời kỳ băng hà période glaciaire là một ít như một bức tường chia cách chúng ta với thời tiền sử préhistoire. Những gì còn lại của thời tiền sử préhistoire nói cho chúng ta rằng những người cổ đại đã có những kiến thức thực hành của chúng ta về những ngôi sao để giữ thời gian và điều hướng navigation, với toàn bộ của nhóm người tập trung ở cung hoàng đới zodiaque.
▪ Những chuyện thần thoại mythes và truyền thuyết thời tiền sử légendes préhistoriques cũng vẫn còn, như chuyện thần thoại trận mưa lớn mythe du grand déluge, huyến thoại Moïse  mythe de Moïse  và nhiều câu chuyện về những rắn trời serpents célestes.
Người ta luôn hình dung với những thân Cây Rau diếp hoang laitue sauvage đàng sau họ.
▪ Những người cổ đại Sumériens cũng đã biết vị thần này. Những bài thuộc lòng của Min cũng như những bài thánh ca dành riêng cho họ được tìm thấy trên những cuộn ống giấy của những người sumériens cổ đại.
Nghiên cứu :
● Hiệu quả gây ảo giác hallucinogènes :
Một loạt của những sản phẩm hợp pháp, "hallucinogènes" thay thế hàm lượng của thuốc phiện opium của Rau diếp laitue là có sẵn trên thương trường.
Những tên thương hiệu của những sản phẩm bao gồm Lettucine, Or Noir, Lettucène, Laiton Hash và Lopium.
Những sản phẩm này chứa những dẫn xuất của Rau diếp laitue hoặc lactucarium và được hút thuốc trong những ống nhỏ hoặc đun nóng trong những chén nhỏ, những hơi nước được hít vào.
Những trích xuất đôi khi được kết hợp với những sản phẩm chưng cất của damiana Turnera diffusa, với vỏ cây yohimbe d'Afrique Corynanthe yohimbe.
Những nghiên cứu không cho thấy dũ liệu động vật nào liên quan đến sự sử dụng thuốc phiện Opium Rau diếp hoang Lactuca virosa cho những hiệu quả :
- gây ảo giác hallucinogènes.
Hiệu quả gây ảo giác hallucinogène thông thường nhẹ và dường như có liên quan đến mức độ mong đợi của người dùng.
Nó không có cơ sở dược lý pharmacologique nào để hỗ trợ cho những hiệu quả hây ảo giác hallucinogènes của Á phiện Rau diếp hoang opium de laitue.
● Nghiên cứu, truy tìm hóa chất thực vật phytochimique và sinh học của giống Lactuca chỉ ra rằng giống này không có hoạt động kháng khuẩn antimicrobienne, một hoạt động nhẹ chống ung bướu khối u antitumorale và nó có thể tạo ra những hiệu quả nghiêm trọng trên hệ thần kinh trung ương SNC ở những chuột souris.
Tuy nhiên loài Lactuca thể hiện một sức đề kháng với siêu vi khuẩn virus, với những vi khuẩn bactéries và với những nấm champignons (nấm Bremia lactucae ).
Mặc dù chất lactucinelactucopicrine đã có những hiệu quả trầm cảm dépresseurs và an thần sédatifs trên hệ thống thần kinh trung ương SNC, những hợp chất này là chất hóa học không ổn định chimiquement instables; lactucarium thương mại chưa rất ít.
Nó đã được chứng minh rằng, chất nhựa sữa trắng latex của Lactuca sativa ức chế sự tăng trưởng của nấm Candida albicans thực hiện trong ống nghiệm in.
Những trích xuất của Lactuca sativa dẫn đến một hạ huyết áp hypotension khi nó được quản lý uống cho những loài chó chiens.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Chất độc học Toxicologie :
▪ Tiêm Á phiện rau diếp hoang laitue sauvagerễ của Cây Nữ lang thuốc valériane officinale đã có liên quan với những bệnh :
- sốt thoáng qua fièvres transitoires,
- những ớn lạnh frissons,
- những đau bụng douleurs abdominales,
- đau nhức bên hông sườn douleurs au flanc và lưng dos,
- cứng cổ raideur de la nuque,
- những đau đầu maux de tête,
- tăng bạch cầu leucocytose,
- bất thường nhẹ của chức năng gan fonction hépatique.
▪ Những báo cáo trên :
- bệnh giãn đồng tử của mắt mydriase,
- những chóng mặt vertiges,
- lo âu anxiété,
- bí tiểu rétention urinaire,
- giảm những tiếng động ruột bruits intestinaux
- và hoạt động quá mức hệ thần kinh giao cảm sympathique đã được công bố.
Một cơ chế chống cholinergique anticholinergique đã được gợi ý.
Những trường hợp tử vong ở loài chó đã được báo cáo sau khi quản lý dùng bởi đường tiêm vào tĩnh mạch intraveineuse.
▪ Rau diếp hoang Lactuca virosa có thể có những hiệu quả độc hại toxiques nếu nó được tiêu thụ.
Rau diếp hoang Lactuca virosa mọc trong miền bắc của Iran và một số người bản địa tiêu thụ nó mà không biết những phản ứng phụ của nó.
Người ta đã mô tả 8 bệnh nhân hiện diện những biểu hiện của độc tính toxicité của Rau diếp hoang Lactuca virosa, được đưa vào trong một bệnh viện đa khoa thuộc Đại học khoa học Y khoa Golestan.
Tất cả những bệnh nhân đã chữa lành (chỉ có 1 người phải trải qua 48 giờ trong chăm sóc đặc biệt ) và không có biến chứng mãn tính nào được báo cáo.
◦ Một sự nghi ngờ lâm sàng của độc tính toxicité bởi sự tiêu thụ gây ra bởi Rau diếp hoang Lactuca virosa và trên những tiền sử chính xác đã hình thành cơ bản của sự chẩn đoán.
◦ Chữa trị thận trọng, theo dỏi những dấu hiệu sinh tồn, kiểm soát sự hấp thu và xuất viện bệnh nhân và sự giãm kích động của bệnh nhân cấu thành cơ bản để điều trị.
▪ Cây phải được sử dụng với tất cả những sự thận trọng và không bao giờ không dưới sự giám sát của một người chuyên gia có khả năng thật sự.
Ngay cả ở những liều dùng bình thường cũng có thể gây ra :
- buồn ngủ somnolence,
trong khi quá liều, gây ra :
- bồn chồn agitation.
và một liều vượt quá có thể dẫn đến tử vong bởi làm :
- tê liệt tim paralysie cardiaque.
Một số Bác sỉ cho rằng những hiệu quả của thuốc này là nguyên nhân tinh thần của bệnh nhân chớ không phải do bởi thuốc.
● Phản ứng phụ và an toàn :
Rau diếp hoang Lactuca virosa dường như không nguy hiểm cho hầu hết mọi người trong một lượng nhỏ.
Tuy nhiên, một số lượng lớn có thể :
- làm chậm hô hấp ralentir la respiration,
- và dẫn đến tử vong mort.
Áp dụng Rau diếp hoang Lactuca virosa trực tiếp trên da có thể gây ra :
- một sự kích ứng irritation.
Số lượng lớn có thể gây ra :
- sự đổ mồ hôi transpiration,
- gia tốc nhịp đập tim rythme cardiaque,
- giản đồng tử con ngươi dilatation de la pupille,
- chóng mặt vertiges,
- tiếng ù vo ve trong tai (ù tai) bourdonnement dans les oreilles,
- biến đổi thị lực altération de la vision,
- an thần sédation,
- khó thở difficulté à respirer,
- và tử vong mort.
● Phòng ngừa đặc biệt và cảnh báo :
▪ Mang thai Grossesse và cho con bú allaitement :
Không đủ thông tin về sự sử dụng Rau diếp hoang Lactuca virosa trong thời gian mang thai grossesse và cho con bú allaitement.
Cẫn thận và tránh sử dụng.
▪ Tuyến tiền liệt phù to Prostate élargie ( tăng sản lành tính hyperplasie bénigne tuyến tiền liệt prostate, HBP):
Không sử dụng Rau diếp hoang Lactuca virosa nếu một người có sự hiện diện bệnh này.
Nó chứa một chất hóa học có thể gây hại ở những người bị đau khi đi tiểu uriner.
▪ Dị ứng allergie với phấn hoa ambroisie và với những thực vật liên quan :
Rau diếp hoang Lactuca virosa có thể gây ra một phản ứng dị ứng allergique ở những người nhạy cảm với họ Cúc Asteraceae / Compositae.
Những thành viên của họ này bao gồm Cỏ Phấn hoa herbe à poux, những Cúc tần ô chrysanthèmes, những Tâm tư  cúc soucis, những Cúc  marguerites và những thảo dược khác.
Nếu một người có những dị ứng allergies, tham vấn với những người chuyên môn chăm sóc sức khỏe có khả năng thật sự trước khi sử dụng Rau diếp hoang Lactuca virosa.
▪ Bệnh tăng nhãn áp glaucome với góc hẹp angle étroit :
Không sử dụng Rau diếp hoang Lactuca virosa nếu một người mắc phải những bệnh mắt này. Nó có chứa một chất hóa học chimique có thể làm nghiêm trọng thêm bệnh tăng nhãn áp glaucome.
▪ Phẫu thuật chirurgie :
Rau diếp hoang Lactuca virosa có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương système nerveux central. Người ta sợ rằng nó có thể gây ra quá nhiều tình trạng buồn ngủ somnolence nếu được dùng cùng lúc với thuốc gây mê anesthésie và những thuốc gây mê anesthésiants khác trong và sau khi phẩu thuật chirurgie.
Ngừng sử dụng Cây Rau diếp hoang Lactuca virosa tối thiểu 2 tuần trước khi phẩu thuật theo lịch trình.
* Chú ý :
Những thông tin này trên cơ bản y học truyền thống và dân gian, sử dụng nguyên liệu tự nhiên để hỗ trợ cho sức khỏe. Những tuyên bố này chưa được đánh giá bởi Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA).
Ứng dụng :
▪ Một sự giúp cho giấc ngủ êm dịu sommeil doux. Nó chữa trị có hiệu quả cho :
- chứng phù thũng sủng nước hydropisie,
- tiêu chảy mãn tính diarrhée chronique,
- ho toux,
- hành động như một thuốc lợi tiểu diurétique
và nhiều nữa.
Rau diếp hoang Lactuca virosa, cũng được biết dưới tên Lactucarium, endive verte và Diếp Á phiện laitue opium, là tiền thân của những dạng Rau diếp trồng được phổ biến.
● Liều lượng :
Liều lượng thích hợp của Rau diếp hoang Lactuca virosa  tùy thuộc vào nhiều yếu tố như là :
- tuổi của người sử dụng,
- sức khỏe và nhiều điều kiện khác.
Tại thời điểm hiện nay, nó không có đủ những thông tin khoa học để xác định một phạm vi thích hợp của liều lượng cho Rau diếp hoang Lactuca virosa.
Hảy nhớ rằng những sản phẩm tự nhiên không nhất thiết lúc nào cũng an toàn và liều lượng có thể là quan trọng không kém.
Hảy theo những hướng dẫn của những nhà chuyên môn chăm lo sức khỏe những dược sĩ, Bác sĩ trước khi sử dụng.
● Ứng dụng khác :
▪ Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique được chế tạo từ Cây. Nó được sử dụng trong chữa trị :
- viêm nước mãn tính catarrhe chronique,
- ho toux,
- sưng gan foie gonflé,
- những đầy hơi flatulences,
- và những bệnh của những đường tiểu affections des voies urinaires.
▪ Trong vi lượng đồng căn homéopathie, một dung dịch trong cồn teinture đã được sử dụng để chữa trị :
- viêm thanh quản laryngite,
- viêm phế quản bronchite,
- bệnh hen suyễn asthme,
- ho toux,
- và những đường tiểu voies urinaires.
▪ Những điếu thuốc hút cigarettes với Rau diếp hoang Lactuca virosa đã được thương mại hóa như một chất thay thế thuốc lá tabac không chất nicotine.
Hỗ trợ giải pháp thay thế này đã được thay đổi bởi vì :
- làm chậm sự chấp nhận của hương vị độc đáo,
- và thiếu vắng của một cú đòn bất lợi gây ra bởi chất nicotine.
Thực phẩm và biến chế :
◦ Bộ phần ăn được : lá và dầu.
◦ Sử dụng ăn được : dầu huile.
, ăn sống hoặc nấu chín. Rất mềm.
Sự thận trọng được đề nghị, xem độc tính toxicité bên trên.
▪ Một dầu dịu nhẹ, được sử dụng trong nấu ăn, được cho là lấy từ những hạt ở Ai Cập égyptiennes.

Nguyễn thanh Vân







dimanche 6 janvier 2019

Nhựa Gôm nước đái quỷ - Ammoniacum

Ammoniacum
Nhựa Gôm nước đái quỷ
Gôm Ammoniac
Dorema ammoniacum - D.Don.
Apiaceae
Đại cương :
▪ Phân bố địa lý và môi trường sống.
▪ Cây có nguồn gốc ở Trung và Đông Iran, đến miền bắc nước Nga.
▪ Dorema ammoniacum D. Don. là một thực vật chỉ ra trái một lần rồi chết monocarpique sống lâu năm đạt đến khoảng 1 đến 3 m cao và chứa vào mùa xuân và đầu mùa hè một loại nước ép jus như sữa trắng laiteux.
Đây là một trong Cây đặc hữu quan trọng nhất trong họ Apiaceae của nó.
Cây mọc trong những vùng khô cằn và bán khô cằn của những vùng Iran và một số nước Á Châu asiatiques như là Turkménistan, Afghanistan, Pakistan và Inde.
Nó chủ yếu phân bố trong Tây Nam Á Asie du Sud-Ouest và Trung Á, Perse và Nam Sibérie.
▪ Nhựa résine của chất gôm gomme của loài này là một yếu tố điều trị được biết trong những thuốc truyền thống iraniens, Ấn độ indiens và phương Tây occidentaux.
Mục đích của bài này là điều tra những thành phần hợp chất của những dầu thiết yếu huiles essentielles và đánh giá những hoạt động chống oxy hóa antioxydantes và kháng khuẩn antibactériennes của những dầu thiết yếu huiles essentielles và của những trích xuất của những bộ phận trên khôngrễ của Cây Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây bụi cao khoảng 2-3 m, phân nhánh. Bên dưới thân có đường kính khoảng 6-12 cm, ngấm chất mộc lignine cứng, có chứa một nước ép jus trắng như sữa vào mùa xuân và đầu mùa hè..
Một chất nhựa résine gôm gomme được tìm thấy trong những khoang của những thân, những cuống lá và những rễ.
, lá bên dưới gốc lớn, phân đoạn của lá lớn, thuôn dài, tù, bên dưới lá bẹ bám bao vào thân cây amplexicaul.
Phát hoa, tán trên những nhánh. Cuống phát hoa 1-2 cm dài. Tổng bao của hoa involucre 5-8 lá hoa thẳng.
- đài hoa có răng nhỏ,
- cánh hoa trắng.
Trái, hình ellip thuôn dài, 6-8 mm dài, 4-5 mm rộng, láng không lông, nén ép mặt lưng, có những đường gờ, đường vân trung gian rõ rệt, mỏng, gờ bên rộng, luống rãnh 1 sọc dọc.
Bộ phận sử dụng :
▪ Nhựa gôm, thân và lá.
▪ Khi những thân được đục khoét bởi những loài côn trùng insecte, chất gôm gomme nhựa sữa trắng chảy ra một cách tự nhiên. Nó khô lại khi tiếp xúc với không khí và hình thành một miếng hoặc một khối cứng, được thu thập bởi những người dân địa phương.
Những cây này, được viếng thăm bởi một số lớn những loài côn trùng cánh cứng coléoptères, những loài này khoang thủng thân và cũng gây ra một sự chảy tiết ra, một phần khô đính trên thân, phần còn lại rơi xuống đất nơi đây nó hòa dính với đá và những tạp chất khác được tìm thấy trong chất nhựa gôm được thu thập bởi những người dân bản địa.
Chất nhựa gôm résine được tìm thấy trong những khoang đặc biệt trong những mô của thân, của những rễ và những cuống của những lá.
Tên của những loại thuốc này được đến từ những nhà thờ temple của Jupiter Ammon trong sa mạc libyen, nơi mà đã được được thu hoạch bởi những người cổ đại.
Chất résine của gôm gomme được thương mại hóa dưới 2 hình thức :
- Nhựa gôm ammoniacum giọt nước mắt lacrymal,
- và Gôm ammoniacum thành cục hoặc thành khối.
Dạng thứ nhất là chánh thức ở Anh Quốc Angleterre và bao gồm những khối u nần màu vàng nhạt jaune pâle có kích thước thay đổi từ hạt đâu đến hạt trái óc chó, từ dòn đến lạnh mát nhưng mềm đến ấm, bề mặt nứt gãy hoặc màu nâu nhạt brune pâle.
Khối Gôm ammoniacum, được thu thập dưới đất, và đôi khi được sử dụng nhưng không chánh thức trong y học. Mùi hương của thuốc nhẹ, vị chát và dai dẳng.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Thành phần của dầu thiét yếu huile essentielle :
Sự chưng cất hơi nước hydrodistillation của những bộ phận trên không của Cây Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum mang lại một dầu màu vàng nhạt với một năng xuất 0,2% (v / w), trên cơ bản của trọng lượng khô.
▪ 34 hợp chất đại diện 90,3% của dầu đã được xác định tiếp theo sau phân tích GC và GC / MS của dầu thiết yếu của bộ phận trên không.
Những kết quả cho thấy rằng dầu rất giàu thành phần hợp chất :
- sesquiterpènes hydrocarbonés (35,0%),
- và những non-terpènes oxygénés (28,7%)
với :
- β-himachalène (9,3%),
- và β-chamigrène (8,7%)
như hợp chất chánh.
▪ Ba (3) diterpènes, được biết :
- néophytadiène (1,6%),
- néocembre (3,0%),
- và phytol (3,5%)
cũng đã được đặc trưng hóa trong những bộ phận trên không của dầu huile.
Một nghiên cứu trước đây trên những của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum đã báo cáo :
- β-himachalène,
- và néophytadiène
trong dầu thiết yếu huile essentielle với những tỹ lệ phần trăm liên quan từ 1,9% và 3,7%, tương ứng.
▪ Những chất đồng phân lập thể stéréoisomères của gurjunèneociménone đã được ghi nhận như chủ yếu.
▪ Những kết quả cho thấy rằng dầu thiết yếu huile essentielle đã bị chi phối bởi sự hiện diện của :
- non-terpènes oxygénés (54,0%),
- chủ yếu là chất hexadécanique (13,2%),
- tétradécanal (10,5%),
- và 1,15-hexadécadiène (7,1%).
▪ Nó đã được báo cáo rằng dầu thiết yếu huile essentielle của rễ Cây Gôm láng Dorema glabrum trước đây có chứa dầu thiết yếu huile essentielle δ-cadinène của rễ Cây Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum.
▪ Bên cạnh sự đa dạng của yếu tố di truyền génétique, một số yếu tố bên ngoài như là :
- khí hậu climat,
- những đặc tính của đất propriétés du sol,
- sự áp lực bởi những loài côn trùng insectes và những vi sinh vật micro-organismes,
- thời gian thu hoạch moment de la récolte,
- quá trình chuẩn bị thực vật,
- và phương pháp trích xuất của những dầu thiết yếu huiles essentielles
có thể đóng vai trò trong thành phần hóa học composition chimique của những dầu thiết yếu huiles essentielles.
▪ Sự sử dụng chế phẩm với cơ bản dược thảo trong chữa trị :
-  mất trí démence.
đã được nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm của y học truyền thống.
▪ Một trích xuất dichlorométhane của Gôm nước đái quỷ gomme ammoniacum, nhựa résine-Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don đã cho thấy một hoạt động chất ức chế :
- phân hóa tố acétylcholinestérase (AChE) trong một nghiên cứu trước đây.
Mục đích của nghiên cứu này đã phân lập và đặc trưng hóa của những thành phần hoạt động của chất nhựa résine này.
Trích xuất nghiên cứu này bởi một sự đo lường xét nghiệm vi bản màu tương ứng colorimétrique respectif sur microplaque và những vùng hoạt động đã được xác định so sánh bởi sắc ký đối với sinh vật sống nhất là vi sinh vật ( tự động sắc ký sinh học )  bioautographie TLC và được phân lập bằng nhiều kỹ thuật sắc ký chromatographiques.
Những cấu trúc của những thành phần hoạt động đã được đặc trưng hóa bởi một  unidimensionnelle và 2 chiều bidimensionnelle 1H và 13C NMR quang phổ spectrométrie và quang phổ khối lượng spectrométrie de masse dưới dạng :
- (2'S, 5'S) -2'-éthényl-5'- (3-hy-droxy-6-méthyl-4-oxohept-5-en-2-yl)-7-méthoxy-2'-méthyl-4H-spiro [chromène-3,1'-cyclopentane]-2,4-dione (1),
đây là một chất tương tự của chất doremone A và một hợp chất tự nhiên mới, và như là :
- (2'S,5'R)-2'-éthényl-5'-[(2R, 4R)-4-hydroxy-6-méthyl-3-oxohept-5-en-2- yl]-7-méthoxy-2'-méthyl-4H-spiro [chromène-3,1'-cyclo-pentane]-2,4-dione (2 = doremone A),
- (4E,8E)-1-(2,4-dihydroxyphényl)-5,9,13-triméthyltétradéca-4,8,12-trièn-1-one (3 = dshamirone),
- và 4,7-dihydroxy-3-[(2E, 6E) -3,7,11-triméthyldodéca-2,6,10-trién-1-yl]-2H-chromène-2-one (4 = am-moresinol).
Chất Dshamirone đã phát hiện là hợp chất hoạt động nhất, với một giá trị CI50 cho hoạt động ức chế AChE là 23,5 µM, trong khi những chất khác thể hiện một hoạt động yếu hơn.
Những nồng độ của những chất phân tích trong nhựa résine đã được xác định bởi HPLC như sau : 3,1%, 4,6%, 1,9% và 9,9%.
Đặc tính trị liệu :
Cây Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum được sử dụng trong thực vật liệu pháp phương Tây phytothérapie occidentale từ ngàn năm nay và luôn được xem như một phương thuốc có hiệu quả chống lại :
- những bệnh khác nhau của ngực affections de la poitrine.
▪ Một nhựa résine của gôm gomme tìm thấy trong những khoang hốc của :
- những mô của thân tissus des tiges,
- những rễ racines,
- và những cuống lá pétioles.
Nó thường tiết ra một cách tự nhiên của những lỗ trong những thân do bởi những côn trùng cánh cứng coléoptères mặc dù điều này không tinh khiết như thu được từ những mô của         Cây.
▪ Chất nhựa résine là :
- chống co thắt antispasmodique,
- tống hơi carminative,
- đổ mồ hôi diaphorétique,
- lợi tiểu nhẹ légèrement diurétique,
- long đờm expectorante,
- thuốc dán đắp cataplasme,
- chất kích thích stimulant
- và giản mạch vasodilatateur.
▪ Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum thường được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- viêm phế quản mãn tính bronchite chronique (đặc biệt ở những người lớn tuổi âgées),
- bệnh suyễn asthme,
- và viêm nước catarrhe.
▪ Chất nhựa résine có một hành động :
- lợi tiểu nhẹ diurétique légère.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Sự sử dụng truyền thống của nhựa gôm gomme :
Trong khu vực nghiên cứu, thực vật này gọi là Kaal, nhưng nhựa gôm gomme có những tên khác nhau như là Oshtork, Eshterk, Shotork.
Nhựa gôm gomme cấu tạo thành phần quan trọng nhất của cây (97%) được sử dụng truyền thống với những mục đích khác nhau.
▪ Chất nhựa gôm gomme được sử dụng chủ yếu (71%) như thuốc dán đắp cataplasme để chữa lành :
- những nứt nẻ của da gerçures de la peau.
Với mục đích này, gôm gomme sấy khô đầu tiên đập nát thành bột bằng búa, sau đó hâm nóng trở nên lỏng và cuối cùng dắp trên da trong vòng 2-3 ngày.
Da nứt nẻ peau craquelée sẽ được cải thiện hoàn toàn theo phương cách này.
◦ Như trong quá trình trước, đầu tiên nó được nghiền thành bột nhuyễn, sau đó được đốt nóng mạnh để thu được những tro cendres.
Những tro được pha trộn với một số dầu  nhất định huiles, như Eucerin, có thể phục vụ bột cho những mắt yeux.
◦ Hiếm (4%), những chất gôm gomme được sử dụng bên trong cơ thể. Một số lượng nhỏ của chất gôm dạng bột được uống với nước để chữa trị :
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs.
▪ Sự sử dụng hiện nay của gôm gomme và thu nhập của con người :
Hiện nay, những chất gôm gommes được thu hoạch chủ yếu bởi những người dân địa phương để sinh kế cuộc sống của họ. Một số nguời nhất định thu thập chất gôm gomme cho cả hai dùng cho cá nhân của họ và để bán.
Tuy nhiên, lượng tự tiêu thụ rất thấp (50gr / an), cái còn lại được đem bán .
Chất gôm gomme được xuất cảng qua những nước ngoài để được sử dụng chánh trong công nghệ tàu bè như là chất cách ly hoặc công nghệ làm keo.
Những nhựa gôm gomme thường được thu hoạch bởi cắt rạch rễ (83%) và đôi khi chỉ dưới dạng của sản phẩm tự nhiên (dạng miếng) và cắt cành non (17%).
Số lượng nhựa gôm gomme thu thập phụ thuộc trong tất cả những trường hợp của những kỹ năng của những người thu hoạch, những kích thước, và những mật độ của dân số.
Những chất nhựa gôm gommes sau khi lấy ra từ những rễ bởi những người thu hoạch chuyên môn (21%) hoặc người thu gôm bình thường (62%).
Những người thu thập chuyên nghiệp có thể cắt trung bình 120 cây mỗi ngày và thu được khoảng 5 kg chất nhựa gôm gomme mỗi ngày.
Trong khi chờ đợi của người thu thập và dân chúng, số lượng nhựa gôm thu được có thể đạt đến hơn 80 kg mỗi tháng.
Dạng lát mỏng của mẫu vật nhựa gôm chỉ đạt được 600 mg mỗi ngày và 3 kg trên tổng số 50 cây.
Những nhựa gôm gommes được bán trực tiếp vào thương trường địa phương. Đôi khi, những nhà sưu tập đi đến những thành phố và bán những kẹo cao su chewing-gum cho một cửa hàng. Giá của một nhựa gôm gomme lệ thuộc vào phẩm chất, từ 12 $ (cắt rễ) đến 15 $ (dạng cắt xé) bởi kilo.
Dựa trên những dữ liệu này, một nhà sưu tập chuyên nghiệp có thể thu được từ 300 đến 1 000 dollars mỗi tháng, điều nầy cao hơn so với thu nhập 45 dollars so với việc thu nhập của sản phẩm gôm tự nhiên ( dạng xé nhỏ ).
Nghiên cứu :
Nghiên cứu sinh học y học biomédicales .
● Hoạt động gây độc tế bào cytotoxique :
Morteza Yousefzadi và al đã đánh giá hoạt động gây độc tế bào cytotoxique thực hiện trong ống nghiệm in vitro của dầu thiết yếu của trái chín của Cây Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don trong 4 dòng tế bào ung thư lignées cancéreuses và dòng tế bào bình thường bởi thử nghiệm MTT, dựa trên cơ bản của khả năng tồn tại của tế bào.
Trong làm việc nghiên cứu, họ đã cho thấy, cho lần đầu tiên, tính hoạt động gây độc tế bào cytotoxicité mạnh của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don chống lại 4 dòng tế bào ung thư cancers và 1 dòng tế bào bình thường.
Trong một nghiên cứu khác, những tác dụng của chất oléogumrésines của trích xuất méthanoliques thô của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don trên RS322N (rad52) của nấm men levures chủng Saccaromyces cerevisiae đã được nghiên cứu và nó đã được quan sát rằng chất oléogumrésine của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don là một tác nhân tiềm năng gây độc tế bào cytotoxique.
● Hoạt động chống siêu vi khuẩn antimicrobienne :
Hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne được báo cáo bởi những trích xuất Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don, ức chế sự tăng trưởng của 12 vi sinh vật microorganismes và thể hiện một hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne đáng kể.
Trên cơ bản của những đặc tính kháng siêu vi khuẩn antimicrobiennes, những nhà nghiên cứu đã biện minh và hỗ trợ sự sử dụng dân gian folklorique trong chữa trị của một số bệnh nhất định như một tác nhân kháng siêu vi khuẩn antimicrobiens với một phổ rộng.
Trong một nghiên cứu khác, liều lượng kháng siêu vi khuẩn antimicrobien của dầu thiết yếu huile essentielle của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don. Những trái được thực hiện bởi phương pháp khuếch tán trên đĩa và những giá trị của CMI chỉ ra rằng dầu thể hiện một hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne vừa phải đến cao, trong đặc biệt chống lại Bacillus subtilis và Staphylococcus epidermidis, với một CMI 3,75 mg ml-1.
● Hoạt động chống nấm antifongique :
Ushaq Dorema ammoniacum D. Don thể hiện nhnữg đặc tính chống nấm antifongiques và hoạt động trên những nấm Candida albicans, Aspergillus niger và Saccharomyces cerevisiae như là nó xuất hiện, bằng cách tóm tắc những báo cáo khác nhau của những nghiên cứu đã được công bố trong những 22 năm qua, tức là từ năm 1985 đến 2007 trên những thực vật với những đặc tính chống nấm antifongiques chống lại những yếu tố nấm thực vật gây bệnh phytopathogènes.
M. Rajani và al. cũng đã phát hiện rằng dichlorométhane : trích xuất méthanol của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don thể hiện một hoạt động chống nấm antifongique chống lại nấm Aspergillus niger.
● Hoạt động chất ức chế AchE :
Nghiên cứu hoạt động chất ức chế AChE của một trích xuất dichlorométhane của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don. đã được thực hiện bởi H.-R. Adhami và al.
Trích xuất dichlorométhane của gôm ammoniacum đã được phân đoạn, 4 thành phần hoạt động đã được phân lập và cấu trúc của chúng đã được đặc trưng hóa.
Những hoạt động chất ức chế AChE của dichlorométhane đã được xác định cho lần đầu tiên trong thử nghiệm trên vi bản microplaque.
Những hợp chất 1, 2 và 4 chỉ thể hiện một hoạt động thấp, trong khi hợp chất 3 hoạt động mạnh hơn khoảng 10 lần.
Những nhà nghiên cứu đã kết luận rằng những hợp chất góp phần vào sự ức chế AChE của thuốc này.
Do những kết quả này, sự sử dụng thuốc này để cải thiện những chức năng nhận thức cognitives dường như có vẻ hợp lý.
Dshamirone hóa ra là hợp chất hoạt động mạnh nhất với giá trị CI50 cho hoạt động chất ức chế AChE 23,5 µM, trong khi những chất khác thể hiện một hoạt động yếu.
● Hoạt động chống viêm anti-inflammatoires và giảm đau analgésiques :
Shojaii và al. 2017 đã quan sát những hoạt động chống viêm anti-inflammatoires và giảm đau analgésiques của dung dịch nước của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don ở những mô hình động vật.
Bằng cách sử dụng một mô hình phù nề œdème của chân chuột gây ra bởi chất carraghénane, một thử nghiệm quằn quại tordant gây ra bởi acide acétique và một thử nghiệm với formol.
Người ta đã tìm thấy một hiệu quả giảm đau analgésique đáng kể (P <0,05) trong những giai đoạn cấp tính và mãn tính của thử nghiệm với formol.
Thử nghiệm quằn quại tordant gây ra bởi acide acétique đã cho thấy những hiệu quả giảm đau analgésiques đáng kể ở những động vật 30 phút sau khi tiêm acide acétique.
Nghiên cứu đã cho thấy một hoạt động chống viêm anti-inflammatoire phụ thuộc vào liều trong mô hình phù nề œdème gây ra bởi chất carraghénane ở những chuột.
Hoạt động giảm đau anti-inflammatoire của DAG được so sánh với thuốc indométacine với liều 500 mg / kg.
● Hoạt động chống oxy hóa antioxydante :
Những kết quả của những thử nghiệm quét sạch những gốc tự do radicaux libres và FRAP của DPPH đã được thực hiện.
Những thử nghiệm của DPPH, những trích xuất acétate d'éthyle và chloroforme của rễ cũng như trích xuất acétate d'éthyle của những bộ phận trên không được thể hiện một sức mạnh cao nhất của hoạt động truy tìm những gốc tự do piégeage des radicaux libres với những giá trị CI50 21,3 ± 2,7, 31,8 ± 4,1 và 62,7 ± 3,0 µg / mL, tương ứng, bởi báo cáo so với vitamine E (CI50 14,3 ± 2,2 µg / ml).
Những trích xuất acétate d'éthyle của những 2 mẫu vật của Cây cũng thể hiện khả năng mạnh nhất khử sắt trong xét nghiệm FRAP, với 112,7 ± 8,1 và 54,0 ± 6,2 mmol FSE / g, tương ứng, so sánh với vitamine E (127,8 ± 6,3 mmol FSE / g).
Trước đây, người ta báo cáo rằng những trích xuất hydroalcooliques của Doreme aitchisonii và trích xuất éthanoliques của những bộ phận trên không của Dorema aucheri có một hoạt động yếu của sự truy tìm những gốc tự do piégeage des radicaux libres trong xét nghiệm DPPH với những giá trị CI50 488 và 200 μg / mL, tương ứng.
Mặc dù những thành phần hóa học của những rễ và những bộ phận trên không của loài này chưa được nghiên cứu, sự hiện diện của hợp chất phénoliques như là :
- những coumarines / phénols sesquiterpéniques,
- những flavonoïdes,
- và những glycosides de phloroacétophénone
được ghi nhận ở những loài khác của giống Dorema có thể liên quan đến sự xuất hiện của một hoạt động chống oxy hóa antioxydante nổi tiếng của trích xuất đề cập của những bộ phận trên không và của những rễ Cây Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum.
Tuy nhiên, những dầu thiết yếu của những bộ phận trên không và những rễ đã thể hiện bất cứ lúc nào hoạt động chống oxy hóa antioxydante thấp nhất trong những thử nghiệm DPPH và FRAP.
Một báo cáo trước đây trên hoạt động truy tìm những gốc tự do piégeage des radicaux libres của dầu thiết yếu của rễ Cây Dorema glabrum cũng được báo cáo rằng dầu thiết yếu nầy là một chống oxy hóa antioxydant yếu trong một phân tích của truy tìm những gốc tự do piégeage des radicaux libres của DPPH (CI50 2,2 mg / mL).
● Hoạt động kháng khuẩn antibactérienne :
Trong thử nghiệm hoạt động kháng khuẩn antibactérienne, như đã thực hiện, những trích xuất acétate d'éthyle và chloroforme của rễ cho thấy một hoạt động mạnh kháng khuẩn antibactérienne đối với những vi khuẩn Bacillus subtilis, Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus aureus.
Những trích xuất acétate d'éthyle và chloroforme của những bộ phận trên không có tính ức chế mạnh sự tăng trưởng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa.
Phân đoạn đầu tiên cũng đã cho thấy một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne mạnh và vừa phải chống lại vi khuẩn Bacillus subtilis, tương ứng.
Những mẫu vật của dầu thiết yếu huile essentielle đã cho thấy một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne chống lại Shigella dysenteriae, và hoạt động của dầu rễ được tìm thấy cao hơn thuốc gentamicine.
Những nghiên cứu trước đây trên hoạt động kháng khuẩn antibactérienne của nhựa résine của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum cho thấy rằng nó hành động của một yếu tố kháng khuẩn antimicrobien mạnh với một phổ rộng spectre của hoạt tính, đặc biệt chống lại một số vi khuẩn nhất định Gram + dương, bao gồm Bacillus subtilis, Bacillus cereus, Bacillus pumilus và Staphylococcus epidermidis, Staphylococcus aureus, Micrococcus luteus và Streptococcus faecalis.
Hơn nữa, nó đã được tìm thấy rằng dầu thiết yếu huile essentielle của trái Cây Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum có một hoạt động kháng khuẩn antimicrobienne mạnh trên những vi khuẩn : Bacillus subtilis, Staphylococcus epidermidis và Staphylococcus aureus với những vùng ức chế 23, 22, 17 mm và những giá trị CMI của 3,75, 3,75 và 7,5 mg / mL. , tương ứng.
Liên quan đến mối tương quan được quan sát giữa hoạt động chống oxy hóa antioxydante và kháng khuẩn antibactérienne của những trích xuất thử nghiệm, người ta có thể giả định rằng những hoạt tính sinh học bioactivités này được tác động bởi cùng một nhóm của chất hóa chất thực vật phytochimiques.
Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu hơn để xác định những hợp chất liên quan đến hoạt động kháng khuẩn antibactérienne của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum.
Những kết quả của phân tích của những dầu thiết yếu của những bộ phận trên không và những rễ của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum giới thiệu chứng như một nguồn của sesquiterpènes hydrocarbonés và non-terpènes oxygénés.
Những hoạt động chống oxy hóa antioxydantes và kháng khuẩn antibactériennes đáng kể của những bộ phận trên không và những rễ của loài này cũng cho thấy rằng loài dược liệu này cấu thành một ứng viên phù hợp cho những nghiên cứu hóa chất thực vật phytochimiques và dược lý độc tính học toxico-pharmacologiques sâu rộng và thâm cứu hơn để xác định những nguyên chất chống oxy hóa antioxydants và kháng khuẩn antibactériens và đánh giá tiềm năng phát triển của chứng, mục đích y học hoặc của những công nghệ thực phẩm như chất bảo quản tự nhiên.
● Chứng động kinh Épilepsie :
Chứng động kinh épilepsie là một bệnh thần kinh maladie neurologique mãn tính làm xáo trộn hoạt động điện thần kinh électrique neuronale.
Một phần ba của những bệnh nhân đề kháng lại sự chữa trị với những thuốc chống động kinh antiépileptiques sẵn có.
Sự sử dụng thuốc với cơ bản của thảo dược để chữa trị nhiều bệnh, bao gồm bệnh động kinh épilepsie, đang được gia tăng.
Do đó cần phải điều tra bổ sung là cần thiết để kiểm tra tính an toàn và tính hiệu quả của thuốc thảo dược Phytomedicine trong chữa trị những bệnh.
Sự hiện diện của nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế điện sinh lý électrophysiologique của hiệu quả của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don trên một mô hình tế bào của :
- động kinh épilepsie,
bằng cách sử dụng một phương pháp ghi nội tế bào enregistrement intracellulaire.
▪ Chất nhựa gôm gomme được áp dụng sau hoặc trước pentylènetétrazole như một thuốc :
- động kinh épileptique
để mà khám phá những hiệu quả điều trị thérapeutiques và ngăn ngừa có thể của chất nhựa gôm gomme.
Chữa trị với Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don chỉ làm gia tăng :
- tính phấn khích thần kinh excitabilité neuronale
và áp dụng trước hoặc sau chữa trị với PTZ, không những không ngăn cản cũng không thay đổi những sự thay đổi điện sinh lý électrophysiologiques gây ra bởi PTZ, nhưng cũng tăng cường cảm ứng của :
- tính phấn khích quá mức hyperexcitabilité,
- và hoạt động giống như cơn động kinh épileptiforme
bởi góc nhìn của tiềm năng bởi thông qua tiềm năng :
- khử cực màng,
- gia tăng tần số phát khởi,
- và giảm biên độ của AHP.  
Tuy nhiên, thuốc phénobarbital, như một yếu tố :
- chống chứng động kinh antiépileptique tiêu chuẩn,
gần như đảo ngược hiệu quả của PTZ và thể hiện những đặc tính của :
- sự vận dụng bình thường của những tế bào thần kinh neurones F1.
▪ Cơ chế ứng viên có thể của hiệu quả của Gôm nước đái quỷ Dorema ammoniacum D. Don trên :
- kích thích tế bào thần kinh excitabilité neuronale
có thể là những hiệu quả ức chế của gôm gomme trên sur :
- căn thẳng tension,
- và / hoặc những dòng của những kênh ion K phụ thuộc vào ion Ca2 + làm cơ bản AHP.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Độc tính đường uống cấp tính Toxicité orale aiguë :
Trong một nghiên cứu 40 con chuột đã được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm, mỗi nhóm gồm 10 động vật (n = 5 đực và n = 5 cái) bao gồm : một nhóm đối chứng (nhóm 1) và 3 nhóm ở mức độ của liều lượng ( nhóm 2, 3 và 4) đã nhận được một liều lượng duy nhất của 1250, 2500 và 5000 mg / kg của trọng lượng cơ thể, tương ứng.
DAOGR đã được quản lý dùng uống một lần với 10 ml / kg trên trọng lượng cơ thể, trong khi nước cất được quản lý dùng cho nhóm kiểm chứng.
Sau khi quản lý dùng, những động vật đầu tiên đã được quan sát tất cả mỗi nửa giờ trong thời gian 4 giờ và sau đó mỗi ngày.
- Những thay đổi của những mắt yeux, da, peau và lông pelage và màng nhày membrane muqueuse (mũi nasale), cũng như những thay đổi hành vi tâm tính như là nước bọt salivation, tiêu chảy diarrhée và trọng lượng cơ thể poids corporel đã được quan sát và ghi nhận riêng lẽ cho mỗi động vật bởi so với những kiểm chứng trong thời gian thí nghiệm.
- Vào ngày 14, sau khi quản lý dùng, những động vật đã bị hy sinh bởi sự hít chất chloroforme và bề mặt bên ngoài, những cơ quan trong ngực organes thoraciques và cơ quan trong bụng organes abdominaux và nội dung đã được quan sát bằng phương vĩ mô ( tức là quan sát bằng mắt không cần phải dùng kính lúp hoặc kính hiển vi macroscopiquement (Kebede và al., 2016, Lee và al., 2015).
◦ Độc tính đường uống Toxicité orale với liều lập đi lập lại của 4 tuần (độc tính bán cấp tính toxicité subaiguë)
Những chuột còn lại được phân chia ngẩu nhiên thành 4 nhóm (n = 5 đực và n = 5 cái ) : một nhóm kiểm chứng ( nhóm 1) và 3 nhóm với mức độ của liều dùng ( nhóm 2, 3 và 4) đã nhận được 100, 200 và 500 mg / kg. kg của trọng lượng cơ thể / ngày, tương ứng.
- DAOGR đã được quản lý uống với liều dùng hợp lý của 10 ml / kg của trọng lượng cơ thể trên cơ bản hằng ngày trong thời gian 4 tuần.
Những động vật kiểm chứng đã được chữa trị với cùng một thể tích nước cất.
▪ Quan sát trên cơ thể sinh vật sống in vivo :
- Trong thí nghiệm, những dấu hiệu của độc thính toxicité và tử vong mortalité đã được quan sát ở những chuột 2 lần mỗi ngày.
- Những dấu hiệu độc tính toxicologiques chi tiết đã được đánh giá và được ghi lại, bao gồm của những thay đổi của da peau và của lông pelage, của những mắt yeux, của những màng nhầy muqueuses, của phân bón fumier, của những hành vi tâm tánh comportements, v…v…. (Lee và al., 2015, Xie và al., 2013).
◦ Soi đáy mắt Ophtalmoscopie :
- Khảo sát tầm nhìn vue đã được thực hiện trong một thời gian ngắn trước khi bắt đầu thí nghiệm và trước khi kết thúc thí nghiệm, phù hợp với những phương pháp quy định bởi Lee và al., 2015 (Lee và al., 2015).
◦ Trọng lượng cơ thể Poids corporel :
Trọng lượng cơ thể được đo lường vào lúc đầu và 1 lần cho mỗi tuần trong suốt thời gian thí nghiệm.
◦ Dùng thực phẩm prise de nourriture :
Những số lượng thực phẩm được cân trước khi cung cấp cho mỗi lồng, và cái còn dư lại cũng được đo lường vào ngày hôm sau.
Những khác biệt đã được báo cáo như một sự tiêu thụ thức ăn hằng ngày.
◦ Huyết học hématologie và sinh hóa huyết thanh biochimie sérique
Những thông số huyết học hématologiques và sinh hóa biochimiques đã được đánh giá theo những phương pháp được mô tả trước đây (Lee và al., 2015, Xie và al., 2013).
◦ Trọng lượng cơ quan poids d'organes :
Vào cuối thời kỳ chữa trị, tất cả những chuột đực và chuột cái đều được gây mê bằng anesthésiés với chloroforme.
Những động vật bị gây mê đã được hy sinh, sau đó bị cắt đầu để lấy máu làm mẫu vật collecte de sang.
Một thử nghiệm sau khi hoàn toàn chết đã được thực hiện  trên tất cả những động vật.
Tất cả những cơ quan đã được kiểm tra cẫn thận thấy rõ không cần dùng tất cả những loại kính macroscopiquement.
Tiếp theo sau, gan foie, những phổi poumons, tim cœur, những thận reins, lá lách rate và dạ dày estomac đã được tách rời và , sau khi loại bỏ những chất béo graisse, tất cả những mô liên kết tissus conjonctifs và máu của chúng đã được cân (Lee và al., 2015, Xie và al., 2013).
◦ Mô bệnh học histopathologie :
- Nhuộm với phẩm nhuộm hématoxylineéosine đã được sử dụng để khảo sát bằng kính hiển vi microscopique những cơ quan, bao gồm :
- não bộ cerveau,
- tuyến giáp trạng glande thyroïde,
- dạ dày estomac,
- ruột non intestin grêle,
- ruột già gros intestin,
- tụy tạng pancréas,
- những phổi poumons,
- lá lách rate, gan foie,
- tim cœur,
- bàng quang vessie,
- những dịch hoàn testicules,
- buồng trứng ovaires,
- tử cung utérus,
- và tuyến tiền liệt prostate ( Lee và al., 2015, Xie và al., 2013).
◦ Phân tích thống kê Analyses statistiques  :
- Những dữ liệu được thể hiện như là phương tiện ± SEM. Những dữ liệu đã được phân tích bởi phương sai một chiều analyse de variance unidirectionnelle (ANOVA) tiếp theo sau đó là thử nghiệm khác biệt nhỏ nhất của Fisher bằng cách sử dụng chương trình SPSS.
- Những dữ liệu từ động vật đực và cái được phân thích riêng biệt. Một p = 0,05 đvược xem như đáng kể. 
Ứng dụng :
● Ứng dụng y học .
Chất nhựa résine được sử dụng để chữa trị :
Bên ngoài cơ thể, nó được sử dụng như một băng gạt pansement cho :
- sưng những khớp xương gonfler les articulations,
- và những khối u không rõ ràng tumeurs indolentes.
▪ Dùng bên trong cơ thể, nó hành động bằng cách tạo thuận tiện dễ dàng long đờm expectoration và có lợi ích trong :
- viêm phế quản mãn tính bronchite chronique,
trong đặc biệt ở những người lớn tuổi personnes âgées, khi có :
- sự bài tiết khó khăn sécrétion est dure,
- và nhờn visqueuse.
▪ Nhựa gôm gomme résine, đôi khi được quản lý dùng như :
- làm đổ mồ hôi diaphorétique,
- và dịu đau trấn thống điều kinh emménagogue,
được sử dụng như một băng gạt pansement cho :
- sưng trắng gonflement blanc của những khớp xương articulations,
- và cho những khối u không rỏ ràng tumeurs indolentes.
Sự sử dụng của nó là rất cổ xưa antiquité và được đề cập bởi Hippocrate.
● Sử dụng khác :
◦ Đôi khi, những nhựa gôm gommes được sử dụng như sản phẩm trang trí.
◦ Những sấy khô cũng được sử dụng như thức ăn cho gia súc bétail. Những thân tươi được thu hoạch vào tháng 5-6 mai-juin, phơi ngoài nắng mặt trời để sấy khô và lưu trử bào quản trong kho khô ráo cho đến mùa mùa đông, để khi không có đủ cỏ trong những đồng cỏ.
◦ Hiếm khi những lá tươi được sử dụng như thuốc trừ sâu sinh học biopesticides trong những ruộng lúa.
Những lá tươi được thu thập sau đó để trong những kênh nước chánh, đặc biệt trong những đường dẫn chánh vào trong cánh đồng. Người ta nghĩ rằng một số thành thành phần tự nhiên được phóng thích vào trong nước và hành động chống lại những loài tuyến trùng nématodes.
       
Nguyễn thanh Vân