Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

lundi 15 septembre 2014

Hạt Kê - Millet

Millet
Hạt Kê trồng
Panicum miliaceum L.
Poaceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học :
- Pennisetum glaucum,
- Hạt Kê Panicum miliaceum,
- Eleusine coracana, …….
Tên thông thường :
- Kê trắng, Kê Bordeaux, Kê ngọc trai ….
▪ Kê millet tập hợp những loài của họ Graminea ( đồng nghĩa Poaceae ), biết nhiều nhất là Kê ngọc trai millet perlé và Kê thông thường millet commun. Kê hành động của một ngũ cốc có nguồn gốc ở Châu Phi và Châu Á. Kê được biết đến bởi những hiệu năng của nó là chống lại:
- sự rụng tóc chutes de cheveux.
Người ta ly trích dầu thiết yếu của cây này từ những hạt để cho một số nhiều sử dụng trong y học .
Hạt Kê là ngũ cốc nổi tiếng cho những chất dinh dưởng mà Kê chứa trong hạt và những lợi ích cho :
- sức khỏe của da peau,
- của móng tay ongles,
- cũng như của tóc.
Hạt Kê Panicum miliaceum giúp chống lại tình trạng suy dinh dưởng trong những nước của Châu Á và Châu Phi.
Kê dễ dàng tiêu hóa và không chứa gluten, hạt Kê là một ngũ cốc gây dị ứng thấp .
▪ Nguồn gốc tổ tiên của Kê là hoang dại và nơi thuần hóa Kê thông thường millet commun không được biết rõ, nhưng Kê xuất hiên đầu tiên như một cây trồng ở 2 nơi, trong Transcaucasie và ở Tàu vào khoảng 7000 năm trước, như thế cho thấy Kê có thể được thuần hóa độc lập cho ở mỗi vùng.
Kê còn được trồng rộng rãi trong Ấn Độ, Nga, Ukraine, Trung Đông, Turquie và Roumanie.
Ở Mỹ États-Unis, Kê được trồng chủ yếu để nuôi những loài chim.
Kê được bán như một thức ăn cho sức khỏe và lý do Kê không có Gluten, Kê có thể bao gồm trong chế độ ăn uống của những người không thể chấp nhận ăn được lúa mì blé.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân thảo, bụi cao, thẳng đến 1,2 m, gần như láng, thân rỗng, dầy khoảng 6-8 mm ở dưới gốc, thực vật nhất niên, đáy có rễ to, cứng, lóng dài 10-25 cm, mắt có lông.
Phiến lá dài 20-25 cm, rộng 1-2,5 cm, với ống bao lấy thân tua tủa những lông, phìến lá trơn hay có lông mịn, một miếng mỏng như nối dài của bẹ lá gọi là mép lá ligule, một màng có lông ( < 3mm ), bẹ dài, có lông dài đứng,
Phát hoa, chùm tụ tán thưa hay rất dày, trục chánh như nhánh, cọng dài, uốn cong ở đầu nhánh, đạt được khoảng 30 cm.
Gié hoa dài 4-5,5 mm, hoa dưới lép, hoa trên lưỡng phái, nuốm màu tím đen.
- dĩnh dưới đạt ½ đến ¾ chiều dài của hoa, dĩnh trên cùng một kích thước với hoa.
Trái là dĩnh quả, màu trắng, hình trứng 3 mm dài trên 2 mm rộng, bao bởi 2 mày ( dĩnh ) vững chắc,
Hạt, được bao bọc, có màu sắc rất khác nhau, rất sáng đến rất tối có màu trắng, kem, vàng, đỏ, cam, màu nâu olive, thường thì có màu trắng kem. Trung bình mất 175 hạt cho 1 gr.
Bộ phận sử dụng :
Hạt
Thành phần hóa học và dược chất :
► Thành phần dinh dưởng :
Hạt Kê Panicum miliaceum là một nguồn tốt của:
- manganèse Mn,
- acide folique,
- potassium K,
- vitamines B,
- phosphore P.
Trong 100 grammes ( khoảng ½ tách ) của Millet thô, gồm có những thành phần :
- Nước Eau 8,67 g
- Năng lượng kcal Énergie 378 kcal
- Năng lượng kJ Énergie 1582 kJ
- Chất đạm protéines 11.02 g
- Tổng số chất béo lipides ( graisses )  4,22 g
- Tro ash 3,25 g
- Đường glucides, bởi có sự khác biệt 72.85 g
- Tổng số chất xơ thực phẩm  8,5 g
Những nguyên tố khoáng :
- Calcium Ca  8 mg
- Sắt  Fe 3.01 mg
- Magnésium Mg  114 mg,
- Phosphore P  285 mg,
- Potassium K  195 ​​mg,
- Muối Sodium Na  5 mg,
- Kẽm  Zn  1,68 mg,
- Đồng  Cu  0,750 mg,
- Manganèse Mn  1.632 mg,
- Sélénium Se  2,7 mcg,
Những vitamines :
- Vitamine C, tổng số acide ascorbique  0,0 mg,
- Thiamine 0,421 mg,
- Riboflavine 0,290 mg,
- Niacine  4.720 mg,
- Acide pantothénique  0,848 mg,
- Vitamine B6  0,384 mg,
- Acide folique, tổng số  85 mcg
- Vitamine B12  0,00 mcg
- Rétinol  0 mcg
- Vitamine E (alpha-tocophérol)  0,05 mg
- Vitamine D (D2 + D3)  0,0 mcg
- Vitamine K (phylloquinone)  0,9 mcg
Acides béo :
- Tổng số những acides béo, bảo hòa saturés  0,723 g
- Tổng số những acides béo, đơn bảo hòa monoinsaturés  0,773 g
- Tổng số Acides béo, đa bảo hòa polyinsaturés  2.134 g
Những acides amines :
- Tryptophane  0,119 g
- Thréonine  0,353 g
- Isoleucine  0,465 g
- Leucine 1.400 g
- Lysine  0,212 g
- Méthionine  0,221 g
- Cystine  0,212 g
- Phénylalanine  0,580 g
- Tyrosine  0,340 g
- Valine  0,578 g
- Arginine  0,382 g
- Histidine  0,236 g
- Alanine  0,986 g
- Acide aspartique  0,726 g
- Acide glutamique  2.396 g
- Glycine  0,287 g
- Proline  0,877 g
- Serine  0,644 g
► Nguyên hoạt chất principes actifs và đặc tính propriétés :
Những thành phần chánh của Hạt Kê Panicum miliaceum là :
- mầm germe,
- cám son,
- và nội phôi nhủ endosperme.
So với mầm của những ngũ cốc khác, mầm hạt Kê chiếm một tĩ lệ lớn của nguyên hạt, vì một phần lớn của những chất dinh dưởng ( như vitamines, nguyên tố khoáng minéraux, chất đạm protéines và chất béo lipides ) đều chứa trong mầm germe, điều này mang lại cho Hạt Kê millet toàn bộ có giá trị tốt của sự dinh dưởng nutritive.
Đối với, hàm lượng và tính sẵn có của hầu hết những chất dinh dưởng nutriments, cho nên những hiệu quả sẽ :
- giảm bởi sự bóc vỏ décorticage,
- và nhiều quá trình tinh chế raffinage khác nhau của hạt.
● Chất đạm của hạt millet.
Những nghiên cứu được thực hiện ở động vật đã cho thấy rằng sự tiêu dùng của chất đạm protéine của Hạt Kê Panicum miliaceum dẫn đến :
- sự gia tăng của cholestérol “ tốt ” (HDL),
so với những một chất đạm tham chiếu, caséine của sữa .
Những tác giả cũng đã quan sát, ở một mô hình của chuột bệnh tiểu đường diabétique,
- một sự giảm của kích thích tố insuline,
- và một sự gia tăng của adiponectine trong máu,
Hai (2) thành phần trên có liên quan với một sự giảm nguy cơ của :
- bệnh tim mạch cardiovasculaire,
- và bệnh tiểu đường loại 2 diabète de type 2.
Cho đến ngày nay, không có nghiên cứu nào được thực hiện ở người, cho nên không thể xác định những kết quả này trông như có một triển vọng.
▪ Phẩm chất của chất đạm của hạt kê millet tùy thuộc vào hàm lượng bởi :
- acides aminés, ,
- và mức độ tiêu hóa digestibilité.
Nó thay đổi ở loài này với loài khác, nhưng thường thường xem tương đương hoặc lớn hơn so với hầu hết những ngũ cốc khác.
Hạt Kê Panicum miliaceum nguyên, có chứa chất :
- lysine ( một acide aminé thiết yếu cho người ),
tương đối cao so với những ngũ cốc khác như lúa mì blé, bắp maïs và lúa miến sorgho.
Tuy nhiên, hạt đã bóc vỏ như là người ta có thói quen tiêu dùng không thể đáp ứng những nhu cầu chất lysine của một trẻ em đang tăng trưởng.
Đó là lý do tại sao, nó được đề nghị nên tiêu thụ Hạt Kê Panicum miliaceum chung với một nguồn chất đạm khác ( như thịt, gia cầm, cá hoặc những loại đậu légumineuses ), giàu chất lysine.
► Phytates, chất gây ra bướu cổ substances goitrogènes và chất ức chế trypsine
Những ngũ cốc chứa :
- những yếu tố chống sự dinh dưởng antinutritionnels,
Nghĩa là những chất can thiệp vào :
- sự hấp thu,
- và sự sử dụng bởi cơ thể các chất dinh dưởng quan trọng như những chất đạm protéines và những nguyên tố khoáng minéraux.
▪ Phytates.
Những phytates hiện diện tự nhiên trong tất cả những ngũ cốc. Nó có đặc tính liên kết với những nguyên tố khoáng minéraux, như là :
- calcium Ca,
- sắt Fe,
- và kẽm Zn.
và cho ít sinh khả dụng biodisponibles ( biodisponibles được mô tả cho một đặc tính của dược động học của thuốc, tức là phần của một liều thuốc đạt đến trong sự lưu thông máu dưới hình thức không thay đổi ).
Lượng của phytates chứa trong Hạt Kê Panicum miliaceum được so sánh với những ngũ cốc khác. Khi những hạt được bóc vỏ hoặc nghiền nhuyễn thành bột, tỹ lệ phytates cũng như số lượng nguyên tố khoáng cũng được giảm đáng kể.
▪ Chất gây ra bướu cổ substances goitrogènes.
Goitrogènes, là những thành phần hợp chất, nguyên nhân của sự xuất hiện của những bướu cổ goitre bằng cách can thiệp vào sự sản xuất của những kích thích tố nội tiết tuyến giáp trạng hormones thyroïdiennes.
Tác động dinh dưởng của những thành phần hợp chất sinh bướu cổ goitrogènes là rất yếu trong những nước đang phát triển, nơi mà người ta không tìm thấy thêm về sự thiếu nguyên tố chất iode, trái với một số nước nơi mà thực phẩm rất ít thay đổi.
Chất sinh ra bướu cổ của Hạt Kê Panicum miliaceum nguyên được gọi là thionamide. Như thế, thionamide chỉ được tìm thấy trong nội phôi nhủ endosperme và trong cám son,
- bóc vỏ décorticage,
- và những xử lý nhiệt nóng của hạt millet có hiệu quả làm giảm đáng kể hàm lượng .
▪ Chất ức chế trypsine.
Những chất ức chế đã được phân lập trong Hạt Kê Panicum miliaceum ngọc trai millet perlé. Nó có thể ảnh hưởng đến sự đồng hóa assimilation ( tính tiêu hóa digestibilité ) của những chất đạm protéines bởi cơ thể. May mắn, nó đã được vô hiệu hóa :
- bởi nhiệt lượng chaleur,
- và trong sự tiêu hóa của con người,
hạt millet luôn luôn tiêu dùng nấu chín.
▪ Những chất dinh dưởng quan trọng .
Hạt Kê Panicum miliaceum nguyên ( không bóc vỏ ) là một nguồn quan trọng của :
- vitamines phức tạp B vit B complex,
- vitamin E,
- và những nguyên tố khoáng như potassium K, phosphore P, sắt Fe và kẽm Zn.
Tuy nhiên, khi hạt được bóc bỏ vỏ, hạt Kê mất đi một phần lớn của những chất dinh dưởng nutriments, bởi vì loại bỏ vỏ hạt là loại bỏ một phần mầm germe của nó.
Những dữ liệu tiếp theo có liên quan đến hạt kê millet bóc bỏ vỏ décortiqué.
▪ Phosphore P.
Một phần của Hạt Kê Panicum miliaceum đóng gói trong 13 % của những nhu cầu hằng ngày bởi nguyên tố phosphore. Phosphore là một nguyên tố khoáng phong phú thứ hai trong cơ thể, sau nguyên tố calcium Ca.
Bên cạnh những vai trò thiết yếu trong chức năng của xương os và của răng dents, nó tham gia vào những chức năng khác trong :
- sự tăng trưởng và sự tái tạo của những mô tế bào,
- và giúp duy trì nồng độ pH trong máu.
Phosphore cũng là một trong những thành phần cấu tạo của những màng tế bào membranes cellulaires.
▪ Magnésium Mg.
Hạt Kê Panicum miliaceum là nguồn magnésium Mg. Một phần của 125 ml hạt Kê nấu chín đóng gói vào khoảng 10 % của những nhu cầu hằng ngày của magnésium Mg.
Nguyên tố magnésium Mg tham gia vào :
- khoáng hóa xương,
- cấu thành của những chất đạm protéines,
- hành động của những chất phân hóa tố enzymatiques,
- sư co cơ contraction musculaire,
- dẫn truyền luồng thần kinh influx nerveux,
- sức khỏe của răng santé dentaire,
- và chức năng của hệ thống miễn dịch système immunitaire.
▪ Kẽm Zn.
Hạt Kê Panicum miliaceum chứa kẽm Zn và nó cho phép đóng gói một phần những nhu cầu hằng ngày ở một người trưởng thành.
Kẽm tham gia, đặc biệt trong :
- những phản ứng miễn nhiễm immunitaires,
- với sự chế tạo những vật liệu di truyền génétique,
- nhận thức hương vị,
- hóa sẹo chữa lành vết thương cicatrisation des plaies,
- và phát triển bào thai développement du foetus.
Kẽm, cũng tương tác với những kích thích tố nội tiết :
- sinh dục hormones sexuelles,
- và tuyến giáp trạng  thyroïdiennes.
Trong tuyến tụy pancréas, Kẽm tham gia vào quá trình :
- tổng hợp ( chế tạo ),
- tồn trữ,
- và phóng thích chất insuline.
Chất xơ thực phẩm Fibres.
Hạt Kê Panicum miliaceum nguyên chứa những chất xơ thực phẩm nhưng trong một lượng nhỏ hơn hầu hết những loại ngũ cốc hoàn toàn khác céréales complètes.
Đặc tính trị liệu :
Hạt Kê Panicum miliaceum, hiệu quả :
- làm mát refroidit,
- và làm dịu đau adoucissant.
Hạt Kê Panicum miliaceum nấu chín được áp dụng trong thuốc dán cao cataplasme cho :
- nhọt, ung mủ abcès,
- những vết thương plaies, ..v…v..
Trong khi nước ép jus từ nhai Hạt Kê Panicum miliaceum được áp dụng trên :
- những vết thương của trẻ em.
Hạt Kê Panicum miliaceum cũng được đốt cháy và pha trộn với dầu, sau đó sử dụng như một thuốc dán cao cataplasme, được cho là :
- chữa lành những vết thương mà không để lại vết sẹo cicatrice.
Một nước nấu sắc décoction của rễ được sử dụng như :
- một thuốc giải độc antidote, ngộ độc bởi giống dây leo của Khổ qua Momordica spp ( chưa xác định loài ),
Cũng được sử dụng để chữa trị :
- tiểu ra máu ở những người phụ nữ hématurie chez les femmes,
và được dùng để tắm để chữa trị cho những bệnh :
- phát chẫn, phun mủ ở da éruptions cutanées.
► Đặc tính và lợi ích của hạt Kê millet
Thuốc được chế tạo thành viên nang gélule từ Hạt Kê Panicum miliaceum hành động trên mức độ, trên :
- những cơ quan thuộc da như lông móng phanères.
Nhờ những chất dinh dưởng mà hạt Kê chứa, nó giảm :
- rụng tóc chute des cheveux,
- và thúc đẩy sự tăng trưởng mọc tóc favorise leur pousse.
Trong liên quan những yếu tố thiết yếu với sức khỏe của những cơ quan thuộc da phanères, hạt Kê làm cho những tóc cheveux cũng như những móng ongles :
- mạnh hơn plus forts,
- và có sức  đề kháng hơn plus résistants.
▪ Chất kératine là chất căn bản của những cấu trúc của da và móng, nó cần được nuôi dưởng. Tất cả những yếu tố đã có chứa trong viên nang được bán trong những nhà thuốc, giúp đở cho :
- sự tái sinh  régénérer.
Thuốc viên nang Hạt Kê Panicum miliaceum là cần thiết sử dụng chống :
- rụng tóc có nguồn gốc do sự thiếu hụt chất dinh dưởng carentielle.
Người ta sử dụng, thứ nữa, để chữa trị :
- vấn đề của những móng tay dòn dễ gảy ongles cassants,
- và suy yếu fragilisés,
cũng như một số nhất định của :
- rối loạn da cutanés.
Hạt Kê Panicum miliaceum có một hành động trên :
- ống tiêu hóa tube digestif , khi nó được tiêu dùng như là ngũ cốc céréale.
Đặc tính chống loét anti-ulcèreuse của Hạt Kê Panicum miliaceum và chống viêm đại tràng colites, giúp :
- những vết loét ulcéreux, lành bệnh nhanh chóng guérison.
Hạt Kê Panicum miliaceum cũng cung cấp một hành động nổi tiếng trong sự ngăn ngừa :
- những sạn thận calculs rénaux,
- và sạn mật biliaires.
Hạt Kê Panicum miliaceum cung cấp một hiệu quả lợi ích cho :
- hệ thống thần kinh système nerveux,
Như là một chất :
- chống căn thẳng anti-stress ,
- và kích thích trí nhớ stimulateur de mémoire
nhờ những yếu tố có chứa trong hạt Kê.
► Lợi ích bénéfice :
● Tóc, da, và móng tay .
Ngày nay, trong đất càng ngày càng ít nguyên tố silice. Do đó, nhiều người bị thiếu hụt trong chế độ ăn uống. Ngũ cốc này rất giàu bởi nguyên tố silice. Tại sao, người ta phải ăn ngủ cốc này, bởi nhiều lý do, góp phần cho sức khỏe, như là cho :
▪ tóc cheveux
▪ da peau
▪ những móng tay ongles
▪ những mạch máu vaisseaux sanguins
▪ và những khớp xương articulations
Hạt Kê Panicum miliaceum, cũng chứa :
- magnésium Mg,
- phosphore P,
- sắt Fe,  
- potassium K,
- manganèse Mn,
- vitamine A
- vitamine B1
- vitamine B2
- vitamine PP (acide nicotinique)
Hạt Kê Panicum miliaceum cũng chứa vitamine B5, kích thích :
- sự đàn hồi của da élasticité de la peau.
Hạt Kê Panicum miliaceum cũng có những đặc tính khác :
▪ giảm hạ cholestérol máu,  
▪ góp phần cho xương khỏe mạnh santé des os
▪ có những đặc tính lợi ích cho :
- bàng quang vessie,
- thận reins,
- và ruột intestins
● Hạt Kê không là acide :
Hạt Kê Panicum miliaceum là một trong những ngũ cốc hiếm, không có tính acide hóa acidifiante. Trái với lúa mì blé, là một ngũ cốc có tính kiềm alcalinisante. Cũng như, nó có một đặc tính tăng cường :
- sự bảo vệ tự nhiên défenses naturelles.
Chủ trị : indications
Bởi hàm lượng chất dinh dưởng, hiệu quả tái tạo cho :
- tóc cheveux,
- những móng ongles,
- và da peau
Chống rụng tóc chute des cheveux ( liên quan với sự thiếu hụt chất dinh dưởng nutriments ), để cải thiện phẩm chất của những móng ongles và da peau.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Biện pháp phòng ngừa :
Một mùi vị đặc biệt.
Nếu người ta tiêu dùng lần đầu tiên, người ta có thể ngạc nhiên bởi một mùi hương và một hương vị rõ ràng của bột và một số món ăn.
Đây là một flavonoïde, cũng trách nhiệm của màu xám-nâu, mang đến cho nó một tính chất đặc trưng.
▪ Dị ứng thực phẩm Allergie alimentaire.
Hạt Kê Panicum miliaceum được xem như một ngũ cốc rất thấp gây ra dị ứng allergène. Những người mắc chứng bệnh dị ứng nghiêm trọng đối với thực phẩm thông thường có thể tiêu dùng Hạt Kê Panicum miliaceum mà không sợ bị phản ứng réactions.
Tuy nhiên, những nghiên cứu cho thấy rằng ăn những thực phẩm có chứa Hạt Kê Panicum miliaceum có thể gây ra, rất hiếm, phản ứng phản vệ nặng anaphylactiques ở những cá nhân có nuôi chim lồng trong nhà.
Thật vậy,  sử dụng Hạt Kê Panicum miliaceum, trong số những hạt khác, với những chất dinh dưởng cho chim lồng, một sự nhạy cảm gây ra bởi sự hít thở của những bụi Hạt Kê Panicum miliaceum có thể, về sau, gây ra một phản ứng dị ứng thực phẩm ở một tỹ lệ % nhỏ của những cá nhân tiếp xúc.
Thực phẩm và biến chế :
● Sử dụng ăn được :
Hạt Kê Panicum miliaceum, nấu chín như hạt nguyên hay xay nhuyễn thành bột và sử dụng như bột để làm bánh mì, những bột nhão pâtes và những thức ăn như là “ tempeh ” lên men. Một hương vị hạt dẻ noisette, nó dễ dàng tiêu hóa hơn một số ngũ cốc bởi vì hàm lượng trong Hạt Kê Panicum miliaceum  rất kiềm trung tính làm vô hiệu hóa những acides.
Hạt Kê Panicum miliaceum cũng phóng thích gluten và như vậy, mặc dù bánh mì chế biến từ bột Hạt Kê Panicum miliaceum không gia tăng, ngũ cốc này thích ứng cho những người mắc phải :
- bệnh cœliaques,
( còn gọi là coeliaque là một bệnh không dung nạp gluten, một bệnh tự miễn, đặc trưng bởi sự teo villositaire ( phá hủy những màng của ruột non ), bệnh này không dung nạp vĩnh viễn với những phân đoạn khác nhau chất đạm của gluten chứa trong  những loại khác nhau của ngũ cốc như là : lú mì, lúa mạch, …v…v.. )
- hoặc bệnh khác không dung nạp gluten.
Hạt Kê Panicum miliaceum cũng có thể làm nẩy mầm ( làm giá ) và thêm vào salade, súp ….
Hạt Kê Panicum miliaceum chửa những :
- chất đạm khoảng 10%,
-  chất béo 4% .
● Chuẩn bị nấu ăn .
Rữa kỹ những hạt Kê trước khi nấu.
Hạt Kê Panicum miliaceum phù hợp với nhiều công thức nấu ăn :
- Hấp hơi nước, nấu cháo, làm bánh, thêm vào cháo, làm salade…..người ta có thể làm nổ như bắp rang …
Hạt Kê Panicum miliaceum có thể thay thế bột mì bởi bột Kê millet, sự cạnh tranh này đến 50 % trong chế biến bánh ngọt và đến 80 % trong những bánh biscuits.
Bánh mì, bánh nướng xốp muffins, bánh crêpes, galettes, tortillas và bánh gaufres cũng có thể chế biến một phần với bột Kê.
Người ta có thể cho nẩy mầm hạt Kê nguyên, làm giá Kê thêm vào salade hoặc giá Kê xào.
▪ Koko ( ủ lên men bouillie fermentée) :
Pha trộn 2 phần bột cho 1 phần nước, đậy nắp, và để lên men trong 24 đến 48 giờ. Sau đó đun lữa nhỏ trong 15 phút trong 3 phần nước sôi.
Thêm nước ép chanh hoặc sữa chua lait aigre ( người ta có thực hiện bằng cách đổ nước ép của một trái chanh ), mật ong miel, sirop d’érable, những trái sấy khô, hoặc làm phong phú thêm bởi bơ đậu phọng beurre d’arachide, mè sésame hay hạt hạnh nhân amande.
Người ta có thể thay thế một phần bột Kê bởi bột bắp maïs.
Giàu vi khuẩn lactiques, cháo đặc này có thể thật sự gọi là sản phẩm vi sinh vật sống ( nấm men …) probiotique.
▪ Và nhiều công thức nấu ăn như :
- Rossi, chapada ( pain plat ),
- Millet pilaf,
- Ragoût…….


Nguyễn thanh Vân

jeudi 11 septembre 2014

Rễ Rắn - Ba gạc - Snake root

Serpentine root - Snake Root
Ba gạc - Rễ rắn
Rauwolfia serpentina (L.) Benth. ex Kurz
Apocynaceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học đồng nghĩa, và tên đầu tiên basionyme  :
Ophioxylon serpentinum L. (basionyme)
Rauvolfia serpentina là một bụi nhỏ thuộc họ của nhóm cây Trúc Đào, Sứ cùi .... Apocynaceae,
Tên thông thường được gọi là Serpentine root, căn cứ vào tên loài serpentina, snake root căn cứ vào sự sử dụng của rễ, Việt Nam tên gọi theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là cây Ba Gạc hay cây Rễ Rắn.
Có nguồn gốc ở những vùng nhiệt đới như Inde, Pakistan, bán đảo Malaise và Nam Dương.
Trong Ấn Độ, rễ cây được xem như là một phương thuốc chống lại những vết rắn cắn morsures de serpent, những bệnh tâm thần maladies mentales và bệnh sốt fièvre.
Những nhà y học ayurvédique hiện đại sử dụng dưới tên sarpagandhaa
● Sinh thái écologie :
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina, tự phát ở Ấn Độ, Pakistan, Myanmar, Thaïlande, Malaisie và Java.
Cây mọc trong những rừng, nơi mà đã bị khai thác quá mức, những vùng lá rụng ẫm ướt, độ cao khoảng 1200 m so với mực nước biển.
Ở Việt Nam, được tìm thấy ở Komtum ( theo GS Phạm Hoàng Hộ )..
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina cũng được tìm thấy trên những ngọn đồi thấp của vùng đồng bằng sông Hằng ( Gange ), Ghats, Andamans phía đông và phía tây.
Trong Ấn Độ, cây có truyền thống trồng trong những khu vườn gắn liền với bệnh viện và nhà thuốc của hệ thống y học truyền thống ayurvédiques.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ cao 40-60 cm, bụi thẳng, không đều, thường xanh, ít nhánh, rễ cái to, màu nâu nhạt, mủ trắng.
, lớn, chụm 3 theo vòng xoắn, màu xanh lá cây đậm ở mặt trên, xanh nhạt ở mặt dưới, phiến hình bầu dục thon, không lông, láng, đầu nhọn, gân phụ 8-9 cặp, cuống lá dài..
Phát hoa, chùm tụ tán, không đều với cọng đỏ, dài.
Hoa, trắng, nhỏ, ngoài hường,
- đài 5 tai, trơn mịn, cao 2 mm, màu đỏ tươi, hình mũi mác.
- vành dài hơn đài, hình ống, phù to ở 1/3 phía trên, nơi gắn tiểu nhụy, 3 thùy, hình ellip thuôn dài, có đĩa mật dạng cắt ngang,
- noãn sào không lông
Quả nhân cứng, nhỏ, đen, to vào khoảng 5-7 mm, nhân dẹp, nạt biến thành màu tím đen khi chín.
Bộ phận sử dụng :
Rễ và vỏ rễ.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Thành phần hóa học :
Những nghiên cứu đầu tiên cho thấy sự hiện diện trong Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina tất cả những alcaloïde, được tạm thời đặc tên là :
- Psendobrucine.
▪ Từ năm 1931, cấu trúc hay thành phần hóa học của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina đã là đối tượng của những cuộc điều tra bởi nhiều quan sát viên.
▪ Năm 1891, Dymock, lần đầu tiên, đã phát hiện sự hiện diện của một alcaloïde và một résine màu vàng ở rễ của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina.
▪ Năm 1931, Sen và Bosell tìm thấy hai (2) alcaloïdes trong rễ Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina ( tổng số hàm lượng bởi chất alcaloïdes vào khoảng 1 % của rễ sấy khô ), thấy rằng ngoài số lượng hợp lý của résine và của tinh bột amidon. Siddiqui và Siddiqui " (1931) đã tìm thấy, bên cạnh :
- phytostérols,
- acide oléique,
- và alcools không bảo hòa,
Năm (5) alcaloïdes với đặc tính vật lý khác nhau và những công thức phân tử, phân loại thành 2 nhóm, được biết là :
• Nhóm 1 :
Nhóm ajmalinie, tinh thể màu trắng, những độ kiềm ( bases ) yếu.
- Ajmaline (C26H2602N2),
- Ajmalinine (C20H2304N),
- và ajmalicinie.
• Nhóm 2 :
Nhóm của những serpentines của 2 tinh thể màu vàng, những độ kiềm ( bases ) mạnh nhất.
- Serpentin (C21H2304N),
- và serpentinine (C20H20033N2).
▪ Năm 1932, Hai nhà hóa học Hòa Lan, Van Italie và Stenhauerl, đã phân lập 3 alcaloïdes giống như những công thức hay cấu trúc của :
- ajmalinie,
- ajmalininie,
- và serpentinine của Siddiqui và Siddiquil.
Được đặt tên alcaloïde đầu tiên là :
- Rauwolfin (C21H2602N).
▪ Năm 1939, Siddiqui  đã chỉ ra rằng chỉ hai (2) alcaloïdes thu được ở Dehra Dun những loại variété của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina khác với những variété thu được ở Bihar ở điểm cấu trúc hớa học và độ nóng chảy và được đặt tên là :
- Isoajmalinie,
- hay nieoajmalinie.
▪ Năm 1941, Mookheiji phân lập tất cả những alcaloïdes của Rauwolfia canescens, và đặt tên là :
- Rauwolseine (C21H2603N2).
▪ Muller, Schlittler và Bein, năm 1952, phân lập được một alcaloïde mới :
- réserpine,
của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina, với một công thức thực nghiệm C33H4009N2.
▪ Năm 1952, nhà hóa học Nga Muller phân lập được Réserpine đặc biệt dưới tên " Serpasil ".
Phần lớn những alcaloïdes được thiết lập dựa trên quang phổ của réserpine : Nhóm Harmanique gắn liền với một nhóm thứ hai isoquinoléïque.
▪ Năm 1953, Chowdhury và Ghosh còn phân lập một alcaloïde khác :
- Hypotensin, từ rễ của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina.
▪ alcaloïdes khác của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina được phân lập gần đây hơn được mô tả như sau :
- Sarpagine (C19H2202N2), phân lập và mô tả bởi Stoll và Hofmann (1953),
- Raupine (C20H26O) :, N2), bởi Bodendorf và Eder (1953),
- Rauhimbine (C21H1260:, N2),
- và iso-rauhimbine (C21H260: 1N2) bởi Hofmann (1954),
- Substance I (C22H2604N2),
- và substance II (C21H2503N2) bởi Popelak và associates (1953)
- và reserpinine (C22H26-04N2) bởi Schlittler và người cộng sự (1954).
réserpine là alcaloïde quan trọng nhất hiện diện trong rễ, thân, lá của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina. Nó thay đổ từ 1,7 đến 3,0 %.
Những vỏ rễ cô động hơn 90% trên tổng số của những alcaloïdes trong những rễ.
● Trong số những alcaloïdes hiện diện, ba ( 3) nhóm lớn được phân biệt :
▪ những dẫn xuất của loại yohimbane :
-  réserpine,
- rescinnamine,
- yohimbine
▪ Những dẫn xuất của loại hétéroyohimbane :
- ajmalicine,
- serpentine,
- alstonine
▪ Những dẫn xuất của dihydroindoliques :
- ajmaline.
● Những alcaloïdes nhỏ đã được xác định từ những mẫu thu hoạch ở Ấn Độ :
- Ajmalicine,
- ajmaline,
- isoajmaline,
- ajmalinine,
- chandrine,
- rauwolfinine,
- renoxidine,
- rescin-namine,
- reserpiline,
- réserpine,
- reserpinine,
- sarpagine,
- serpentine,
- serpentinine,
- tetraphyllicine,
- la yohimbine,
- 3-épi-a-yohimbine
▪ Thuốc rất xưa của y học truyền thống Hindoue, những rễ vả những căn hành có chứa những alcaloïdes, cho :
- hạ huyết áp hypotenseurs,
- và trầm cảm thần kinh neurodépresseurs.
● Phần trăm % của alcaloïde tùy thuộc môi trường địa lý nơi mà cây được thu hoạch và cũng tùy thuộc vào mùa thu thập.
Thông thường mẫu thu hoạch từ Assam có một phần trăm % alcaloïde cao hơn (2,57%) những nơi khác ở Ấn Độ và tháng 12 Décembre là tốt nhất để thu hoạch và để thu được phấn trăm % alcaloïdes cao hơn.
Nhưng tuổi của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina không có hiệu quả trên phần trăm % hàm lượng chất alcaloïdes (đến 4 năm tuổi ) :
Đặc tính trị liệu :
► Chữa trị y học :
▪ Rễ của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina hiện nay được sử dụng trong y học truyền thống Châu Á. Được quy định chống lại :
- huyết áp cao hypertension,
- mất ngủ insomnie,
- bệnh động kinh épilepsie,
- và bệnh suyễn asthme.
▪ Mặc dù Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina được nổi tiếng ở Ấn Độ, Cây Rễ Rắn này được sử dụng trong y học cho cả hai hệ thống y học hiện đại phương Tây và cũng như trong hệ thống y học truyền thống Ayurveda, unani và y học dân gian.
Những người phương Tây không quan tâm đến, cho đến khi một nhà y học Ấn Độ đã viết một bài biên khảo về cây Rauvolfia vào năm 1943
Do đó, được lưu ý đến những hiệu quả an thần của thuốc, cây này đã chữa trị hơn triệu người dân Ấn Độ trong những năm 1940 cho bệnh :
- cao huyết áp haute pression sanguine.
Sau đó một y sỉ người Mỹ tên Wilkins đã chứng minh hiệu quả tích cực của chất réserpine (1952), Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina đã là một trong những tin mới.
Thuốc này nhanh chóng thay thế :
- sốc điện choc électrique,
- và phẫu thuật não lobotomie,
như thuốc chữa trị một số nhất định của loại:
- bệnh tâm thần maladie mentale.
▪ Hơn nữa, kiến thức hóa học của dược thảo thiên nhiên này đã kich thích sự tổng hợp những alcaloïdes tương tợ khác mà ngày nay sử dụng như :
- thuốc an thần chủ yếu tranquillisants majeurs.
- gây ức chế hoạt động của hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central,
- và hành động như làm mê hypnotique.
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina tinh luyện đã được dùng rộng rãi trong những năm gần đây để chữa trị :
- huyết áp cao hypertension.
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina làm cạn kiệt épuise :
- catécholamines,
( Catécholamine là một phân tử tạo ra bởi một acide aminé, tyrosine, hành động như một kích thích tố hormone hay một chất dẫn truyền thần kinh neurotransmetteur.
Được tiết ra bởi tuyến tủy thượng thận médullosurrénale. Từ những catécholamines, người ta tìm thấy adrénaline và dopamine.
Catécholamine tạo ra trong trường hợp bị căng thẳng lớn hoặc trong quá trình của một hoạt động thể lực activité physique.
Nó gây ra một sự gia tăng :
- nhịp đập tim rythme cardiaque,
- một huyết áp động mạch pression artérielle,
- và đường glucose hiện diện trong máu sang.
Catécholamine được thải ra ngoài cơ thể qua nước tiểu urines.).
-sérotonine
( Sérotonine còn có tên là 5 hydroxytryptamine (5-HT), là chất dẫn truyền luồn thần kinh neurotransmetteur, một chất giúp truyền xung thần kinh giữa các tế bào thần kinh neurones.
Sérotonine là dẫn xuất của một acide amine gọi là tryptophane, một yếu tố thiết yếu cho cơ thể để hình thành của những chất đạm protéines. Cũng đóng một vai trò gần như kích thích tố và gây ra những hành động khác nhau, đặc biệt trong sự điều hòa một số hành vi nhất định.
Một số thuốc có hành động trên số lượng của sérotonine có hiệu quả lợi ích trên bệnh trầm cảm dépression. )
của dây thấn kinh trong hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central.
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina sử dụng như một thuốc giải độc antidote cho những vết cắn của :
- những vết chích của côn trùng piqûres d'insectes,
- và những vết cắn của những loài bò sát độc reptiles venimeux như những rắn độc serpents..
▪ Nó cũng được sử dụng để chữa trị :
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- và những bệnh đau nhức khác của đường ruột canal intestinal.
Một thành phần hợp chất chứa trong cây gọi là réserpine, đã được sử dụng trong một cố gắng để chữa trị :
- cao huyết áp haute pression sanguine,
- và rối loạn tâm thần troubles mentaux,
Bao gồm bệnh :
- tâm thần phân liệt schizophrénie,
và đã có một thời gian ngắn được phổ biến mục đích này vào trong phương Tây từ năm 1954 đến 1957.
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina là 1 trong 50 cây dược thảo cơ bản sử dụng để chữa trị trong y học truyền thống Tàu, nơi mà nó có tên shégēn (chinois: ) hay Shemou YINDU (chinois: 印度 ).
► Cơ chế hiệu quả hóa học của cây rễ rắn :
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina, một dược thảo Trung Phi Afrique centrale, có được trích xuất chất :
- yohimbine,
- chất alcaloïde,
là một loại thuốc có những khả năng :
- làm giản mạch máu dilater les vaisseaux,
và là thành viên trong gia đình của những “ dung giao cảm sympatholytiques (alpha bloquant), nghĩa là những chất ức chế hành động của :
- hệ thần kinh giao cảm système nerveux sympathique.
Những dung giao cảm sympatholytiques ức chế chức năng của :
- hệ thống thần kinh tự trị gọi là thần kinh thực vật système nerveux végétatif ( từ trung tâm của hệ thần kinh chuyển sang ngoại vi trong phần của thần kinh giao cảm của nó sympathique).
▪ Những chức năng tự động của cơ thể người ta được điều hành bởi 2 hệ thống :
- hệ thống giao cảm sympathique,
- và đối giao cảm parasympathique.
▪ Chất adrénaline là một kích thích tố được sản xuất bởi tuyến thượng thận surrénales nằm bên trên của mỗi quả thận rein. Đóng một vai trò hàng đầu, liên quan đến những chức năng của hệ thống thần kinh gọi :
- giao cảm sympathique, có hành động chủ yếu kích thích excitatrice.
▪ Chất yohimbine hành động gắn liền trên :
- những thụ thể “ kích trương giao cảm thần kinh” récepteurs adrénergiques ( cụ thể hơn alpha adrénergique) của những tế bào của cơ thể cellules de l’organisme,
- cũng ngăn ngừa sự phóng thích chất adrénaline.
Những hiệu quả giản mạch được diển tả chủ yếu của lưu lượng máu trong động mạch ngoại vi tại :
- những động mạch của da artères de la peau,
- của ruột intestins,
- của những hệ thống tiết niệu urinaire và sinh dục génital,
đặc biệt tại những thể hang của dương vật corps caverneux du pénis : đây là lý do là tại sao cây được đề xuất như là :
- kích thích tình dục aphrodisiaque.
Chất yohimbine có một hành động ở những thể hang corps caverneux, có chứa nhiều mạch máu vaisseaux sanguins trương đầy máu trong quá trình cương cứng của dương vật érection.
Cũng như, chất yohimbine được chỉ định trong chữa trị bệnh :
- liệt dương bất lực của nam giới impuissance masculine
bởi vì nó cho phép mở rộng của những mạch máu vaisseaux và cải thiện của sự trương đầy máu trong những bộ phận của dương vật pénis, và do đó sự cương cứng dương vật tốt hơn meilleure érection.
Nó cũng được sử dụng trong :
- hội chứng hạ thấp huyết áp lúc đứng ( chỉnh vị ) hypotension orthostatique,
được diển dịch bởi sự tụt giảm thình lình huyết áp động mạch, khi một người chuyển đột ngột ở tư thế nằm sang tư thế đứng.
Đặc tính trị liệu của cây là nhiều, nhưng chủ yếu là cho hành động của nó :
- chống huyết áp cao hypertension,
như là một thuốc an thần tranquillisant trong chữa trị :
- rối loạn tâm thần désordres mentaux,
và trong chữa trị :
- vấn đề của tim cardiaques.
► Chữa trị Tâm thần :
Kể từ những năm 30, những nhà y học Ấn Độ đã tiến hành những nghiên cứu cho sự sử dụng Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina trong :
- thần kinh-Tâm thần neuro-psychiâtrie.
▪ Chất réserpine, một alcaloïde chánh của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina, được đưa vào năm 1954 trong dược điển pharmacopée, có lẽ là thuốc an thần kinh hay thuốc chống loạn thần kinh đầu tiên neuroleptique tạo ra những hành động trấn áp sự ức chế désinhibitrices trong :
- những rối loạn tâm thần phân liệt psychoses schizophréniques.
( Bệnh tâm thần phân liệt schizophrénie là một rối loạn tâm lý, thông thường phát triển ở người mới bắt đầu trưởng thành. Đặc trưng bởi của những khó khăn chia sẻ, thuyết minh hiện thực với cá nhân khác, dẫn đến những hành vi và lời nói lạ kỳ, đôi khi mê sảng.
Những yếu tố được biết đến có liên quan đến sự phát triển bệnh tâm thần phân liệt là nhiều như :
- Trật tự sinh học ordre biologiques ( di truyền génétique, thần kinh sinh học neurobiologique, rối loạn kích thích tố nội tiết hormone, dùng chất độc hại toxiques như cần sa cannabis và bệnh truyền nhiễm infectieux ), tâm lý psychologique ( căn thẳng stress) và bối cảnh xã hội social ( môi trường environnemental, cách ly isolement ).
▪ Đầu thế kỷ XXIe, bệnh tâm thần phân liệt schizophrénie, trong thời gian này không được hiểu biết rộng rãi. Những thuốc chữa trị hoàn toàn không biết rỏ.
Bệnh thường biểu hiện lúc ban đầu bởi một cảm giác lạ étrangeté, một kỳ quặc bizarrerie, những sở thích lạ lùng intérêts étranges, huyền bí ésotériques, những mâu thuẩn trong lời nói, thiếu năng động manque de motivation, những rối loạn của sự tập trung troubles de concentration, đôi khi một cảm giác khủng bố sentiment de persécution.
Điều này có thể dẫn đến với sự phát triển của một ảo giác hoang tưởng délire paranoïde.
Người ta tìm thấy một sự vô tổ chức của sự suy nghĩ và lời nói.
▪ Trong 20 đến 30 % của những trường hợp, người bệnh có thể có những ảo giác hallucinations, đặc biệt là thính giác auditives có nghĩa là thường như nghe những lời nói sai khiến làm một chuyện gì đó.
Những tiếng nói tưởng tượng này ( thường giống nhau ), nói với bệnh nhân để bình luận về hành động và sự lựa chọn của mình.
Bệnh tâm thần phân liệt schizophrénie gây ra sự rối loạn chức năng mà sự tiến triển với những giai đoạn cấp tính phases aiguës và những giai đoạn hầu như không có triệu chứng asymptomatiques.
Chích sự không hiểu rỏ căn nguyên của bệnh này, những người chữa trị chỉ điều trị căn cứ vào những biểu hiện xảy ra nên đôi khi gây bất lợi cho bệnh nhân kéo dài một tình trạng bệnh vô bổ ).
▪ Những đặc tính của nó, được so với chlorpromazine, đã thiết lập những tính chất đặc biệt cho thuốc an thần neuroleptiques.
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina cũng đã sử dụng trong những bệnh sốt fièvres với :
- đổ mồ hôi sueurs,
- chống mặt vertige,
- không ổn định, bồn chồn instabilité,
- kích thích, kích động excitation,
- và trạng thái trầm cảm état dépressif.
● Dược lý học Pharmacology :
Réserpine, có một mô hình rất phức tạp của hoạt động. Bên cạnh đó, nồng độ amine trong não, cũng chỉ ra là ảnh hưởng đến nồng độ của :
- glycogène,
- acétylcholine,
- acide butyrique,
- g-amino,
- những acides nucléiques,
- và kích thích tố chống lợi tiểu anti-diurétique.
Những hiệu quả của reserpine bao gồm :
- sự ức chế đường hô hấp,
- sự kích thích nhu động ruột péristaltisme,
- đồng tử khép nhỏ myosis,
- sự thư giản của màng nictitante
( một mí mắt thứ 3 trong suốt hay mờ ở một động vật hửu nhủ có chức năng bảo vệ và độ ẫm để cho phép khả năng một số hiển thị nhất định ),
- và một ảnh hưởng trên trung tâm điều hành nhiệt độ régulation de la température.
Nó gia tăng dung lượng và độ acide phóng thích của sự bài tiết dạ dày. Réserpine giảm lượng đường máu glycémie trong một số trường hợp nhất định, nhưng hiệu quả ngắn hạn.
Ở một số bệnh nhân, có một hiệu quả kích thích trên hoạt động của prothrombine một protéine còn gọi là yếu tố tiền đông máu. Réserpine cũng thúc đẩy sự thấm nhập máu trong những vùng đã làm thiếu máu cục bộ rendues ischémique bởi bị phỏng brûlures.
Nó tạo ra :
- một sự an thần sédation,
- và một sự giảm huyết áp pression sanguine.
Nếu được dùng qua đường uống cho :
-  huyết áp cao hypertension,
những hiệu quả của réserpine xảy ra chậm, hiếm khi xuất hiện trước 3-6 ngày được dùng uống và tiếp tục trong một thời gian sau khi ngưng thuốc và có một hiệu quả tích lũy.
Quan trọng nhất ở những bệnh nhân trẻ mắc phải bệnh :
- huyết áp cao không ổn định nhẹ hypertension labile légère kết hợp với một nhịp tim đập nhanh tachycardie.
Trong bệnh huyết áp cao lâu đời, tốt nhất là sử dụng kết hợp với những loại thuốc chống huyết áp cao antihypertenseurs mạnh nhất, như là :
- héxaméthonium ,
- hoặc hydralazine.
Trong kết hợp với polythiazide, nó có lợi ích trong :
- hạ huyết áp nhẹ đến trung bình của loại thiazide.
Phản ứng với chất réserpine ở những bệnh nhân khác nhau và liều dùng phải thích ứng với nhu cầu từng cá nhân.
Trong huyết áp cao nghiêm trọng, nó có thể được dùng bằng phương cách tiêm chích vào tĩnh mạch intraveineuse hoặc tiêm cơ bắp intramusculaire, hiệu quả bắt đầu có hiệu lực trong vài giờ.
Chữa trị bằng phương vách tiêm chất réserpine đã được chỉ định trong chữa trị huyết áp cao duy nhất khi mà chữa trị bằng đường uống là không thể thực hiện được.
Déserpidine cũng hoạt động giống như là réserpine trong hoạt động :
- hạ huyết áp hypotensive,
- và an thần sédative.
Làm giảm huyết áp hypotension và ức chế những chuyển động ruột mouvements intestinaux. Với một số lượng tương đương, được đưa ra, của réserpine, nó có tác dụng hạ huyết áp nhiều hơn so với những thứ thuốc khác với một liều dùng như nhau.
▪ Nó có một hoạt động :
- chống sợi huyết anti-fibrillaire.
Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina gây ra một sự ức chế rõ rệt của một :
- cộng phân hóa tố succinate déshydrogénase trong những mô não cerveau và gan foie.
Nó tạo ra có hệ thống và hạ huyết áp động mạch phổi do :
- một sự giảm cung lượng tim débit cardiaque,
nó không thay đổi trong cung lượng động mạch vành débit coronaire, nhưng sức đề kháng của mạch vành vasculaire coronaire được giảm và sự tiêu dùng dưởng khí oxygène của cơ tim myocarde không bị ảnh hưởng.
Ajmaline đã được báo cáo để kích thích :
- sự hô hấp respirartion,
- và những nhu động ruột mouvements intestinaux.
Hành động của ajmaline trên hệ thống và áp suất động mạch phổi tương tự với chất serpentin Rauwolfinine có những đặc tính tăng huyết áp trên sự tự hủy diệt tế bào của não autolyse de cerveau chuột và những mô tế bào gan foie, nhưng trong một mức độ thấp hơn chất réserpine.
Chủ trị : indications
▪ Đặc tính sử dụng bên trong cơ thể :
- Chống huyết áp cao antihypertenseur,
- thuốc an thần kinh neuroleptique,
- hạ nhiệt fébrifuge.
▪ Chỉ định sử dụng bên trong cơ thể :
- huyết áp động mạch cao hypertension artérielle,
- ù tai bourdonnement d'oreilles,
- trạng thái trầm cảm état dépressif,
- nhức đầu céphalées,
- sốt fièvres,
- lo lắng anxiété.
▪ Phương cách sử dụng bên trong :
- Ngâm trong nước đun sôi infusions,,
- viên nang của bột rễ hoặc vỏ.
Nghiên cứu :
● Những nghiên cứu hiệu quả dược lý :
Những hành động dược lý của rễ Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina và những alcaloïdes của nó đã được nghiên cứu theo thời gian :
▪ Siddiqui và Siddiqui (1931) đã cho thấy rằng :
mặc dù nhóm của ajmalinie hành động như một trầm cảm dépression nói chung cho :
- tim cœur,
- hệ hô hấp respiration,
- và hệ thần kinh trung ương système nerveux central,
Nhóm serpentine gây ra :                                                                   
- tê liệt cho sự hô hấp paralysie de la respiration,
- suy nhược dây thần kinh dépression des nerfs,
- và kích thích trái tim stimulation du cœur.
▪ Sen và Bose (1931) ghi nhận một sự giảm nhẹ :
- huyết áp động mạch pression artérielle,
- một sự suy thoái của cơ tim dépression du muscle cardiaque,
- kích thích stimulation,
- và thư giản những cơ trơn đường hô hấp muscles lisses des voies respiratoires, của những con mèo và những động vật sau khi cho uống chất alcaloïdes của cây Rễ Rắn
▪ Roy (1931) mô tả :
- sự u mê của cảm giác dulling of sensations,
- phản xạ chậm réflexes lents,
- và giấc ngủ sau khi dùng liều lượng lớn,
- và tử vong bởi hô hấp không đủ insuffisance respiratoire sau khi dùng một liều chết người.
▪ Năm 1933, Chopra và associés, làm việc với tổng số những alcaloïdes của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina mô tả :
- có giá trị an thần sédatif précieux,
- làm mê hypnotique,
- và hạ huyết áp hypotenseur.
▪ Năm 1940, Haniet quan sát, cho lần đầu tiên, hoạt động liệt giao cảm sympathicolytique của alcaloïdes, đặc biệt, ajmalinerauwsolfine, phân lập từ Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina (Benth), và ghi nhận trên :
- hành động hạ huyết áp của một số chất alcaloïdes của cây.
▪ Muller và cộng sự (1952) và Bein (1953), trên cơ sở thí nghiên ở động vật, đã tìm thấy một alcaloïde réserpine mới alcaloïde, có hiệu quả :
- hạ huyết áp lâu dài durable hypotenseur,
- giản mạch vasodilatateur,
- và đặc tính an thần sédatives,
- và làm mê hypnotiques.
▪ Năm 1953, Dasgupta và cộng sự mô tả những hoạt động và hoạt động “kích trương giao cảm” thần kinh adrénergiques ngăn chận hoạt động liệt giao cảm sympathicolytique của tổng số alcaloïdes tinh khiết và phần đoạn nhựa dầu oléorésineux của Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina.
Theo tác giả, hành động hạ huyết áp của rễ  chỉ là :
- một phần do hiệu quả của liệt giao cảm sympathicolytique,
- yếu tố khác như yếu tố giản mạch ngoại vi vasodilatation périphérique cũng có liên quan.
● Hoạt động dược lý Activités pharmacologiques :
Nghiên cứu trên rễ Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina, cho thấy :
▪ hành động trên trung tâm vận mạch centre vaso-moteur, với :
- một sự giãn mạch vasodilatation tổng quát hóa,
- và giảm huyết áp động mạch pression artérielle.
▪ hành động trầm cảm dépressive trên hệ thống thần kinh système nerveux
▪ hành động an thần sédative trên niêm mạc dạ dày muqueuse gastrique
▪ sự kích thích của những hệ cơ phế quản musculature bronchique.
● Hạ huyết áp hypotensive :
Nghiên cứu đã cho thấy Cây Rễ Rắn Rauwolfia serpentina được chứng minh có khả năng giảm hạ :
- huyết áp động mạch kỳ thu tâm systolique,
- và huyết áp động mạch kỳ trương tâm diastolique .
● Cơ chế của  hành động hạ huyết áp hypotensive action của chất réserpine :
Nghiên cứu trên những báo cáo chất alcaloïdes :
▪ Hiệu quả chất hạ huyết áp hypotenseur đánh dấu một phần là do trầm cảm của những cơ chế của hệ thống trung tâm thần kinh système nerveux central.
Ít được ghi nhân đánh dấu ở những động vật được loại bỏ chức năng não bằng cách loại bỏ não hay cắt ngang thân não.
▪ Hiệu quả, một phần, tiếp theo sau một hiệu quả ức chế trực tiếp trên cơ bắp của những mạch máu vaisseaux sanguins.
▪ Có một giảm đột ngột cung lượng máu cho tim débit cardiaque của trái tim bị cô lập.
▪ Những nghiên cứu về sau cho thấy hiệu quả trung gian duy nhất bởi cơ chế thần kinh trung ương nerveux central.
● Tác dụng phụ effets secondaires / Trầm cảm dépression :
Dẫn xuất thô và tinh khiết được xem như phóng thích của phản ứng độc hại nghiêm trọng. Những tác dụng phụ nhẹ thường xuyên, bao gồm :
- nghẹt mũi congestion nasale,
- mệt mõi fatigue,
- tăng cân gain de poids,
- giảm năng động diminution de l'initiative,
- buồn ngủ somnolence,
- những ác mộng cauchemars,
- và tiêu chảy diarrhée.
Những triệu chứng có thể được thuyên giảm bằng cách giảm liều lượng mà không bị mất đi hiệu quả chất hạ huyết áp hypotenseur của nó.
Với liều cao, một sự trầm cảm xảy ra với một tần số đáng kể .
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ American Cancer Society :  với những bằng chứng sẳn có, không hỗ trợ cho những tuyên bố rằng cây Rễ rắn Ấn Độ hiệu quả trong chữa trị :
- bệnh ung thư cancer,
- đau gan maladie du foie,
- hoặc bệnh tâm thần maladie mentale.
Nó cũng có những phản ứng phụ nguy hiểm và có thể làm tăng nguy cơ cho bệnh ung thư risque de cancer.
▪ Những chống chỉ định của chất yohimbine chủ yếu :
- suy thận nghiêm trọng insuffisance rénale sévère,
- và suy gan insuffisance hépatique.
▪ Toàn bộ thuốc thô được ghi nhận là có chứa một số nguyên tắc dẫn đến những tác dụng phụ như là :
-  sự tẫy xổ purgation,
- và suy nhược tình dục faiblesse sexuelle.
▪ Những phản ứng phụ xuất hiện khi liều dùng quá cao, như :
- mất ngủ insomnie
- chóng mặt vertiges
- đau nửa đầu migraine
- một số căn thẳng nhất định nervosité
▪ buồn nôn nausées
▪ ói mữa vomissements
▪ tiêu chảy diarrhées
▪ run rẩy tremblements


Nguyễn thanh Vân