Tâm sự

Tâm sự

dimanche 11 novembre 2018

Kinh giới Mễ - Mexican Tea

Mexican Tea
Trà Mễ - Kinh giới Mễ
Chenopodium ambrosioides - L.
Chenopodiaceae
Đại cương :
▪ Danh pháp  Khoa học đồng nghĩa :
- Dysphania ambrosioides
▪ Danh pháp thông thường :
- Épazote,
- Indian goosefoot;
- Jerusalem-tea;
- Spanish-tea;
- ambroisie du Mexique;
- chenopode ambroisine;
- feuilles à vers ;
- herbe à puces;
- herbe à vers;
- thé du Mexique, ……
▪ Tên Việt Nam :
- Trà Mễ, Kinh giới Mễ, Dầu giun, Rau muối dại, Kinh giới đất.
Lịch sử và nguồn gốc :
▪ Cây có nguồn gốc ở Trung MAmérique centrale và Nam Mexique, Cây Kinh giới Mễ épazote đã được sử dụng từ lâu trong những khu vực này.
Yucatan như trong Amazone ( bởi những thổ dân Tikuna), hoặc trong Nam Mỹ Amérique du sud (Siona-Secoya, Kofan) nó được biết đến như những hiệu năng y học của nó.
Thảo dược này được phát tán trong tất cả những bộ phận ấm áp trên quả địa cầu, đặc biệt như một thuốc diệt trừ giun sán vermifuge : từ Châu Phi đen Afrique noire đến Tàu.
Những sự sử dụng trong nấu ăn vẫn còn hiếm hơn.
Vào đầu thế kỷ 20 ème, đây là một trong những thuốc diệt trừ giun sán vermifuges chánh được sử dụng cho người cũng như cho những động vật ( loại variété anthelminticum).
Cây được trồng từ thời tiền sử trong những vùng xuất xứ của nó ( Trung và Nam Mỹ Amérique centraleSud), và gần đây trong những vùng ôn đới nóng đến cận nhiệt đới của Châu Âu Europe và của Hoa KÉtats-Unis (Missouri, Nouvelle-Angleterre,), đôi khi trở thành loài thực vật xăm lấn của cỏ dại.
Nó thể hiện hành vi xăm lấn với những tác động kinh tế và môi trường trong nhiều nơi trên thế giới (Cambodge, Hong-Kong, République de Corée, Philippines, Taïwan, Vietnam, île Maurice, Namibie, Afrique du Sud, Hawaï, Chili, Galapagos, Croatie, Grèce, Sardaigne, Espagne, Australie, Fidji, Polynésie française, Nouvelle Calédonie, île Norfolk, Papouasie Nouvelle Guinée).
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây bụi hằng niên từ 40 đến 80cm cao, hình trụ có góc cạnh, xốp, có một mùi hăng, gần như không có lông với những sợi lông trắng rải rác.
Cây thích mọc trong những đống chất thải. Thân thẳng đứng và chia nhánh từ gốc nhất là khi cây được cô lập, thường có những sọc đỏ, có lông với một màu đỏ nhạt. Cây được bao phủ bởi những tuyến không cuống làm cho nó nhớt và có một hương thơm mạnh.
Những nhánh mọc đều và giảm kích thước về phía ngọn cây, điều này làm cho Cây có dạng kim tự tháp.
, nguyên, đơn, hình mũi dáo thuôn dài, nhọn ở đỉnh, giảm ở đáy lá, có răng gần như toàn bộ không đều nhau, dài từ 2,5 đến 14 cm và rộng từ 1,5 đến 3,5 cm, mặt trên màu xám, láng màu xanh lá cây bóng, mặt dưới nhẹ hơn rải rác những tuyến nhỏ màu vàng trong suốt chứa đầy những chất lỏng có mùi hôi khó chịu, với một cuống nhỏ, gân lá nổi bật ở mặt dưới.
Phát hoa, rất phân nhánh, bao gồm những hoa dạng tiểu cầu nhỏ màu xanh lá cây có đường kính khoảng từ 0,5 đến 1,5 mm, tập hợp thành nhóm 4 đến 5 không cuống. Những tập hợp này thành những gié dài ở ngọn. Mỗi gié nhỏ được bao bọc bởi những lá hoa nhỏ hình mũi dáo.
Hoa, kín đáo, màu vàng nhạt hợp lại thành gié, thường màu đỏ nhạt, hình cầu không cuống, được chèn vào trong những nhánh cuối cùng tỏa rộng.
 - bao phần, màu vàng, nhô ra.
◦ Những hoa cái, hiện diện từ 3 đến 5 tépale (đài hoa và cánh hoa giống nhau ), trong khi những hoa lưỡng phái có từ 4 đến 5.
- Những đài hoa có thể nhiều hay ít hàn dính với nhau.
- Những tiểu nhụy 4 hoặc 5 nhưng bị hủy có thể giảm số này.
- Bầu noãn hình cầu.
Trái, nhỏ, dạng thấu kính, ban đầu màu xanh lá cây sau đó màu đen, ngoại quả bì láng, bao bọc bởi những tépales. Bên trong chỉ có 1 hạt.
Nó dường như rằng trên thực tế là một tập hợp của “ vi sinh vật micro espèces ”.
Hạt, rất nhỏ, từ 0,5 đến 1,5 mm đường kính, hình thấu kính bóng láng màu nâu đến đen nhạt.
Bộ phận sử dụng :
Toàn Cây, lá, hạt, dầu hạt.
Thành phần hóa học và dược chất :
Một số hợp chất hóa học của Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides cho thấy những hoạt động chống lại một số dòng tế bào ung thư cellules cancéreuses trong phòng thí nghiệm in vitro, nhưng nó cũng được ghi nhận là thành phân gây ung thư cao cancérigène ở chuột.
▪ Tuy nhiên, một nhóm người Nigéria, kết luận vào năm 2007, rằng những trích xuất của Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides không :
- gây đột biến mutagène,
- cũng không gây độc tế bào cytotoxiques.
▪ Tự điển Merriam-Webster định nghĩa dầu Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides như :
- "a colorless or pale yellow toxic essential oil of unpleasant odor and taste, ... formerly used as an anthelmintic"
(một dầu thiết yếu độc hại toxique không màu incolore hoặc màu vàng nhạt jaune pâle với một mùi hôi và một hương vị khó chịu , ... trước đây được sử dụng như :
- một thuốc diệt trùng giun anthelminthique).
Dầu thiết yếu của Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides chứa đến :
- 70% ascaridole,
- limonène,
- P-Cymène,
- và với số lượng nhỏ hơn của nhiều loại monoterpènes khác.
và dẫn xuất của monoterpèniques như là :
- (α-pinène, myrcène, terpinène, thymol, camphre, trans-isocarveol).
▪ Ascaridole (1,4-peroxido-p-menth-2-ène)
là một hợp chất khá hiếm từ những gia vị, một cây khác có những tương đồng bởi thành phần của nó trong peroxydes monoterpèniques là Cây boldo tên khoa học Peumus boldus.
▪ Ascaridole
là độc hại toxique, thể hiện một hương vị hăng cay không dễ chịu và là một chất nổ nhạy cảm với những va chạm ở trạng thái nguyên chất đậm đặc.
Đặc biệt là nguyên chất trục xuất những loài ký sinh của Cây.
▪ Nồng độ ascaridole sẽ thấp trong những Cây Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides ở Mexique hơn trong nhửng Cây được trồng trong Châu Âu Europe hoặc trong Châu Á Asie.
▪ Những loại được trồng cho nấu ăn có một nồng độ thấp hơn của những thành phần :
- limonene,
- p-cymene Pinocarvone
- vết của a-pinene,
- myrcene,
- p-cymene,
- terpinene,
- thymol,
- camphor,
- và trans-isocarveol
Đặc tính trị liệu :
Bên ngoài cơ thể, Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides được sử dụng để lau rửa :
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
như một thuốc dán đắp cataplasme để giải độc détoxifier :
- những vết rắn cắn morsures de serpents,
- và những chất độc khác poisons,
và có những  đặc tính :
- hóa sẹo chữa lành vết thương cicatrisantes.
▪ Cây nguyên là :
- thuốc giảm đau analgésique,
- chống suyễn antiasthmatique,
- tống hơi carminative,
- thuốc dạ dày stomacale,
- và diệt giun sán vermifuge.
Hạt hoặc dầu thiết yếu ly trích từ những hạt Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides, đã được sử dụng.
Nó rất có hiệu quả chống lại hầu hết những loài ký sinh parasites, bao gồm :
- biến hình trùng amibe trách nhiệm của bệnh kiết lỵ dysenterie,
nhưng ít có hiệu quả chống lại loài sán dây ténia.
▪ Dầu được sử dụng ở bên ngoài cơ thể để chữa trị :
- chân của vận động viên pieds d'athlètes,
- và những vết chích côn trùng piqûres d'insectes.
Trong một báo cáo đây là một dầu thiết yếu được sử dụng, dầu này thu được từ những hạt hoặc những cành hoa florifères, nồng độ của nó cao nhất trong những cành hoa florifères trước khi hạt hình thành, nó chứa khoảng :
- 0,7% dầu thiết yếu huile essentielle
trong đó gần 50% là hoạt tính chất ascaridole C10H16O2 trục loài giun sán vermifuge actif.
Dầu thiết yếu Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides phẩm chất tương tự như từ những Cây trồng dưới khí hậu nóng và những nơi có khí hậu mát.
▪ Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides được biết cho những đặc tính :
- trục diệt giun sán vermifuges,
- chống co thắt antispasmodiques,
- bệnh thuộc dạ dày stomachiques,
- và thuốc tống hơi carminatives.
▪ Người ta khẳng định rằng Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides cho phép tránh :
- những đầy hơi flatulences. Mô hình : Medcn
Nó cũng được sử dụng cho những trường hợp :
- vô kinh, mất kinh aménorrhée, Mô hình : Medrs
của :
- đau bụng kinh dysménorrhée,
- bệnh sốt rét paludisme,
- chứng máy tay, múa giật chorée,
- những chẫn đoán cuồng loạn diagnostics d'hystérie ( ngày nay là mất huy tính discrédités),
- viêm nước catarrhe,
- và bệnh suyễn asthme. Mô hình : Medrs
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides là một thực vật ở Trung MAmérique centrale được sử dụng từ nhiều thế kỷ dùng để trục xuất :
- những trùng giun ký sinh vers parasites của cơ thể .
▪ Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides chủ yếu được sử dụng như thuốc trục diệt giun sán vermifuge truyền thống bởi những người dân nam Mỹ sud-américaines và ngày nay cũng sử dụng trong Châu phi Afrique và trong Tàu.
Trong những dược điển pharmacopées truyền thống ngưởi dân guyanaise,
▪ Những dân Créoles dùng Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides ngâm trong nước đun sôi infusion, để :
- diệt trừ giun sán vermifuge,
- và chống bệnh cúm antigrippale
ở những trẻ em, trong khi những người lớn trưởng thành dùng ngâm trong :
- rượu rhum.
▪ Những người Wayãpi tiêu thụ trong nước nấu sắc décoction rất nóng chống lại :
- những đau dạ dày maux d'estomac,
- và những nội xuất huyết hémorragies internes liên quan đến những rơi té đụng chạm chute.
▪ Những người Palikur bào chế một nước nấu sắc mặn décoction salée, để :
- trục diệt giun sán vermifuge,
hoặc trà tisane để :
- thanh lọc máu "purifier le sang".
▪ Ở Honduras, cũng như ở những nước khác của Châu Mỹ latine Amérique latine, người ta tiêu thụ toàn cây hoặc những nghiền nát pha trộn với nước để chữa trị :
- những bệnh nhiễm trùng infections ở người.
▪ Trong vài vùng của Châu Mỹ latine Amérique latine, Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides cũng được sử dụng để chữa trị :
- những bệnh nhiễm ký sinh trùng infections parasitaires của gia cầm bétail.
▪ Vào đầu những năm 1900, Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides đã được sử dụng như một thuốc diệt trùng giun anthelminthique để chữa trị :
- những giun đủa ascaris,
- và những sán  móc ankylostomes
ở những người, những mèo, những chó, những ngựa và những heo.
Nó thường là dưới hình thức của một dầu Trà Mễ chénopode. Người ta đôi khi gọi là "Baltimore Oil", do bởi một nhà máy lớn sản xuất ở Baltimore trong Maryland chuyên sản xuất ly trích ra dầu này.
Chénopode đã thay thế bằng thuốc trừ trùng giun anthelminthiques khác, hiệu quả hơn và ít độc hại hơn toxiques trong những năm 1940.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Độc tính Toxicité
▪ Những liều dụng vượt quá của dầu thiết yếu, gây ra những triệu chứng bao gồm :
- những viêm dạ dày - ruột gastro-entérite nghiêm trọng với đau nhức,
- những ói mữa vomissements,
- và tiêu chảy diarrhée.
Người ta đôi khi tìm thấy những tử vong ở con người ( do chất ascaridole C10H16O2).
▪ Những nguy hiểm :
Dầu thiết yếu của hạt và những cành hoa Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides là rất độc hại toxique. Vượt quá, điều này có thể gây ra :
- những chóng mặt vertiges,
- ói mữa vomissements,
- những co giật convulsions,
- và thậm chí tử vong .
▪ Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides cũng có thể là nguyên nhân :
- viêm da dermatite,
- hoặc phản ứng dị ứng allergiques khác.
▪ Những và những hạt của tất cả những thành viên của giống Cây Dysphania là nhiều hay ít ăn được.
Tuy nhiên loài của giống này chứa những thành phần chất saponines, mặc dù thường có với một số lượng rất nhỏ để gây ra những tổn thương.
Mặc dù độc hại toxiques, những thành phần chất saponines được hấp thu kém bởi cơ thể con người và hầu hết đi qua không có vấn đề.
Nó cũng được phân hủy khi trải qua quá trình nấu ăn.
◦ Những chất saponines được tìm thấy trfong nhiều loại thực phẩm, như là một số loại đậu haricots.
◦ Những chất saponines là độc hại hơn nhiều toxiques cho một số sinh vật, như là những loài cá poissons, và những bộ lạc săn bắn truyền thống đã đã bỏ vào tronng những con suối, những hồ ….v…v… một số lượng lớn để làm choáng váng hoặc giết những loài cá.
▪ Những Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides cũng chứa những acide oxalique, trong một số lượng lớn, có thể cố định giữ chặc lại một số nhất định những chất dinh dưởng chứa trong những thực phẩm.
Tuy nhiên, ngay cả khi xét lại điều này, những rau xanh này rất bổ dưởng trong một số lượng hợp lý.
Sự nấu ăn của Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides sẽ giảm hàm lượng thành phần acide oxalique.
▪ Những người có xu hướng mắc những bệnh như :
- thấp khớp rhumatismes,
- viêm khớp arthrite,
- chứng thống phong goutte,
- sạn thận calculs rénaux,
- hoặc độ acide tăng cao hyperacidité
nên đặc biệt thận trọng nếu Cây này bao gnồm trong chế độ ăn uống của họ, bởi vì nó có thể làm nghiêm trọng thêm tình trạng của họ.
▪ Sự sử dụng thận trọng và tốt nhất là dưới sự theo dỏi của một người chuyên môn có khả năng thật sự.
▪ Không nên nhịn ăn, bụng đói trước khi sử dụng nó và những trường hợp của sự ngộ độc intoxication đã  xảy ra bởi sự chữa trị này.
● Phụ nữ mang thai :
- Sự tiêu thụ của nó nói chung sẽ là tránh cho những trẻ em nhỏ tuổi.
- Phương thuốc này không được qui định ở những phụ nữ mang thai femmes enceintes.
Ứng dụng :
● Ứng dụng y học :
▪ Nước ngâm trong nước đun sôi infusion Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides có thể được sử dụng như một phương thuốc :
- tiêu hóa digestif,
bởi vì nó cho phép giải quyết một loạt những vấn đề, như là :
- những đau bụng tiêu chảy coliques,
- và những đau dạ dày douleurs d'estomac.
▪ Những Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides được thêm vào với một số lượng nhỏ như là một hương liệu cho những món ăn khác nhau của đậu nấu chín haricots cuits, bởi hoạt động của nó :
- tống hơi carminative có thể giảm những đầy hơi flatulences.
● Ứng dụng khác :
▪ Cây được sử dụng như xông khói fumigant chống những loài muỗi moustiques và cũng được thêm vào những phân bón engrais để ức chế những ấu trùng của những loài côn trùng larves d'insectes.
▪ Những thuốc nhuộm vàng kim / xanh lá cây có thể thu được từ những Cây nguyên.
Thực phẩm và biến chế :
, dùng nấu chín.
▪ Cây Trà Mễ Dysphania ambrosioides được sử dụng như lá rau xanh légume-feuille, để pha trà thảo dược hoặc như những gia vị để cho những hương vị cay.
▪ Những lá mềm  đôi khi được sử dụng như một loại rau potagère.
▪ Những có một mùi nặng do sự hiện diện của những chấm nhựa résineux và những lông trĩn dính.
▪ Được sử dụng làm gia vị trong những súp, ….v…v…, nó giảm những đầy hơi nếu được ăn chung với những đậu haricots.
▪ Dùng tươi, nó phát triển một hương vị mạnh của nhựa résineuse, hăng chát âcre, khó có thể diển tả, gợi lên như rau kinh giới origan, hồi xanh Anis vert, thì là tây fenouil, hoặc giống rau thơm estragon.
Người ta thường so sánh mùi thơm tinh dầu térébenthine của nó, với créosote, với những cam quít agrumes, với sarriette hoặc với bạc hà menthe.
Mặc dù, nó đã bắt rễ đi sâu vào trong những công thức nấu ăn truyền thống, nó được khuyến cáo triệt để chỉ nên sử dụng những lá trong nấu ăn, và với nhiều thận trọng.
▪ Những lá sống chỉ được tiêu thụ trong một số lượng nhỏ.
▪ Hạt, dùng nấu chín.
▪ Hạt nhỏ, mỏng manh, nó phải ngâm vào trong nước một đêm và rữa thật kỹ trước khi sử dụng để loại bỏ tất cả những chất saponines.
▪ Ngâm trong nước đun sôi lá infusion, là một thay thế cho trà thé.

Nguyễn thanh Vân

dimanche 28 octobre 2018

Đa đa - Mamikil

Mamikil
Đa đa - Hải sơn
Harrisonia perforata (Blanco) Merr.
Simaroubaceae
Đại cương :
Danh pháp đồng nghĩa :
- Harrisonia paucijuga Olivo,
- Harrisonia bennettii Benn.
Danh pháp thông thường :
- Indonesia : sesepang (Lampung), garut (Sundanese), ri kengkeng (Javanese).
- Malaysia : kait-kait (Murut, Sabah).
- Philippines : asimau, mamikil (Tagalog), muntani (Bisaya).
- Laos : dok kin ta.
- Thailand : khonthaa (Central), naam chee (Northern).
- Vietnam : đa đa, hải sơn.
Harrisonia perforata (Blanco) Merr. là một Cây bụi đắng của vùng Đông Nam Á sud-est de l’Asie, thuộc giống Harrisonia của họ Cây Bá bịnh Simarubaceae.
▪ Cây Đa đa Harrisonia perforata thích những nơi khô ráo và mở như là những khu rừng thứ cấp nhẹ, những nơi rậm rạp và những bìa rừng, thường mọc trên những đá vôi, ít phổ biến trong những khu rừng gió mùa.
Nó thích những điều kiện mùa rõ rệt, ở mực nước biển cho đến 700 (-900) m độ cao.
Cây được phân phối trong những nơi rậm rạp ở độ cao thấp của những tỉnh Ilocos Sur, Nueva Viscaya, Pangasinan, Rizal và Batangas trong Luzon; và ở Samar và Mindanao.
Ở những bộ phận khô hơn ở vùng Đông Nam Á Asie du Sud-Est. Nó cũng xảy ra trong Miến Điện cho đến miền nam nước Tàu và Java.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây bụi, bò leo và đứng thẳng cao gần từ 2 đến 4 m. Những thân và nhánh được trang bị những gai ngắn và nhọn.
Những lá kép lẽ hình lông chim với 1 lá phụ ở đỉnh ngọn không thành cặp, 20 cm dài. Những lá phụ từ 1 đến 15 cặp, hình bầu dục thuôn dài, kích thước khoảng từ 10-20 mm x 5-15 mm dài với bìa lá gần như nguyên hoặc có thùy nhỏ với đường sống có cánh hẹp, được mang bởi một cuống dài từ 5-30 mm.
Những gai rõ ràng hơi cong về phía sau hoặc hướng về bên dưới, kích thước gia tăng đến 7 mm.
Phát hoa,  chùm ở ngọn từ 3 đến 5 cm dài.
Hoa, những hoa màu trắng, với một cuống hoa  và mang trên những chùm ở ngọn, gồm có :
- đài hoa, nhỏ, thùy hình tam giác,
- cánh hoa dạng mũi dáo, 6-9 mm x 2-4 mm, màu đỏ bên ngoài và màu màu đỏ nhạt đến trắng  bên trong.
- những tiểu nhụy từ 8 đến 10 với những bao phấn 1,5 - 4,5 mm dài, những chỉ 7-10 mm dài, với một cấu trúc của một dây đeo phẳng dài ra có những lông tơ rậm ở bìa mép. đĩa hình chén.
- bầu noãn hơi có thùy, vòi nhụy 5-8 mm dài và có lông mịn.
Trái, quả mọng, hơi hình cầu đường kính khoảng từ 1 đến 1,5 cm, láng, có nhiều nạt thịt, lớp vỏ ngoài exocarpe của ngoại quả bì péricarpe có cấu trúc da, ít nhất 1 mm dầy, nội quả bì endocarpe cứng.
Bộ phận sử dụng :
Những rễ, những thân, những lá và những nhánh đã được sử dụng như một thuốc truyền thống để chữa trị : ung thư cancer, bệnh sốt rét paludisme và chữa lành những vết thương loét cicatrisation des plaies.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Những rễ Cây Đa đa Harrisonia perforata cho những nguyên chất đắng amer, hiện diện phong phú trong những nhu mô vỏ parenchyme cortical.
Trên cơ bản của thành phần hữu cơ tạm thời được gọi là mamikilina, và nguyên chất đắng amer, harrisonine.
▪ Một phân tích quang phổ spectroscopique rộng extensive đã được sử dụng để làm sáng tỏ cấu trúc của chúng và hóa học lập thể stéréochimistries của chúng.
Một sự xác nhận bổ sung của những cấu trúc của 1 và 2 đã thu được bởi sự nhiễu xạ diffraction của những tia X trên đơn tinh thể monocristal.
▪ Những limonoïdes (1-8) đã được đánh giá cho hoạt tính kháng virus mosaïque chống thuốc lá virus mosaïque anti-tabac.
▪ Những limonoïdes 1-3 và 11 hợp chất được biết đã được phân lập từ những trái Cây Đa đa Harrisonia perforata. Thành phần hợp chất 2 cho thấy tính gây độc tế bào cytotoxicités thực hiện trong ống nghiệm in vitro rất yếu đối với những dòng tế bào A549 và HL60.
▪ Phân tích quang phổ khối lượng spectrométrie de masse (GC-MS) Dichotomanthes, những thành phần tan trong chất béo của trái fruits liposolubles, được xác nhận rằng 1 phần của những 29 loại thành phần trong éther dầu hỏa éther de pétrole của trái (đại diện 69,67% của tổng số ), hàm lượng cao của nó trong thành phần :
- énol cis -9,12-octadécadiénoïque (12,35%),
- acide palmitique (9,67%),
- Z-9, 17 - octadécadiénoïque enal (8,97%),
- oléate d'éthyle (5,81%),
- β sitostérol (4,88%),
- ester éthylique de l'acide linoléique (4,10%);
Trích xuất thô éthanol của những thành phần tan trong chất béo liposolubles đã được xác định 1 trong những 12 loại của tổng số thành phần (71,00%), nơi đây những mức độ cao hơn của thành phần xoay ingredients turn cho :
- acide quinique (40,44%),
- acide coke-orange (14,64%),
- 5 - (hydroxyméthyl) -2-furaldéhyde (5,89%).
Tám (8) limonoïdes (1-8) bao gồm :
- Ba (3) A, B và D-seco-16-nor-type ones, (3)
- 5,6-dehydrodesepoxyharperforin C2 (4),
- harrpernoïde B (5),
- và 2 đồng phân với cấu trúc hình thái khác nhau của những nguyên tử bao chung quanh một nguyên tử bất đối xứng épimère C-9S của nó, (6,7)
- harrpernoid C (8),
▪  với sáu (6) thành phần hợp chất được biết (9-14),
đã được phân lập từ những trái của Cây Đa đa Harrisonia perforata.
▪ Trích xuất của những lá khô Cây Đa đa Harrisonia perforata mang lại một tétranortriterpénoïde (limonoïde) mới, perforatin, thuộc nhóm obacunols.
▪ Sử dụng những kỹ thuật phân tích quang phổ hiện đại, phần đoạn của trích xuất éthanol của những trái cho được 18 hợp chất, trong đó 12 đã được làm sáng tỏ như sau :
- 3,4,5-Trihdroxybenzoate d'éthyle (1),
- acide 4-éthylgallique (2),
- hydroxyhydroquinone (3),
- acide gallique (4),
- β-sitostérol (5),
- β-Daucostérol (6),
- stigmastérol (7),
- acide protocatéchique (8),
- acide palmitique (9),
- acide linoléique (10),
- acide cis-oléique (11),
- 5-hydroxyméthyl-2-furancarboxaldéhyde (12).
▪ Phần đoạn của một trích xuất éther dầu hỏa éther de pétrole cho được 29 hợp chất, chiếm 69,67% của tổng số thành phần được phát hiện.
Những thành phần chánh đã được xác định như :
- Z-9,12-octadécadién-1-ol (12,35%),
- Acide palmitique (9,67%),
- Z-9,17-octadécadiénal (8,97%),
- Oléate d'éthyle (5,81%),
- β-sitostérol (4,88%),
- noléate d'éthyle (4,10%).
▪ Trích xuất alcool mang lại 12 thành phần hợp chất thể hiện 71,00% trên tổng số của những thành phần đã đuợc phát hiện.
▪ Những thành phần chánh đã được xác định như :
- acide quinique (40,44%),
- pyrogallol (14,64%),
- 5- (hydroxyméthyl) -2-furancarboxaldéhyde (5,89%).
Đặc tính trị liệu :
▪ Những nghiên cứu cho thấy có những đặc tính :
- kháng siêu vi khuẩn antimicrobiennes,
- chống oxy hóa antioxydantes,
- chống bệnh sốt rét antipaludiques,
- chống viêm anti-inflammatoires.
▪ Những chồi non được xem như một phương thuốc chống lại :
- tiêu chảy diarrhée
Rễ được sấy khô của Cây Đa đa Harrisonia perforata được xem như :
- hạ sốt antipyrétique,
- và chống viêm anti-inflammatoire,
nó được sử dụng trong :
- hóa sẹo chữa lành những vết thương loét cicatrisation des plaies,
và trong chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée.
▪ Những thân Cây Đa đa Harrisonia perforata được sử dụng trong chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Indonésie, những chồi non được xem như một phương thuốc chống :
- tiêu chảy diarrhée.
▪ Trong Đông Dương Indochine, những tro của được rang nướng lên, pha trộn với dầu hoặc đơn giản nghiền nát được áp dụng để làm giảm :
- những ngứa démangeaisons.
▪ Trong Thaïlande, rễ khô được xem như một thuốc :
- hạ sốt antipyrétique,
- và chống viêm anti-inflammatoire.
Nó được sử dụng trong :
- hóa sẹo chữa lành những vết thương loét catrisation des plaies,
và trong chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée.
Những thân cũng được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh tiêu chảy diarrhée.
Trong Thái Lan, gỗ cũng được xem như một thuốc.
▪ Ở Philippines, nước nấu sắc décoction của vỏ rễ Cây Đa đa Harrisonia perforata được sử dụng như một phương thuốc chống :
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie;
cũng được sử dụng chống :
- bệnh dịch tả choléra.
▪ Trong Đông Ấn Hà Lan Dutch East Indies, những chồi được sử dụng như phương thuốc chống :
- tiêu chảy diarrhée.
▪ Cây Đa đa Harrisonia perforata là một trong những 5 thành phần của rễ của Benchalokawichian (BCW), một công thức truyền thống thaïlandaise với cơ bản thảo dược , được sử dụng như :
- hạ sốt antipyrétique
và để chữa trị  :
- những rối loạn của da troubles de la peau.
Nghiên cứu :
● Nghiên cứu độc tính toxicité :
▪ Nghiên cứu độc tính cấp tính toxicité aiguësubchronique của trích xuất nước của Cây Đa đa Harrisonia perforata Merr. ở những chuột .
Trích xuất nước của Cây Đa đa Harrisonia perforata Merr. đã được nghiên cứu cho những độc tính cấp tính toxicités aiguës và trung gian giữa cấp tính và mãn tính subchroniques.
Trích xuất với một liều duy nhất của 5 000 mg / kg được quản lý uống ở những chuột cái và những chuột đực (5 đực và 5 cái).
Sau 14 ngày, những dấu hiệu và những thay đổi của hành vi tâm tánh comportement, tử vong mortalité, những thay đổi tổng quát và mô bệnh học histopathologiques của những cơ quan bên trong cơ thể đã được quan sát.
Trọng lượng cơ thể của những chuột đực chữa trị đã giảm đáng kể bởi so với nhóm đối chứng.
Trích xuất không có những dấu hiệu độc tính toxicité. Để thử nghiệm độc tính trung gian giữa cấp tính và mãn tính toxicité subchronique, trích xuất với liều của 300, 600 và 1 200 mg / kg của trọng lượng cơ thể được quản lý dùng uống ở những chuột tất cả mọi ngày trong thời gian 90 ngày (10 đực, 10 cái).
Quan sát những dấu hiệu, hành vi tâm tánh comportement và tình trạng sức khỏe, không cho thấy một bất thường nào trong những nhóm thử nghiệm so với nhóm đối chứng.
Tuy nhiên, trọng lượng co thể của tất cả những chuột chữa trị đực đã giảm đáng kể bởi so với nhóm đối chứng.
Vào cuối nghiên cứu, một khám nghiệm tử thi autopsie và một khảo sát mô bệnh học histopathologique đã được thực hiện ở tất cả những động vật của nhóm đối chứng, nhóm thử nghiệm và nhóm vệ tinh satellite trong đó dịch trích đã được ngưng trong thời gian 28 ngày thêm nữa.
Những trọng lượng cơ thể và những cơ quan, huyết học hématologique và máu hóa học lâm sàng chimie clinique du sang cũng được khảo sát.
Những kết quả cho thấy rằng trích xuất nước của Cây Đa đa Harrisonia perforata Merr. không gây ra độc tính cấp tính toxicité aiguësubchronique ở những chuột.
● Kháng siêu vi khuẩn Antimicrobien / Benchalokawichian BCW :
Nghiên cứu đánh giá hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne của những trích xuất của những phương thuốc của Benchalokawichian Thái Lan và những thành phần hợp chất của nó chống lại của những chủng phân lập lâm sàng isolats cliniques.
Cây Đa đa Harrisonia perforata và những hợp chất khác cho thấy một hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne chống lại loài nấm Candida albicans và hầu hết những chủng phân lập isolats Gram dương positif và Gram âm négatif.
● Hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne :
Trong một nghiên cứu ở cambodgienne của 27 loài thực vật cho những hoạt động kháng khuẩn antibactériennes và chống nấm antifongiques thực hiện trong ống nghiệm in vitro, những rễ Cây Đa đa Harrisonia perforata cho thấy một  hiệu quả của thuốc diệt vi khuẩn bactéricide chống lại vi khuẩn Staphylococcus aureus và những rễ và những thân của nó cho thấy một hiệu quả thuốc diệt khuẩn bactéricide chống lại nấm Mycobacterium smegmatis.
● Chống viêm Anti-inflammatoire / Rễ :
Nghiên cứu đã khảo sát hiệu quả chống viêm anti-inflammatoire trên cơ thể sinh vật sống in vivo và trong ống nghiệm in vitro của một trích éthanolique của rễ.
Những kết quả cho thấy một sự giảm đáng kể của tình trạng viêm inflammation trong phù nề œdème của chân chuột sau khi tiêm chất carraghénane.
Cơ chế có thể là bởi sự ức chế của những cytokines tiền viêm pro-inflammatoires.
● Chống viêm Anti-inflammatoire / Limonoides và Chromones:
Nghiên cứu của những trái và những rễ mang lại 2 limonoïdes mới được sắp xếp lại là harperforatinharperfolide, và một chromone mới ( chromone là một hợp chất hóa học dẫn xuất của benzopyrane (hoặc chromène). dẫn xuất của nó được gọi là những chromones.), harperamone, cũng như 8 hợp chất được biết.
Harperfolide (hợp chất 2) thể hiện một hoạt động chống viêm anti-inflammatoire mạnh thông qua sự ức chế của sự sản xuất oxyde nitrique.
Hiệu quả có thể là qua trung gian bởi sự giảm của sự biểu hiện của chất đạm protéine iNOS, do sự tác động chất ức chế inhibitrice của sự sản xuất NO gây ra bởi LPS.
● IDDP mới / Lập trình tự hủy Apoptose trong những tế bào ung thư người cellules cancéreuses humaines :
Những Cây Đa đa Harrisonia perforata cho được những chất limonoïdes. Chất haperforine B1, là một trong những limonoïdes được phân lập từ những Cây Đa đa Harrisonia perforata, đã cho một sản phẩm trung gian :
- E-5-iodométhylène-6,6-diméthyl-5,6-dihydropyran-2-one (IDDP). IDDP
đã được tìm thấy độc hại toxique những dòng tế bào ung thư người cellulaires cancéreuses humaines hơn chất haperforin B1.
Nghiên cứu mô tả sự tổng hợp của IDDP và hoạt động chống tăng sinh antiproliférative của nó trong ống nghiệm in vitro chống lại nhiều dòng tế bào ung thư lignées cellulaires cancéreuses nhạy cảm với hóa chất chimiosensibles và đế kháng résistantes, cũng như khả năng gây ra cái chết tế bào bởi lập trình tự hủy apoptose.
● Thuốc diệt khuẩn Bactéricide / Cầu khuẩn Staphylococcus aureus :
Nghiên cứu đánh giá 27 loài thực vật ở Cambodge cho những hoạt động kháng khuẩn antibactériennes và chống nấm antifongiques trong ống nghiệm in vitro. Cây Đa đa Harrisonia perforata cho thấy một hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne đặc biệt trên những vi khuẩn Gram-dương positives, và cho thấy một hiệu quả thuốc diệt vi khuẩn bactéricide chống lại vi khuẩn Staphylococcus aureus (500 μg / ml) và Mycobacterium smegmatis (rễthân, 250 μg / ml).
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không biết, cần bổ sung.
Ứng dụng :
● Ứng dụng y học :
▪ Những tro của những được rang nướng lên pha trộn với dầu, hoặc đơn giản nghiền nát những , được áp dụng trên da để :
- giảm những ngứa démangeaisons
▪ Một nước nấu sắc décoction của vỏ rễ Cây Đa đa Harrisonia perforata được đề nghị trong chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie
cũng như chống lại :
- bệnh dịch tả choléra
Một phương thuốc có hiệu quả để chống lại :
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie
Thực phẩm và biến chế :
Không biết

Nguyễn thanh Vân

samedi 20 octobre 2018

Rong Rau câu - Hồng tảo - Slender Wart Weed

Slender Wart Weed
Rong Rau câu - Hồng  tảo
Gracilaria gracilis (Stackhouse) M.Steentoft, L.M.Irvine & W.F.Farnham
Gracilariaceae
Đại cương :
▪ Sinh học biologie – Môi trường :
Rong Rau câu Gracilaria gracilis là một hồng tảo biển lớn thuộc ngành Rhodophyta, Florideae, Gigartinales, họ Gracilariaceae.
Như những hồng tảo algues rouges khác, hàm lượng thạch agar trong nó cũng được bao gồm trong nhóm loài rong biển có chứa thạch agar agarophytes. Nó hìện diện trong toàn thế giới và sống trong những vùng biển ôn đới với một độ sâu bao gồm giữa 0 và 20 m.
Chu kỳ sinh sống của nó, sự tăng trưởng và hàm lượng chất phycocolloïdes của nó phụ thuộc vào những thông số khác nhau của nước biển, như là :
- nhiệt độ,
- và độ mặn salinité,
- độ chiếu xạ irradiation,
- những thành phần nguyên tố muối dinh dưởng hoà tan sels d'éléments nutritifs,
- sự hiện diện của những loài tảo khác và những loài thực vật phụ sinh épiphytes.
Nhiệt độ tối ưu cho sự tăng trưởng là bao gồm từ giữa 19° C và 23° C.
Tảo cho thấy chịu được với những nhiệt độ tới 28 ° C.
● Sự phân phối :
▪ Rong biển được phân bố rộng rãi chung quanh những đảo Anh quốc từ những Shetlands đến đảo Anglo-Normandes.
▪ Châu Âu : Địa trung hải Méditerranée, Portugal, bờ biển Đại tây dương Atlantique của Espagne, Hoà lan Pays-Bas, Helgoland, biển Baltique và Norvège.
▪ Những bờ biển Đại tây dương atlantiques của Mỹ Amérique :
từ Canada đến Brésil.
Xa hơn : những Bermudes, những đảo Canaries, Namibie, Nam Mỹ Afrique du Sud, Ấn Độ Inde và Thái bình dương Océan Pacifique, từ Colombie-Britannique đến Basse-Californie, Philippines và Fidji.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Hình thái :
Rong đỏ nầy giòn như sụn, hình trụ, màu đỏ đục, dài khoảng đến 500 mm, một hoặc nhiều phát sinh từ một đĩa nhỏ nạt sống lâu năm.
Phân nhánh rất không đều, thưa thớt hoặc rậm rạp, những nhánh tập hợp thành bụi đến 2 mm đường kính, đỉnh nhọn. Nội mô là những tế bào to nhiều hay ít không màu với vách ngăn mỏng, với những vùng vỏ ngoài hẹp gồm những tế bào nhuộm màu.
▪ Chu kỳ sinh sống :
Rong Rau câu Gracilaria gracilis đặc trưng bởi một chu kỳ sinh sống cycle vital theo kiểu của Polysiphonia, với một tứ bào tử thực vật tétrasporophyte lưỡng bội diploïde luân phiên thường xuyên, độc lập và hình thái giống nhau của những giai đoạn giảm nhiễm (n) giao tử thực vật  gamétophytique haploïde, phần sau này bao gồm một số lượng bằng nhau của cây đực mâle và cây cái femelles.
Chu kỳ sinh sống của Rong đã được nghiên cứu và mô tả bởi nhiều tác giả, nhưng sự mô tả đầy đủ nhất và kỹ lưỡng nhất được đưa ra bởi Polifrone và al. :
« Những tứ bào tử thực vật tétrasporophytes lưỡng bội diploïdes phóng thích những tứ bào tử tétraspores có nguồn gốc từ những kết quả của sự phân bào giảm nhiễm méiotiques và phát triển thành những giao tử thực vật gamétophytes đồng dạng ( những thế hệ hình thái học giống nhau ) isomorphes đã phân bào giảm nhiễm (n) haploïdes.
Những giao tử thực vật đực gamétophytes mâles được phóng thích trong môi trường nước của những tinh trùng spermaties, không có chiên mao flagelles và được chuyên chở bởi những dòng nước để tiếp cận với những giao tử thực vật cái gamétophytes femelles và thụ tinh cho ra những thư quả thư quả hay quả bào tử phòng ( cơ quan sinh dục cái hồng tảo ) carpogonium.
Hợp tử zygote phát triển thành một quả bào tử thực vật carposporophyte phóng thích trong môi trường, một số lượng lớn quả bào tử quả bào tử carpospores lắng xuống, nảy mầm và sản xuất một tứ bào tứ thực vật mới tétrasporophytes.
Những khối kết tụ hình cầu agglomérats sphériques của những tế bào mới xuất hiện của những giai đoạn đầu của sự phát triển của những tứ bào tử thực vật tétrasporophytes non trẻ, tăng sinh nẩy nở và tạo ra một tản thalles mới, trong khi những phần còn lại của những tứ bào tử thực vật tétrasporophytes tiếp tục theo mô hình phát triển bình thường.
Những tản thalles Rong Rau câu Gracilaria gracilis từ những khối kết tụ hình cầu agglomérats sphériques không có khả năng kết dính vào nền đài vật và có thể là do một phần hình thức của quần thể dân số population sống phù du trôi nổi pleustophytique trong cùng một môi trường ».
Bộ phận sử dụng :
Sản phẩm, chế biến từ rong, agar agar.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Lipides và acides béo acides gras (FAME)
Những chất béo lipides cấu thành một nhóm quan trọng của hợp chất tự nhiên bao gồm :
- những chất béo graisses,
- những chất sáp cires,
- stérols,
- những vitamines hoà tan trong chất béo liposolubles ( như là những vitamines A, D, E và K),
- những đơn đường mở monoglycérides,
- diglycérides,
- những phospholipides,
- những caroténoïdes, v…v….
Nó đóng vai trò của nhiều chức năng sinh học biologiques, nhất là :
- tồn trữ năng lượng énergie,
- những thành phần cấu trúc của những màng tế bào,
- và những phân tử tín hiệu molécules  signalisation.
Mặc dù những con người và những loài hữu nhũ khác mammifères sử dụng đường sinh tổng hợp biosynthèse để phân hủy và tổng hợp những chất béo lipides, một số nhất định chất béo thiết yếu khác lipides essentiels chỉ có thể thu được bởi chế độ ăn uống thực phẩm régime alimentaire.
▪ Stérols
Thành phần của những phần đoạn stérols trích xuất của Rong Rau câu Gracilaria gracilis đã được nghiên cứu để mà xác định nếu những chất phytostérols, những stérols của cấu trúc C28 và C29, đã được hiện diện.
Điều này là do sự hiện diện lớn của những hợp chất này để :
- hoạt động sinh học bioactivité của nó,
- và sự sử dụng thực phẩm dinh dưởng nutraceutique và dược phẩm pharmaceutique đầy hứa hẹn.
Thật vậy, chúng là những tiền chất của một số nhất định những phân tử hoạt động sinh học molécules bioactives ( ví dụ, ergostérol là một tiền chất của vitamine D2) và nó cũng cho thấy rằng giảm những mức độ tổng số cholestérol (total) và LDL ở người bằng cách ức chế sự hấp thu của cholestérol bởi đường ruột intestin.
Hơn nữa, những phytostérols có một hoạt tính :
- chống viêm anti-inflammatoire,
và có thể là đặc trưng bởi những hoạt động :
- chống ung thư anticancéreuses,
- và chống oxy hóa anti-oxydantes.
▪ Chất đạm Protéines :
Những tảo lớn macroalgues là một nguồn duy nhất của chất đạm protéines mặc dù hàm lượng rất thay đổi.
Những chất đạm protéines, bao gồm :
- những acides aminés khác nhau,
và phẩm chất dinh dưởng nutritionnelle có thể được xác định về cơ bản bởi :
- hàm lượng, tỷ lệ và sẵn có của những acides aminés này.
▪ Thành phần Phycobiliprotéines :
Những phycobiliprotéines là những chất đạm protéines với những nhóm prosthétiques của tétrapyrrole thẳng linéaires (bilines) trong trạng thái chức năng của chúng, liên kết theo cách cộng hóa trị covalente với những dư lượng của cystéine đặc biệt của những chất đạm protéines.
Những chất đạm protéines này tìm thấy trong những nhóm :
- rong thanh tảo cyanobactéries (thanh tảo algues bleu-vert), trong lớp tảo đơn bào có 2 chiên mao algues eucaryotes unicellulaires biflagellées (cryptomonads),
- và trong những hồng tảo Rhodophyta (tảo đỏ algues rouges).
Trong tất cả những chất, những phycobiliprotéines hành động như những sắc tố pigments công cụ của quang tổng hợp photosynthèse.
Tổng số hàm lượng phénolique total :
Những phénols cấu thành một nhóm quan trọng của sản phẩm tự nhiên với những đặc tính :
- chống oxy hóa antioxydantes,
- và sinh học biologiques.
Những hợp chất này đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ của những tế bào tảo algues chống lại :
- sự căn thẳng phi sinh học stress abiotique,
- và sinh học biotique.
Nhiều trong số đó có những hoạt động :
- chống oxy hóa antioxydantes,
- kháng vi khuẩn antimicrobiennes,
- và chống siêu vi khuẩn antivirales
quan trọng để bảo vệ của những tế bào rong biển cellules d'algues chống lại những điều kiện của sự căng thẳng stress.
Nhiều tác giả gần đây đã công bố những kết quả liên quan đến hàm lượng tổng số chất phénol (total) và hoạt động chống oxy hóa antioxydante của những rong biển algues.
Tổng số đường Glucides (totaux)
Những glucides đóng nhiều vai trò thiết yếu ở sinh vật sống.
Những đơn đường monosaccharides là nguồn chánh của năng lượng énergie cho chuyển hóa chất biến dưởng métabolisme, trong khi những đa đường polysaccharides phục vụ cho việc tồn trử năng lượng énergie và có thể hành động như những thành phần cấu trúc.
Ngoài ra, nó đã cho thấy rằng nó có những hiệu quả lợi ích khác trên sức khỏe, nhất là :
- những hiệu quả tiền sinh học prébiotique của nó,
- và hoạt động chống oxy hóa antioxydante,
- hoặc chống viêm anti-inflammatoire của chúng.
Thạch Agar :
Một chất keo dính háo nước colloïdale hydrophile được làm khô của những trích xuất khác nhau của những loài Hồng tảo algues rouges.
▪ Chất làm đông đặc gélatineux, sulfaté polysaccharide, trích xuất chủ yếu từ Gelidium cartilagineum, Gracilaria confervoides và những loài có liên quan đến hồng tảo algues rouges (algues);
- nó tan chảy ở nhiệt độ ± 100ºC và đông đặc ở ± 40ºC.
▪ Nó được sử dụng trong những môi trường nuôi cấy vi trùng bactéries và những vi sinh vật khác micro-organismes,
Thạch Gélose trong vi sinh học microbiologique là một môi trường thường được sử dụng để cấy nuôi :
- những vi trùng bactérienne,
- và nấm fongique,
bởi vì :
- những chất dinh dưởng nutriments,
- những thuốc kháng sinh antibiotiques,
- những muối sels,
- và những chất ức chế
được đưa dễ dàng vào trong môi trường,
- trong việc chế tạo nhũ tương émulsions
và như một môi trường trong những quá trình như là :
- khuếch tán miễn nhiễm immunodiffusion,
- và điện di électrophorèse.
Đặc tính trị liệu :
▪ Những chất đạm protéines có thể có những hoạt động :
- kháng khuẩn antibactériennes,
- chống oxy hóa antioxydantes,
- kích thích miễn nhiễm immunostimulantes,
- chống huyết khối antithrombotiques,
- và chống viêm anti-inflammatoires;
nó có thể được sử dụng để ngăn ngừa và chữa trị :
- huyết áp cao hypertension,
- bệnh tiểu đường diabète,
- và viêm gan hépatite
trong số những hiệu quả tích cực khác trên cơ quan organisme.
Tất cả những hiệu quả thúc đẩy cho sức khỏe này làm cho những hợp chất này có một mối liên quan lớn như :
- một thực phẩm dinh dưởng nutraceutiques.
Những phân tích của tổng số những chất đạm protéines totales trong những tảo algues thường được thực hiện để mà tìm kiếm những nguồn bổ sung chất đạm protéines mới.
 Ở những loài của giống Racilaria, hàm lượng chất đạm protéines được tìm thấy dao động từ 5,6% đến 30%
▪ Do dung lượng của nó, agar sản phẩm của rong Rau câu Gracilaria, cũng được sử dụng như thuốc để :
- thúc đẩy nhu động ruột péristaltisme,
- và làm giảm táo bón constipation.
được sử dụng như :
- thuốc nhuận trường với số lượng lớn laxatif en vrac,
bởi vì nó rất háu nước hydrophile.
▪ Thạch gélose cũng được sử dụng như chất nhũ hóa ( chuyển hóa sữa ) émulsifiant trong những thức phẩm; nó không thể tiêu hóa bởi những con người.
▪ Bệnh tiểu đường Diabète, bệnh vàng da jaunisse :
làm thế nào sử dụng thạch agar-agar ?
▪ Ở người trưởng thành (18 tuổi và hơn ) :
◦ Bệnh tiểu đường diabète :
180g/ngày của thạch agar-agar ( thương mại dưới tên Slim Kanten®, Japon) trong bữa ăn tối trong thời gian 4 tuần.
Sự sử dụng nói chung (đường miệng): từ 4 đến 16 g thạch agar-agar, 1 đến 2 lần mỗi ngày trong 250mL nước.
▪ Ở trẻ em (18 ans và ít hơn ) :
◦ Bệnh vàng da jaunisse :
2,6 đến 16 g thạch agar-agar 4 đến 8 lần mỗi ngày trong sữa lait.
Kinh nghiệm và kỹ thuật nuôi trồng  :
▪ Rong Rau câu Gracilaria gracilis là một loài tảo kinh tế đáng chú ý cho :
- hàm lượng chất thạch gélose,
- và cho sự sử dụng của nó như thực phẩm hoặc thực phẩm bổ sung cho con người và cho  những loài khác nhau của cá poissons và những loài động vật biển có vỏ  khác fruits de mer.
Sự sử dụng như nguyên liệu thô bởi công nghệ dược phẩm industrie médicale, nuôi trồng với mục đích thương mại được diễn ra trong nhiều nước.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu sinh học biologie, sự tăng trưởng croissance, cấy nuôi culture và những ứng dụng có thể của Cây này algue.
Tuy nhiên, bên cạnh agar, Rong Rau câu Gracilaria gracilis đại diện một nguồn của nhiều sản phẩm tự nhiên lợi ích khác.
Francavilla và al. đã định nghĩa như « một nguồn sản phẩm đa năng »; thật vậy, nó đã được đặc trưng hóa những hợp chất khác nhau có thể trích xuất từ nó, như là :
▪ chất béo lipides và acides béo acides gras
▪ stérols
▪ protéines
▪ phycobiliprotéines
▪ phénols
▪ glucides
Những thành phần, như :
- R-phycoérythrine,
- acide arachidonique (PUFA-6),
- những chất đạm protéines,
- và những đường glucides,
đã được phát hiện với một nồng độ cao hơn vào mùa đông, trong khi ở mùa hè người ta đã xác định nồng độ cao nhất của tổng số phénols, bên cạnh một hoạt động lớn :
- chống oxy hóa anti-oxydante,
- và hoạt động truy tìm gốc tự do radical scavenging.
▪ Theo nghiên cứu này và những nghiên cứu sơ bộ tương tự khác, Rong Rau câu Gracilaria gracilis có thể được xem như an toàn một nguồn quan trọng cho những ứng dụng :
- công nghệ sinh học biotechnologiques,
- thực phẩm dinh dưởng nutraceutiques,
- và dược phẩm pharmaceutiques.
Tuy nhiên, Rong Rau câu Gracilaria gracilis cơ bản được khai thác như một nguồn thạch agar.
▪ Kết quả, và do nhu cầu của Rong biển agar càng ngày càng tăng, những quần thể tự nhiên của Rong này nhanh chóng cạn kiệt.
Điều đáng chú ý rằng, trong nhiều thế kỷ, những sinh lượng biomasses của rong biển đã được lấy lại duy nhất từ nền tảo tự nhiên.
Để bảo tồn những nguồn tự nhiên đồng thời đưa vào một nguồn mới, những trại nuôi trồng rong biển algues đã được phát triển.
Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, sự sinh sản thực vật dễ dàng và sự phân bố của Rong Rau câu Gracilaria gracilis khác đã được thúc đẩy sự khởi đầu của sự nuôi trồng Rong biển algues này.
Thật vậy, nuôi trồng những rong biển đã được thực hiện thông qua một loạt những phương pháp, gia tăng một cách bất thường những nguyên liệu thô để sản xuất ra thạch agar.
Ngày nay, hơn 60% trọng tải thế giới của loài rong biển có agar thuộc loại hồng tảo agarophytes bao gồm Rong Rau câu Gracilaria, hiện được nuôi trồng với một quy mô lớn ở Chili, trong Tàu, ở Đài Loan Taiwan và trong những nước khác.
Đối với những loài khác của giống Rong Rau câu Gracilaria, «thẩm định» của những phương pháp nuôi trồng đã được xác định rõ.
Trái lại, sự nuôi trồng Rong Rau câu Gracilaria gracilis là chủ đề của nhiều nghiên cứu và thí nghiệm bởi vì nó còn rất nhiều vần đề cần hiểu biết để cải thiện năng xuất productivité và sản lượng rendement của sinh khối  biomasse.
▪ Phương pháp nuôi trổng :
Những kỷ thuật nuôi trồng đã được phát triển để nuôi trồng những Rong biển algues, không chỉ như :
- một sự lựa chọn kinh tế,
- nhưng cũng như giải pháp thay thế môi trường sinh thái khả thi để bảo tồn những nguồn tự nhiên.
Những rong Rau câu Gracilaria đã được trồng thành công trên với một quy mô thương mại, đặc biệt ở Đông Nam Á Asie du Sud-Est và trong Nam Mỹ Amérique du Sud.
Những kỹ thuật khác nhau được sử dụng để nuôi trồng tảo Gracilaria, nhất là những nuôi trồng ở đáy, bè radeau, dây thừng pieu và hồ ao bassin.
Phương pháp thứ hai này có thể được chia thành độc canh monoculture hoặc đa canh polyculture với những loài tôm crevettes và những loài khác.
▪ Nuôi trồng đáy :
Đây là phương pháp đầu tiên được sử dụng để cấy nuôi rong algues, bao gồm sự gắn trực tiếp những tản vào trong đáy cát bằng cách dùng những ống nhựa plastique, để neo móc những tảo vào đáy biển mer.
Tất cả những kỹ thuật dựa trên khả năng của rong Gracilaria để phát triễn một hệ thống của tản thalles ngầm dưới đất, móc những tảo vào đáy mềm.
Sau quá trình trồng những tầng đất được duy trì bởi sự tăng trưởng thực vật từ hệ thống tản thalles ngầm dưới đất, có thể tồn tại chôn dưới đất trong nhiều tháng.
▪ Phương pháp khuông :
hệ thống này được cấu thành khung khối bằng kim loại được xây dựng và cài đặt dưới nước trong một vùng nền đáy cát. Nó đã được thử nghiệm bởi Dural và al., không kết quả đáng khích lệ.
▪ Phương pháp bè nổi : những khung hình vuông ( những vật liệu tự nhiên khác nhau ) cấu trúc được sử dụng để nuôi trồng trong môi trường nước.
Những chứa nhiều đường dây thừng song song khác nhau trong đó những mảnh thực vật của tản thalles thực vật gắn liền vào.
Gia tăng sinh khối biomasse của nước biển, bằng cách sử dụng phương pháp này, đã được  thử nghiệm bởi Ganesan và al. và Sanfilippo và al., cho những loài khác nhau của giống Gracilaria, bao gồm Rong Rau câu Gracilaria gracilis.
Ganesan và al. được báo cáo kết quả tốt cho rong Rau câu Gracilaria edulis trong nuôi trồng, trong khi cùng phương pháp tương tự, thử nghiệm bởi Sanfilippo và al., không cho thấy kết quả so sánh với Rong Rau câu Gracilaria gracilis.
Bởi lý do này, Capillo và al. đã đề xuất một sự tiếp cận sáng tạo để nuôi trồng Rong Rau câu Gracilaria gracilis, bằng cách thử nghiệm phương pháp của chúng trong một đầm địa trung hải lagune méditerranéenne (lagune de Ganzirri, Sicile, Italie).
Phương pháp «Reste» (tên bởi những tác giả) bao gồm những lưới nylon, giống hệt những lưới để nuôi cấy những con sò chem chép moules, trong đó những tản thalles đã được chèn vào với sự giúp đỏ bởi một ống bằng nhựa PVC để giữ lưới mở ra, và một cái khác như một trục ống thụt piston để đẩy rong algues vào bên trong của lưới.
Những kết quả của nghiên cứu nầy cho thấy một sự gia tăng của trọng lượng tươi của 952% chỉ trong 72 ngày, xác định phương pháp nuôi trồng nầy như là hiệu xuất tốt nhất để nuôi trồng Rong Rau câu Gracilaria gracilis.
Nghiên cứu :
● Sự tái sinh toàn bộ Cây régénération de plantes entières từ nguyên sinh chất protoplastes của giống Racilaria gracilis (Gracilariales, Rhodophyta)
Những bài viết này báo cáo sự tái sinh thành công đầu tiên régénération của cây nguyên từ những Rong Rau câu Racilaria gracilis (Stackhouse) Steentoft, Irvine và Farnham.
Những nguyên sinh chất protoplastes đã được phân lập và làm tinh khiết bằng  cách sử dụng quy trình tối ưu trước đó.
Những nguyên sinh chất protoplastes với những vách tế bào tái tạo cellulaires régénérées chia nhỏ thành hai (2) để tạo  thành những khối tế bào giống như những cục chai callosités, cũng như cho thấy sự hiện diện những sợi không đồng đều.
Sự tăng trưởng của những chồi từ những khối cuc chai callus có liên quan đến một sự thay đổi riêng biệt của cường độ màu tại điểm tăng trưởng.
Cuối cùng, những Cây nguyên đã được tái sinh régénérées từ những khối tế bào giống nhau với những khối chai cals, với những tổng số sản lượng khoảng từ 2 đến 4 cây nguyên cho 104 nguyên sinh chất protoplastes gieo hạt.
Hai mô hình tái sinh régénération riêng biệt đã được quan sát.
◦ Trong trường hợp đầu tiên, những nguyên sinh chất protoplastes được tái sinh chậm để sản xuất những thực vật giống như Cây mẹ, hiện diện những tản thalles mỏng và phân nhánh.
Những mức độ tăng trưởng của những rong biển tái sinh algues régénérées là tương tự như Rong Rau câu Gracilaria gracilis loại hoang dại được cấy nuôi trong cùng điều kiện với 115 g của những rong biển cấy nuôi từ 15 cây tái sinh riêng lẻ trong 1 năm.
◦ Trong trường hợp thứ hai, những nguyên sinh chất protoplastes được tái sinh nhanh chóng để sản xuất ra những thực vật nhỏ với những tản dầy đặc thalles épais, không phân nhánh và thời gian sống có giới hạn.
Những kết quả này cung cấp một nền tảng quan trọng để điều chỉnh một hệ thống nuôi cấy mô culture tissulaire thành công cho Rong Rau câu Gracilaria gracilis.
● Nghiên cứu phản ứng của chất đạm protéine biểu hiện trong tế bào rong proteome của Gracilaria gracilis (Gracilariales, Rhodophyta) với sự giới hạn đạm nitơ azote
Đạm nitơ vô cơ azote inorganique đã được xác định như là yếu tố dinh dưởng chánh nutritionnel giới hạn sự tăng trưởng của những quần thể của Rong Rau câu Gracilaria gracilis trong Nam phi Afrique du Sud.
Mặc dù những cơ chế sinh lý physiologiques được thực hiện bởi Rong Rau câu Gracilaria gracilis để thích ứng với những môi trường với hàm lượng nitơ thấp azote đã được nghiên cứu,  người ta ít được biết về những cơ chế phân tử mécanismes moléculaires của những thích ứng adaptations này.
Nghiên cứu này cung cấp nghiên cứu đầu tiên của những sự thay đổi của những chất đạm biểu hiện trong tế bào protéome của Rong Rau câu Gracilaria gracilis trong phản ứng với sự giới hạn nitơ azote và phục hồi về sau.
Một phương pháp tiếp cận toàn bộ chất đạm protéine biểu hiện trong tế bào rong protéome khác nhau bằng cách sử dụng :
- điện di électrophorèse trên chất đông gel hai chiều bidimensionnelle
- và sắc ký lỏng chromatographie en phase liquide - quang phổ khối lượng spectrométrie de masse song song.
được sử dụng để nghiên cứu những sự thay đổi của chất đạm protéine biểu hiện trong tế bào protéome của Rong Rau câu Gracilaria gracilis trong phản ứng với sự giới hạn và phục hồi của nitơ azote.
- phân hủy glucose glycolyse,
- quang tổng hợp photosynthèse,
- tổng hợp ATP,
- chuyển hóa chất biến dưởng métabolisme của galactose,
- quá trình vật lý trong đó một polypeptide gắp nếp trong cấu trúc 3 chiều repliement des protéines,
- và sinh tổng hợp biosynthèse,
- chất chuyển hóa biến dưởng nitơ métabolisme de l'azote,
- và tu bổ remodelage xương sợi trong tế bào chất cytosquelette.
Việc xác định của những chất đạm protéines và những đường chính liên quan đến phản ứng với sự căn thẳng với nitơ stress azoté của Rong Rau câu Gracilaria gracilis cung cấp sự hiểu biết tốt hơn những phản ứng của protéine của Rong Rau câu Gracilaria gracilis với những mức độ giới hạn khác nhau của nitơ azote và là bước đầu tiên của việc xác định sự đánh dấu sinh học biomarqueurs cho phép theo dỏi tình trạng thành phần chất nitơ statut azoté của sự nuôi trồng quần thể Rong rau câu Gracilaria gracilis.
● Hồng tảo Gracilaria gracilis như một nguồn của sự sản phẩm đa dụng :
Trong những năm gần đây, những rong biển algues đã dấy lên một sự quan tâm trong nghiên cứu những loại thuốc mới và cho thấy là một nguồn thiết yếu của hợp chất tự nhiên hoạt tính sinh học bioactifs và nguyên liệu sinh học biomatériaux.
Trong hiện diện nghiên cứu, thành phần sinh hóa biochimique của Hồng tảo Rong Rau câu Gracilaria gracilis, đã được thu hoạch theo mùa trong những đầm của Lesina (phía nam biển Adriatique, Lesina, Italie), đã được phân tích với những kỹ thuật phân tích tiên tiến như là :
- sắc ký khí chromatographie en phase gazeuse kết hợp với quang phổ khối lượng spectrométrie de masse và kiểm tra quang phổ spectrophotométriques.
Đặc biệt, phân tích của :
- những chất béo lipides của những chất béo acides gras,
- những stérols,
- những chất đạm protéines,
- những phycobiliprotéines,
- và những đường glucides cũng như hàm lượng chất phénol, hoạt động chống oxy hóa anti-oxydante và chống gốc tự do anti-radicalaire đã được thực hiện.
Vào mùa đông, những trích xuất của Rong Rau câu Gracilaria gracilis, người ta quan sát một hàm lượng cao R-phycoérythrine, kết hợp với sản phẩm có giá trị khác, như là :
- acide arachidonique (PUFA-6),
- những chất đạm protéines,
- và những đường glucides.
Những hoạt động chống oxy hóa anti-oxydantes và chống gốc tự do anti-radicalaires cao cũng được phát hiện trong những trích xuất mùa của rong biển algues, cũng như hàm lượng cao của tổng số chất phénols.
Tóm lại, nghiên cứu này chỉ ra sự sử dụng có thể của Rong Rau câu Gracilaria gracilis như một nguồn sản phẩm đa dạng cho những ứng dụng :
- công nghệ sinh học biotechnologiques,
-  thực phẩm dinh dưởng nutraceutiques,
- và dược phẩm pharmaceutiques,
mặc dù có nhiều nghiên cứu là cần thiết để :
- tách riêng,
- làm tinh khiết,
- và đặc trưng của những hoạt tính sinh học bioactifs.
Ứng dụng :
● Thạch Agar :
▪ Thành phần thạch agar là :
- một hydrocolloïde d'algue (là một hợp chất hữu cơ hòa tan trong nước, hình thành một chất keo phân tán có độ nhớt cao, được sử dụng trong y học như một băng gạc tự nhiên ),
- hoặc phycocolloïde, được sử dụng từ lâu như chất làm đông đặc gélifiant, thêm vào trong thực phẩm để làm đặc và ỗn định.
Thạch agar được phát hiện ở Nhật Bản Japon vào giữa thế kỷ XVIII ème, 200 năm trước khi được nhập vào trong những nước Phương Tây occidentaux.
◦ Đường đa polysaccharide này, có giá trị kinh tế lớn, ngày nay được sử dụng như yếu tố làm đông đặc tự nhiên gélifiant naturel trong những thực phẩm, những sản phẩm dược phẩm pharmaceutiques, những ứng dụng công nghiệp và trong nhiều lãnh vực khác.
▪ Ở Nhật Bản Japon, người ta gọi là «kanten», có nghĩa là «thời tiết lạnh temps froid», đề cập đến những phương pháp sản xuất truyền thống của nguyên liệu này trong mùa đông hiver.
Thạch agar là một gia đình của đường đa polysaccharides công thức thẳng của galactanes thu thập được từ những vách thành của những tế bào hồng tảo algues rouges,
◦ đây là một chất trùng hợp ( đồng phân dị lượng ) sinh học biopolymère được xây dựng trên một mô hình lập đi lập lại của đường disaccharidique ( chứa 2 monosaccharide ) đơn vị của 3 nối β-D-galactose (G) và 4 nối với dư lượng 3,6-anhydro-α-1-galactose (AG), với sự hình thành có thể của sulfate, méthoxyle và / hoặc pyruvate ở những vị trí khác nhau của chuổi đa đường polysaccharidique.
Những dư lượng đầy được hiện diện trên những chuổi đa đường polysaccharidique, những nhóm thay thế thường xuyên nhất là :
- những esters de sulfate,
- và những nhóm pyruvate-cétal.
Những đặc tính của chất đông gel phụ thuộc nhiều vào số lượng và vi trí của những nhóm sulfate cũng như số lượng của phần đoạn 3,6-anhydrogalactose của phycocolloïde.
● Sở đánh bắt ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản aquaculture của Tổ chức lương nông Quốc tế của Liên Hiệp Quốc Organisation des Nations Unies pour l'alimentation et l'agriculture (FAO) đã ghi nhận những đặc tính quan trọng nhất của agar trong năm 1987, như sau :
▪ Sức mạnh lớn làm đông đặc gélifiant trong môi trường nước nó cho phép hình thành những chất đông gels có sức đề kháng cao hơn plus résistants (mạnh hơn) so với bất kỳ những tác nhân lảm đông đặc gélifiant khác, có cùng điều kiện như nhau.
▪ Dung dịch trong nước đơn giản này có sức mạnh làm đông đặc gélifiant. Nó không cần thiết thêm những chất kích hoạt để tạo ra một sự đông đặc gélification, như là potassium K (hoặc những chất đạm protéines cần thiết với những carraghénanes) hoặc calcium Ca ( hoặc những ion cation hóa trị 2 khác divalents, như là cần thiết với những alginates).
Những nồng độ của đường cao hoặc một môi trường acide (như là cần thiết với những chất pectines) là không cần thiết.
▪ Nó có thể được sử dụng trong một phạm vi rộng của độ kiềm pH từ 5 đến 8 và trong một số nhất định trường hợp vượt ngoài giới hạn này.
▪ Nó đề kháng rất tốt với những xử lý nhiệt độ thermiques, thậm chí cao hơn 100 ° C, điều này cho phép sử dụng trong sự khử trùng stérilisation.
▪ Một dung dịch chất đông gel trong nước ở 1,5% giữa 32 và 43 ° C và không tan chảy dưới 85 ° C.
Đây là một đặc tính duy nhất của agar, được so sánh với những tác nhân làm đông đặc gélifiants khác.
▪ Thạch agar cho những chất giống đông gels không hương vị và không cần thiết phải thêm ion dương cations với hương vị mạnh (potassium K hoặc calcium Ca), nó có thể được sử dụng không vấn đề để làm đông đặc gélifier những sản phẩm thực phẩm produits alimentaires với hương vị dịu ngọt.
▪ Nó đồng hóa và cải thiện những hương vị arôme của những sản phẩm khi được pha trộn với nó và nó hành động như một chất cố định hương thơm cho phép nó định hình lâu dài fixation à long terme.
▪ Chất đông gel của nó có một tính đảo ngược réversibilité rất tốt cho phép nó lập đi lập lại đông và nóng chảy nhiều lần mà không mất đi những đặc tính nguồn gốc ban đầu.
▪ Người ta có thể thu được những chất đông gels trông suốt có thể dễ dàng nhuộm màu và có thể thu được chỉ số khúc xạ và cũng có thể dễ dàng gia tăng bằng  cách thêm vào đường sucre, glucose, glycérine, v…v… tạo cho chúng có độ bóng hấp dẫn.
▪ Thạch agar rất cố định, không gây ra một kết tủa nào trong sự hiện diện của một số nhất định ion dương cations, trái với chất alginates trong tảo nâu có chứa calcium Ca.
Những đặc tính làm đông đặc gélifiantes của thạch agar là nguồn gốc của nhiều ứng dụng của nó, nó có một độ bền cao nhất của thạch agar tự nhiên của bất kỳ những yếu tố làm đông đặc gélifiants nào.
▪ Ly trích thạch Agar :
Hiện có nhiều dự thảo ban đầu để trích xuất thạch agar. Tuy nhiên, tất cả đều xuất phát từ một cơ bản chung.
Trích xuất đầu tiên của thạch agar đã được thực hiện một cách vô tình ngẩu nhiên.
Thật vậy, theo một truyền thuyết nhật bản, phương pháp chế tạo lúc ban đầu đã được phát hiện vào một mùa đông năm 1658, khi một sỉ quan người Nhật đến một quán trọ nhỏ.
Người chủ quán aubergiste, Minoya Tarozaemon, đã cung cấp một bữa ăn tối, một món ăn rong biển truyền thống algues traditionnelle, được chuẩn bị bằng cách nấu những rong biển algues Gelidium với nước.
Sau bữa ăn tối, người chủ quán vứt đổ những những thức ăn dư thừa chất đông ra bên ngoài trời.
 Chất đông được đông đặc thành đá trong thời gian ban đêm sau đó, người ta làm tan băng và phơi khô dưới nắng mặt trời, để lại một dư lượng khô màu trắng trông đục.
◦ Khi những thứ này được đun sôi trong nước và để nguội, nó tạo ra một chất đông trông đục hơn lúc đầu của nó và do đó, phương pháp trích xuất và làm tinh khiết của thạch agar đã được khám phá một cách ngẩu nhiên.
Một giao thức chung protocole général, từ nhiều thử nghiệm và nghiên cứu mang lại được tiến hành trong suốt nhiều năm, bao gồm nhiều giai đoạn có thể dưới dạng biểu đồ như sau :
- thu hoạch, sấy khô những rong biển, tiền xử lý ( quá trình alcalin), trích xuất, lọc, làm đông đặc gélification, làm trắng, rửa sạch, làm đóng băng / tan băng, rửa sạch, sấy khô, nghiền nát và thu được sản phẩm cuối cùng.
◦ Việc thu hoạch, tùy thuộc vào sinh khối tối đa biomasse maximale sản xuất, được thực hiện trong những thời kỳ khác nhau trong năm.
Những rong biển từ những nền móng tự nhiên và những những cánh đồng nuôi trồng, chủ yếu vào mùa xuân và mùa .
Sau khi thu thập, những rong biển có thể được sấy khô hoặc bằng nắng mặt trời hoặc bằng một máy sấy.
Liên tiếp, những rong biển được xử lý trước với những chất kiềm alcalis (được sử dụng duy nhất cho những rong biển có chứa thạch agar agarophytes của giống Rong rau câu Gracilaria).
◦ Tiền xử lý bao gồm sự sử dụng khác nhau của những nồng độ của dung dịch hydroxyde de sodium, chuyển đổi L-galactose-6-sulfate thành 3,6-anhydro-L-galactose.
Xử lý này, không phải lúc nào cũng được sử dụng, ảnh hưởng cho cả 2 năng xuất và phẩm chất tốt cứng dai của thạch, kết cấu của thạch vững chắc, năng xuất của thạch thấp.
▪ Trích xuất thường đuợc tiến hành trong nước nóng (2-4 giờ) ở 95-100 ° C, dưới áp suất pression.
Một sự lọc nóng để loại bỏ những những vật liệu không tan trong nước. Dung dịch sau đó được làm nguội ở nhiệt độ trong phòng để cho phép quá trình của sự đông đặc gélification.
Chất đông gel được hình thành từ từ đông lạnh để phát triển thành những tinh thể lớn gros cristaux của nước đá glace, kế đó làm tan đá để loại bỏ lượng nước dư thừa.
Quá trình nầy gọi là đông băng / làm tan băng và là một phương pháp được sử dụng nhiều nhất để khử nưóc chất đông gel.
◦ Sự ép áp xuất cũng được sử dụng để gia tăng dung lượng của nước ép, cô đọng thạch agar đến 10-12%.
Quá trính ép áp xuất sử dụng một cách để trục xuất chất lỏng synérèse, khử nước chất đông gel.
Một ép áp xuất cơ học của 5-10 kg / cm2 được áp dụng dần dần trên chất đông gel.
▪ Những kết quả của ép áp xuất trên chất đông gel có hiệu quả hơn quá trình làm đóng băng congélation / làm tan băng décongélation và cho những bánh đậm đặc hơn, có thể được sấy khô hiệu quả hơn.
Sau khi cô đặc, những dảy thạch agar hoặc những vảy nhỏ  thạch flocons d'agar được sấy khô với không khí nóng và nghiền nát với kích thước mạng lưới thích hợp, thường từ 80 đến 100 mesh (100 từ 150 µm).
Thạch agar được bán trong thương mại cho cả 2 dảy dài và dạng bột, tùy thuộc của sự ứng dụng cuối cùng của sản phẩm.
Thậm chí phương pháp truyền thống trích xuất bởi thạch agar cho một sản lượng tốt, nhiều tác giả đã thử qua trong những năm qua đã cải thiện bằng cách thử nghiệm những sửa đổi khác nhau của giao thức chung protocole général với so sánh những kết quả tốt.
Một trong những tiếp cận mới nhất để trích xuất của những polysaccharides bao gồm việc sử dụng những lò vi sóng micro-ondes, như theo báo cáo Francavilla và al.
Trong nghiên cứu tìm kiếm này, nó đã cho hthấy rằng giao thức của trích xuất được đề xuất có hiệu quả nhất và ít nhàm chán hơn so với giao thức trích xuất cổ điển.
Thực phẩm và biến chế :
Rong biển algue này được nuôi trồng để trích xuất lấy thạch agar-agar, nó cho phép sản xuất ra hydrocolloïde và như một phân bón cho việc nuôi trồng thủy sản fruits de mer.
▪ Làm thế nào để sử dụng tốt thạch agar-agar ?
Thạch agar-agar được có sẵn dưới dạng bột poudre, những mảnh nhỏ flocons, những thanh hoặc những sợi.
Để mà sử dụng tốt, người ta làm tan chảy trong nước đun sôi và làm nguội mát, một chất đông sẽ được hình thành.
Như vậy, người ta có thể sử dụng cho bánh kẹo thạch confection de gelées, mứt confitures, kem crèmes, mousses, sorbets, kem lạnh crème glacée, bánh poudings, terrines và bánh kẹo confiseries.
▪ Thạch agar-agar có một sức mạnh làm đông đặc gélifiant từ 8 đến 10 lần hơn chất gélatine, vậy nó có thể khéo thay thế nó, nhưng mà cẫn thận giảm liều lượng.
Ở những người ăn chay végétariens, agar-agar thay thế chất gélatine có nguồn gốc của động vật .

Nguyễn thanh Vân