Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

vendredi 18 mai 2012

Cây Say - Velvet Tamarind - Mak kham phep


Velvet-tamarind (English)
Mak kham phep
Cây say
Dalium cochinchinense Pierre
Caeasalpiniaceae - Fabaceae
Đại cương :
Cây Velvet tamarind là một loài thực vật nhiệt đới có nguồn gốc từ miền nam Thái Lan và Malaysia. Thuộc họ Fabaceae, có trái nhỏ giống như trái nho về kích thước, trái có nạc ăn được. Cây say cho gổ cứng, có vân đẹp, Cây say là một giống thực vật bị đe dọa bởi môi trường bị xâm chiếm do sự khai thác gỗ và nhu cầu giải quyết của con người. Người ta không có một con số cụ thể của sự tái sinh, nuôi trồng và những thông tin còn hạn chế nhiều.
Hương vị của say có vị tương tự như me, như tên gọi Velvet tamarind để chỉ cây say. Ở Thái Lan gọi “ Luk Yee ” hay “ Yee ” và ở Mả Lai tên gọi là “ Keranji ”. Tại Thái Lan thường sử dụng làm một thức ăn như kẹo bonbons, thường người ta sấy khô và áo đường với ớt..
Trái say, có một vỏ cứng bên ngoài phẳng, màu nâu mịn như nhung, bên trong chứa 1 đôi khi 2 hạt, hạt được bao bên ngoài một lớp nạc chua ngọt.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Thái Lan và Malaysia
Mô tả thực vật :
Cây say là một loài thực vật bán thay lá, cao 30 – 35 m với thân cây có gổ cứng và có giá trị cao. Có thể tăng trưởng cao khoảng 40 m với đường kính khoảng 50 đến 100 cm, .
Vỏ màu trắng xám, phần trong vỏ có vân tím mịn chứa nhiều mủ đỏ.
Cành non mảnh, có 4 cạnh, hơi có rảnh, có lông.
, lá kép lẻ một lần, mọc cách theo vòng xoắn, lá phụ mọc cách gồm 4 – 7 lá chét hình xoan, kích thước 1,5 – 4,5 cm, hình bầu dục đến hình xoan, đỉnh hơi nhọn, phần dưới tròn hơi ngiêng không đối xứng, bìa lá nguyên, có lông mịn ở 2 mặt.
Gân lá phẳng ở bên trên, một gân chánh, gân thứ cấp xiêng so với gân giữa, rộng và song song, các gân phụ kết thành mạng lưới. Gân giữa dài 10 cm. Lá bẹ nhỏ, rụng sớm.
Phát hoa, hay hoa : hoa trắng nhỏ 6 mm dài, hợp thành nhóm, gié dài khoảng 10 cm, ở đầu hay ở nách lá, hoa lưỡng phái, cuống nhỏ ngắn 5 mm, có lông mịn.
Trái, có vỏ bọc ngoài mỏng giòn, hình trứng, kích thước 20 mm đến 30 mm x 15 mm đến 20 mm x 8 mm, mỏng, có lông mịn như nhung, khi còn non màu xanh lá cây sáng, trở thành đen khi chín, bên trong chứa 1 hoặc 2 hạt.
Hạt : có từ 1 đến 2 hạt mỗi trái, mở theo chiều dọc, bên trong bao bởi một lớp cơm nạc màu nâu, có vị chua khi chín, màu trắng khi còn non, trở nên nâu đỏ khi trưởng thành.
● Mùa hoa tháng 6.
● Mùa quả tháng 9 - 10.
● Phân bố ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Ở Việt Nam, gặp từ Nghệ An trở vào đến các tỉnh đồng bằng Miền Nam, trong các rừng ẩm có độ cao dưới 1.000 m so với mặt nước biển, trên nhiều loại đất khác nhau. Khả năng tái sinh mạnh dưới tán rừng.
Quả được sóc, khỉ, chim phát tán rộng rãi. Gỗ có xớ mịn, thẳng, cứng, màu trắng có các vân vàng hay nâu đỏ, chịu ẩm và mối mọt, thuộc loại gỗ quý, dùng trong xây dựng.
Quả ăn được, có vị chua.
Bộ phận sử dụng :
Trái dùng trong thực phẩm, gổ dùng trong xây dựng.
Thành phận hóa học và dược chất :
Những acide hiện diện trong trái là:
- tartrique,
- citrique,
- ascorbique
- và acides malique.
● acide tartrique gia tăng đến mức tối đa là 2,75% trong 11e tuần lể  
● và sau đó giảm đến 1,67% trên trái cây trưởng thành chín.
● hàm lượng acide citrique luôn vẫn còn  là 0,67%  và 0,77% hầu hết mọi khi.
● acide malique chỉ phát hiện ở tuần lể thứ 7e và 9e .
Trong khi :
- acide ascorbique chỉ hiện diện trong trái cây chín trưởng thành (145mg/100g).
● Thành phần nguyên tố khoáng trong trái cung cấp lượng lớn :
- muối sodium Na,
- magnésium Mg,
- potassium P
- lượng ít sắt Fe,
- và kẽm Zn, 
● Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, Trái Say là nguồn thực phẩm tốt cho chất dinh dưởng vi lượng như :
- calcium,
- fer,
- acide ascorbique,
- phosphore
- và B-carotène.
● Vỏ say giàu chất :
- tanin.
Đặc tính trị liệu :
● Trái cây say là một trái sống trong thiên nhiên, hoang dại, không lấy làm ngạc nhiên lắm :
- chứa lượng chất đạm protéine thấp,
- chất xơ dạng thô cao vừa phải.
Nên chúng có thể giúp đở giảm nồng độ cholestérol trong máu.
● Cây say được sử dụng trong y học để chữa trị :
- chống tiêu chảy,
- và những bệnh vể siêu vi khuẩn virales.
● Vỏ cây say và lá có những đặc tính y học và được dùng để chống nhiều bệnh.
Ở những trẻ em miền nam phía đông Nigeria, ăn những lá non cây say như légume hoang.
Ứng dụng :
Trái say, là một trái ăn được, có một hương vị tương tự như me.
● Thường được sử dụng để chế biến thành những món ăn hoặc trong nghệ thuật nấu ăn để có một vị chua ngọt.
● Vỏ cây chứa nhiều chất tanin nên được dùng để thay trầu cau.
► Ở một số vùng thuộc Cao Nguyên Việt Nam, các cụ cao tuổi thường ngâm quả say chín đã bóc vỏ, lấy cơm để ngâm với rượu 25-300. Để càng lâu càng tốt.
Ngày uống 2 lần. mỗi lần một chung nhỏ trước bữa ăn để :
- làm thuốc bổ,
- kích thích tiêu hoá
- và làm ngon miệng.
► Cơm quả say chế biến thành cao có tác dụng nhuận tràng.
● Cách chế biến như sau : Lấy 100 g cơm quả say, nghiền nát với nước. Lọc, lấy nước, rồi dùng dung dịch lọc nấu cô động lại với lửa nhỏ đến khi thành cao mềm.
Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 4-8 g.
Thực phẩm và biến chế :
● Cơm nạt trái say, có hương vị chua ngọt, nên người ta bóc vỏ ăn sống, nhưng có thể gây ra ít nhiều táo bón ở những vùng Tây Ninh Việt Nam và nhiều vùng ở Thái Lan.
● Có thể ngâm trong nước, biến chế thành nước giải khát.
● Lá say đắng, có thể được sử dụng để nấu những món ăn “ domoda ”, một món ăn của người Ghana, có vị ngọt và đắng.


Nguyễn thanh Vân

mardi 15 mai 2012

Cây Cúc bất tử - Tanaisie


Tanaisie
Cây Cúc bất tử  
Tanacetum vulgare L.
Astéraceae
Đại cương :
Từ Hy lạp “ Athanasia ”, “ bất tử, Cây Tanaisie được đặt với tên gọi do độ bền của hoa, một khi hoa khô và có thể tìm thấy nơi khác dưới dạng một đóa hoa trang trí. Nơi cây này người ta cũng tìm thầy những tính dược, nhánh gốc tạo nên một thân thẳng, ít phân nhánh, rỗng có thể đạt đến 1 m chiều cao. Lá rất thơm, người ta dùng rau mùi.
Tanaisie mang những lá thơm, mọc cách, lá răng, màu đậm, hoa vàng tụ tán rất đẹp.
Dùng tay vò nát lá tanaisie, phát ra một mùi thơm như long nảo nên cây được gọi “ Cây mùi thơm phức ”.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Tanaisie hiện diện ở Âu Châu, ngoại trừ ở những khu vực Địa trung hải, lên đến 1500 m, chúng mọc đầy trong những đồng cỏ, đất hoang, bìa rừng. Sự phát tán của Tanaisie nhờ hạt nên trải rộng khắp nơi.
Mô tả thực vật :
Cây cao 40 - 120 cm, thẳng, ít phân nhánh, bắt đầu trổ hoa tháng 6 cuối tháng 9 hết.
đơn có phiến xẻ rất sâu 100% dạng chân vịt, không cuống, thành thùy nhọn, mọc cách, bìa có răng cưa tròn, màu xanh lá cây đậm.    
Hoa, tản phòng kép kích thước 1 – 5 mm, đối xứng ở trung tâm, hoa hợp cánh gamopétales, hoa có 2 dạng khác nhau,
Hoa đầu, khít nhau, hoa ở ngoài cái, hoa bên trong đực, cánh hoa 4-5, đài hoa 4-5, 5 nhụy đực, phát hoa tản phòng,
Trái 1 – 3 mm, bế quả akène, có 5 cạnh,
Bộ phận sử dụng :
Lá, hoa.
Thành phận hóa học và dược chất :
Cây bất từ tainaisie có thành phần hóa học như sau :
- acide citrique,
- acide gallique,
- acide tanacétique,
- butyrique,
- huile essentielle (thuyone) lipides,
- oxyde de plomb,
- potassium,
- résine,
- stéarine,
- tanin,
- vitamine C
Tanacetum, nằm trong thành phần của Bénédictine ( Bénédictine là một loại rượu giúp tiêu hóa, sản xuất tại Fécamp vùng Normandie.
Những công ty sản xuất thuộc Pháp của nhóm Bacardi-Martini France )
Đặc tính trị liệu :
- tiêu hóa digestive,
- dịu đau, trấn thống emménagogue,
- thuốc trừ sâu insecticide,
- làm mát rafraîchissante,
- trục giun sán vermifuge  
Dược thảo trị liệu : 
● Cây Tanacetum được biết đến rất nhiều nhờ ở đặc tính trừ giun sán của nó :
Với mục đích này người ta sử dụng hoa tanacetum, với tĩ lệ 1 muỗng cà phê ngâm trong nước đun sôi.
Dùng 1 tách vào buổi sáng và 1 buổi tối cho đến khi nào giun sán biến mất thì thôi. Liều thuốc dùng cho trẻ em là ½ liều hay ít hơn, tùy theo trọng lượng đứa trẻ.
Hiệu quả áp dụng cho loài ký sinh “ Oxyures ” và “ ascarides ”.
● Những người dân quê có thói quen sử dụng bào chế một loại rượu, dùng một chung nhỏ để hổ trợ dể dàng tiêu hóa. Họ bào chế bằng cách ngâm 1 muỗng cà phê “ bông ” và 1 ít lá ( vài lá thôi ) trong 1 chai “ ruợu mạnh ” “ eau-de-vie ”
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng Tanacetum, là một thực vật có độc tố, có thể có hậu quả nghiêm trọng.
● Sử dụng Tanacetum, bất cứ hình thức nào cũng đều tuyệt đối cấm phụ nữ mang thai bởi vì nó có thể làm trụy thai, hư thai.
● Hoạt động độc chất của cây không thể xem nhẹ, thậm chí có phù hợp cho một cá nhân, bởi vì không phải là khó khăn để đi đến tử vong, với chất này có thể gây ra liệt trung tâm thần kinh.
● Với một liều cao, làm co giật và là chất độc.
Ứng dụng :
- Trong đời sống hằng ngày, người ta treo cây ở cửa ra vào hay cửa sổ để tránh ruồi,
- Trong những nơi nuôi chó, để làm cho bọ chét puces tránh xa.
- Trong tủ đựng quần áo để loại côn trùng “ sâu bướm ” ăn quần áo tránh xa. ( Sâu này có tên Tineola bisselliella, được gọi là “ sâu bướm quần áo ”, có kích thước khác nhau từ 7 đến 10 mm, hoặc ít hay hơn, thuộc họ Tineidae, đây là loại côn trùng kératophages, phân hũy sinh học có khả năng làm hư hỏng suy giảm chất sừng kératin, một loại protéin có trong tóc, lông và trong lớp biểu bì động vật ).
● Ngâm lá hay hoa trong nước đun sôi ( 5 g cho 1 tách nước sôi, ngâm trong 5 phút ).
- Là một loại thuốc trục giun sán tuyệt vời.
Uống buồi sáng bụng đói, và buổi tối trước bữa ăn, trong vài ngày.
● Lá tươi nghiền nát, thành dạng bột nhảo đấp lên chỗ sưng ở vị trí dạ dày của trẻ em đủ để loại bỏ giun đường ruột.
● Ngâm trong nước sôi lá, bào chế thành kem ( lotion ) dưởng da rất tốt.
● Thuốc dán nóng chế tạo từ lá chữa trị :
- chống đau khớp xương,
- viêm sưng,
- tĩnh mạch trướng .
● Bào chế rượu Tanaisie : (± 60 g. cây Tanaisie cho 1 lít rượu tốt. Ngâm trong 1 tuần lể, lọc qua vải ).
Uống 1 ly sau bữa ăn,
Là một chất kích thích,
- thuốc bổ trên các cơ quan tiêu hóa, một chất khử trùng và lợi tiểu.   
Thực phẩm và biến chế :
Sử dụng chánh trong thực phẩm của tanaisie như một gia vị cho mùi thơm.
Lá Tanaisie được cắt nhỏ thêm vào trứng chiên, thức ăn tráng miệng , thức uống, trà ….
► Vấn đề đặc ra, phải cẩn thận với một liểu lượng lớn Tanaisie là một độc tố, vì thế cho nên người ta chỉ sử dụng làm gia vị cho mùi thơm mà thôi.


Nguyễn thanh Vân

dimanche 13 mai 2012

Cây rau trai - Dayflower


Dayflower
Rau trai – Rau thài lài
Commelina communis L.
Commelinaceae
Đại cương :
Commelina l à một giống khoảng 170 loài thường được gọi là “ dayflowers ” lý do ở đặc tính đời sống ngắn ngủi của hoa. Ngoài ra còn có tên là “ widow’s tears ”, nhưng ít ai biết đến.
Việt Nam thường gọi tên “ rau trai ”. Đây là giống lớn nhất của họ Commelinaceae.
Chúng có đặc tính là hoa lưỡng trắc zygomorphes và những lá hoa gọi là “ mo ” bao quanh thân của hoa.
Những mo này thường chứa đầy những chất nhờn, mỗi mo có một hay hai chùm hoa dạng “ bò cạp ”, những chùm hoa bên trên hoặc một vệt dài hoặc mang 1 đến nhiều hoa đực, trục bên dưới gié có nhiều hoa.
Rau trai Commelina communis, có lẽ là một loài biết nhiều ở phương Tây, đây là một loài cỏ dại mọc khắp nơi ở Âu Châu và miền đông Bắc Mỹ. Một vài loài như Commelina benghalensis, được ăn như rau lá trong khu vực Đông Nam Á và Châu Phi.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Rau trai Commelina communis là một cây sống lâu năm hay một năm có thể đến 0,8 m. Mọc rất khỏe và lan rất nhanh do sự nảy chồi trên thân và từ đó mọc rể tiếp xúc hoặc không tiếp với đất.
Cây thích môi trường cát pha trộn trung bình chất bùn và cần thiết môi trường phải thoáng và thoát nước. Cây rau trai thích môi trường acide, trung tính hay kiềm. Rau trai có thể phát triển trong bán bóng râm (ánh sáng rừng ) hoặc không có bóng râm. Ít đòi hỏi ẫm ướt hoặc khô.
Thân : Thân thảo, gần như không lông, cao 50 cm, bắt đầu phát triển rau trai mọc đứng, về sau với đặc tính thân yếu mập nước nên trở thành bò. Láng có lông mịn ở nơi đốt, thường có những rể ở mắt dù tiếp xúc với đất hay không
Lá : Lá hình xoan dài 3 đến 5 cm dài và 1 đến 2 cm ngang, mặt dưới có sáp, lông màu trắng ở mặt trên, bẹ cao có rìa lông ở miệng, mọc cách.
Phát hoa : Ít hoa ở chùm.
Hoa: Lưỡng tính, cơ quan đực và cái cùng nằm trên một hoa, 3 cánh hoa, kèm bởi lá hoa hình mo, 1,3 – 3 cm dài, mở ra bên trên và cũng kéo dài xuống mặt sau nơi bao lấy thân, thường thường màu lam với những gân màu xanh sẩm hơn, thân bẹ 6,6 cm dài trên 2 cánh hoa lớn hơn màu xanh, dưới cánh hoa nhỏ hơn và trắng, nhụy hoa 6 gồm 3 thụ và 3 bất thụ.
Trái : Viên nang, 2 phòng, 1 hay 2 hạt cho mỗi phòng.
Bộ phận sử dụng :
Toàn cây
Thành phận hóa học và dược chất :
Rau trai dayflower, Commelina communis L., chứa :
-1-désoxynojirimycine (DNJ)
- và (2R, 3R, 4R, 5R) 2,5-bis (hydroxyméthyl) -3,4-dihydroxypyrrolidine (DMDP),
- alpha-glucosidase chất ức chế mạnh inhibiteurs.
Dung dịch trích và bột của rau trai là những nguyên liệu thực phẩm quan trọng để dự phòng chống lại bệnh tiểu đường loại 2.
● 11 glycosides flavonoïdes , những chất chống oxy hóa antioxydants,
- isoquercitrine,
- isorhamnétine-3-O-rutinoside,
- isorhamnétine-3-O-bêta-D-glucoside,
- glucoluteolin,
- chrysoriol-7-O-bêta-D-glucoside,
- orientine,
- vitexine,
- isoorientin,
- isovitexine,
- swertisin,
- và flavocommelin,
đã được xác điịnh từ phần trên không của rau trai  Commelina communis .
Hoạt động chống oxy hóa được đo lường bởi thí nghiệm trong phòng thí nghiệm những 1,1-diphényl-2-picrylhydrazyl gốc tự do và chất tuyệt hảo oxy hóa nhặt rác gốc tự do.
 Những kết quả cho thấy rằng :
- glucoluteolin,
- orientine,
- isoorientin,
- và isoquercitrine là  có xu hướng chống oxy hóa trong cây rau trai.  
Hơn nữa, những chất :
- isoquercitrine,
- isorhamnetine-3-O-rutinoside,
- vitexine,
- và swertisin ức chế hoạt động của alpha-glucosidase của ruột ở chuột.
Theo sự điều tra hiện nay được biết :
Rau trai Á Châu có chứa ít nhất 6 hợp chất hoạt động :
Một trong số đó có chất p-hydroxycinnamique, cho thấy có hoạt động:
- kháng khuẩn,
Trong khi chất khác D-mannitol, có hiệu quả:
- chống ho.
● Rau trai Commelina communis cũng được sử dụng như một mô hình tổ chức trong sinh lý thực vật và sự phát triển của cây trong một mức độ hạn định, đặc biệt bởi mối quan hệ sinh lý học của những “ khí khổng ” và sinh học phát triển của những sắc tố pigmentation.
Ví dụ như sắc tố màu xanh dương của cánh hoa rau trai Á châu đã cho thấy bao gồm một phức tạp rất lớn của :
- 6 anthocyanines,
- 6 flavones,
- và 2 kết hợp giữa ion magenesium.
Chứng minh rằng những phức tạp của những siêu phân tử “ đồng sắc tố copigments ” và nhiều kim loại chélates để xác định cho ra màu của cánh hoa.
Các nghiên cứu trên cây rau trai giúp đở giải thích hệ thống tiếp nhận ánh sáng  trong những cây rau trai như để trả lời khí khổng với ánh sáng xanh đối với quang phổ ánh sáng đỏ, sự tiếp nhận acide abscissique và đóng vai trò truyền tín hiệu tế bào, bởi đặc biệt liên quan đến vai trò chất hóa học trong chức năng của khí khổng, vai trò của “ vanadate ” ( một hợp chất của Oxoanion và Vanadium thường thường độ oxy hóa cao ) trong sự ức chế của sự mở khí khổng, và cần thiết của calcium trong sự đóng khí khổng,
Sự sử dụng thông thường trong những nghiên cứu khí khổng là do những lá tạo ra những lớp tế bào biểu bì đặc biệt, những lớp tế bào này luôn luôn dày.
Đặc tính trị liệu :
Rau trai Commelina communis có những đặc tính sau :
Tính hàn, Vị hơi đắng, ngọt,
- kháng khuẩn antibactérien;
- làm se astringent;
- lọc máu dépurative;
- lợi tiểu Diurétique;
- hạ sốt fébrifuge.
- giải nhiệt,
- chống lại tác dụng độc hại.
- giải độc.
- chữa lành sưng.
Lá rau trai có đặc tính :
- lọc máu dépurative,
- lợi tiểu diurétique
- hạ sốt fébrifuge.
- và được sử dụng như dung dịch súc miệng để giảm đau cổ họng và nhiễm hầu hạch ( hạch 2 bên cổ họng ) amygdale .
Chủ trị :
- Nhiễm trùng cổ họng
- nhiễm trùng  đường hô hấp trên,
- cảm sốt rét,
- viêm thanh quản,
- viêm kết mạc.
- tiểu khó.
- nhiễm trùng đường tiểu,
- viêm thận với phù nề hay phù thũng,
- Cổ trướng ascite,
- bệnh lậu blennorragie.
- Carbuncle,
-  phun trào da éruption cutanées.
- rắn và côn trùng cắn,
- nhọt và áp xe.
Ứng dụng :
► Nấu sắc cây rau trai sấy khô được dùng để chữa :
- xuất huyết hémorragie,
- sốt,
- tiêu chảy ….
► Dung dịch ly trích của cây cho thấy rau trai có tính kháng khuẩn .
Ở Trung quốc, rau trai được dùng như một loại dược thảo với đặc tính :
- hạ sốt,
- chống viêm,
- và lợi tiểu.
- viêm họng,
- viêm hạch hầu hạch ( hạch 2 bên cổ họng, thường hay viêm sưng ) .
● Nấu sắc : Toàn bộ cây rau trai 30 – 60 g tươi, hay 15 – 30 g khô.
● hoặc với lượng thích hợp tươi nghiển nát để đắp bên ngoài.
Ở Trung Quốc và Ấn Độ, rau trai cũng được dùng ăn như légume cho người và thức ăn cho gia  cầm.


Nguyễn thanh Vân

vendredi 11 mai 2012

Cây Đậu nành - Soya


Soya
Đậu nành
Glycine hispida (Moench) Maxim.
Glycine max (L.) Merr.
Fabaceae
Đại cương :
Danh từ đậu tương soybean ( US ) hay sya bean ( UK Anh ), là một thực vật họ đậu Fabaceae có nguồn gốc ở Đông Nam Á, được trồng rộng rãi để lấy đậu. Cây đậu nành được xếp vào một thực vật có chứa dầu.
Đây là một chất béo đã khử mỡ, bột đậu nành là một nguồn đạm đáng kể cho thức ăn chăn nuôi và nhiều món ăn đóng gói sẳn, dầu đậu nành thực vật và những sản phẩm khác chế biến thu được của đậu nành.
Thí dụ, những sản phẩm đậu nành như những kết cấu đạm protéine là những thành phần hiện diện trong thịt và tương tự trong sản phẩm sửa. Những sản phẩm đáng kể nhiều đạm protéine hơn cho mỗi mẫu so với những giống khác sử dụng trên đất.
Thực phẩm không lên men truyền thống dùng những hạt đậu nành bao gồm sữa đậu nành, và đậu hũ, đậu hũ ky ( tofu skin ). Thực phẩm lên men bao gồm nước tương, đậu hũ lên men, một số sản phẩm khác. Dầu đậu nành được dùng ứng dụng trong công nghiệp. Trong thủ công sản xuất chính của đậu nành: Mỹ 35%, Brésil 27%, Argentine 19%, Chine 6% và Ấn Độ 4%. Những hạt đậu nành chứa lượng quan trọng :
- acide phytique,
- acide alpha-linolénique,
- isoflavones génistéine
- và daidzéine
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ nhất niên, cao 0,5 – 1 m.
Thân thân lá hoa trái có lông cứng vàng.
mọc cách, hình lông chim, 2 lá đầu tiên mọc đối, lá kép gồm 3 lá phụ không đều nhau, hình bầu dục dạng hình thoi hay hình xoan gần như tròn, thon dài 3 – 12 cm, lá bẹ 3 đến 7 mm.
Chùm hoa giống bàn chải, mọc ở nách lá, dài 1 – 2 cm, hoa nhỏ, 5 – 26 hoa, không mùi, tràng hoa có vành hoa giống hình bướm, dày, tím hay trắng, dài 5 mm, 5 răng 2 trên dính nhau, nhụy đực 10 trong số có 9 nhụy dính nhau và 1 tiểu nhụy rời.
Rể cái thô, từ gốc tương đối ngắn với nhiều rể phụ bên lan rộng và sâu khoảng 2 m
Trái đậu nành. Quả thẳng, cong hình lưỡi liềm, phẳng, có lông dài 5 cm, màu từ xám sáng đến xám tối. Số lượng hạt trong trái từ 1 đến 4, thường thường là 3. Số lượng trái trên một cây tùy thuộc vào dân số của thực vật, cung cấp chất dinh dưởng và độ ẩm. Trong những mẫu đất trồng dày đặc, sản lượng cây 10 đến 15, và cây trồng thưa thớt và đất đay mầu mỡ có thể lên đến 300 – 400 trái đậu.
Hạt hình cầu, bầu dục, phẳng có hạt giống như quả thận. Màu hạt thay đổi có màu sắc khác nhau đen nhạt, nâu và xanh lá cây. Trọng lượng tính 1000 hạt tính bằng gramme trong khoảng 60 đến 400 gr, hạt bao gồm vỏ và phôi, trong đó có 2 tử diệp và chồi mầm với một cột sống gồm thân thô sơ và lá.
Bộ phận sử dụng :
Hạt
Thành phận hóa học và dược chất :
● Thành phần 100 gr phần ăn được gồm năng lượng, chất dinh dưởng, nguyên tố khoáng và vitamine :
- năng lượng Calories 422
- Chất đạm protéine 35 g.
- đường glucides 30 g.
- chất béo 18 gr.
- chất xơ fibres 5 gr.
- những vitamines E, B1 và B2.
- Nguyên tố khoáng :
▪ calcium Ca 226 mg,
▪ magnésium Mg,
▪ iode I,
▪ phosphore P 546 mg,
▪ potassium K
▪ và sắt Fe 8,5 mg.
- Vitamine :
▪ B1 0,66 mg
▪ Β2 0,22 mg
▪ Niacine 2,2 mg
 Sự tiêu dùng đậu nành, một légume rất thông dụng trên thế giới.
● Hạt đậu nành chứa trung bình :
- 36-42% chất đạm cần ích.
● Và những chất chánh như :
- nước  10 % ,
- casein hòa tan trong nước 30 %;
- albumen  0.5 %;
- casein không tan trong nước 7 % ,
- chất béo 18 %;
- cholesterin, v..v.. 2 %;
- dextrin 10 %;
- tinh bột  amidon  5 %;
- cellulose  5 %;
- tro  5 %;
- vết của đường và các hợp chất của amidon ( Stingi and Morawski (Monatsschrift fur Chemie, April, 1886)
● Bao gồm chất có số lượng ít gọi vi lượng :
- globuline
- và albumine,
- Tinh dầu 19-22%
- và 30%  glucides.
Chất đạm protéine có tính tiêu hóa cao, khả năng tan trong nước :
● Trong 1 kg hạt đậu nành :
- 320-450 grammes chất đạm protéines,
- 21 g chất lysine,
- 4,8 g méthionine,
- la cystine
- 4,9 g de tryptophane.
Người ta đã xác định trong đậu nành có một tác nhân gây ra sự lên men rất mạnh tác dụng lên tinh bột amidon, biến 2/3 thành đường glucose và 1/3 thành đường dextrine.
▪ Đậu nành đã được đề xuất như một thực phẩm cho bệnh tiểu đường, nhưng chúng lại có chứa 25 % đường glucose.

Thành phần hóa học và dinh dưởng của hạt đậu nành.

● Chung tất cả, dầu đậu nành và hàm lượng những chất đạm khoảng 60 % của hạt đậu nành khô :
- chất đạm protéine  40%
- và tinh dầu  20%.
Phần còn lại là hàm lượng chất :
- đường glucides 35%
- và khoảng 5% tro .
Giống đậu nành hiện diện khoảng 8% vỏ hạt, những tử diệp 90% và 2% trục hypocotyle hay mầm.
Phần lớn chất đạm protéine của đậu nành là một protéine dự trữ tương đối đã ổn định nhiệt lượng. Sự ổn định nhiệt nầy cho phép những thực phẩm căn bản là đậu nành cần thiết phải đun nấu ở nhiệt độ cao, như đậu hũ, sữa đậu nành và những kết cấu chất đạm protéine ( như bột đậu nành ) được thực hiện.
Những glucide hòa tan chánh của hạt đậu nành trưởng thành là :
▪ saccharose disaccharide ( khoảng 2.05 đến 8.02 % ),
▪ raffinose trisaccharide ( 0,1 đến 1,0 % ), gồm 1 phân tử saccharose kết nối với 1 phân tử galactose.
▪ và stachyose tétrasaccharose ( 1,4 đến 4,1 % ) gồm 1 phân tử saccharose kết nối với 2 phân tử galactose.
Trong khi raffinosestachyose oligosaccharides bảo vệ sự sinh tồn của đậu nành trong thời gian xấy khô. Những chất này không phải là đường tiêu hóa và do đó chúng đóng góp cho những chứng :
- đầy hơi và khó chịu ở bụng cho người và thú vật có dạ dày 1 túi, so sánh với tréhalose disaccharides.
● Những oligosaccharides không tiêu hóa được cắt chia thành từng mảnh nhỏ trong dạ dày bởi những vi sinh vật bản địa tức những vi sinh vật đặc thù trong dạ dày, sản xuất cho ra những hơi gaz như :
- Dioxyde de carbone,
- hydrogène ,
- và méthane.
Như những glucides tan trong nước có thành phần căn bản đậu nành được tìm thấy trong lactosérum và chúng phân hũy trong lúc lên men của :
- lượng đậu nành đậm đặc,
- những phân lập protéine của đậu nành,
- đậu hũ,
- nước tương ……
Mặt khác, có thể có những hiệu ứng có ích cho việc tiêu hóa oligosaccharides như raffinose và stachyose, cụ thể là khích lệ những vi khuẩn bifidobactéries có nguồn gốc sống trong ruột chống lại những vi trùng hư thối mục nát.
Các glucides không hòa tan trong đậu nành gồm những :
- cellulose là những polysaccharides phức tạp,
- hémicellulose
- và pectine.
Phần lớn những glucides của đậu nành có thể được phân loại như thức ăn có xơ .
● Trong dầu đậu nành hay phần chất béo của hạt đậu nành có chứa :
- phytostéroles : stimastérole ( 17 – 21 % )
- sitostérole (53 – 56 % )
- và campestérole ( 20- 23 % ) như vậy chiếm 2,5 % phần chất béo trong đậu nành.
Để tiêu dùng cho người, đậu nành phải nấu chín với « nước, ẩm » với nhiệt độ để giảm những tác nhân ức chế trypsine ( sérine protéase là tác nhân ức chế ).
● Hạt đậu nành nguyên sống bao gồm những hạt còn xanh chưa trưởng thành : là những chất độc cho người, cho gia súc heo, gà, trong thực tế cho tất cả những loài động vật có dạ dày 1 túi.
Đậu nành được xem như lợi ích cho tất cả cơ quan trong cơ thể bởi có những protéine hoàn chỉnh.
Một protéine hoàn chỉnh là protéine có chứa những lượng đáng kể của tất cả các acides amines cần thiết để cung cấp cho cơ quan con người lý do cơ thể con người không khả năng tổng hợp đúc luyện.
Vì lý do đó , đậu nành là một nguồn tốt protéine, cho nhiều người khác nhau, cho những người ăn chay tuyệt đối và những người ăn chay tương đối hay cho những muốn giảm lượng thịt cá khi ăn .
Theo AFD ( Administration US Food and Drug ), Sản phẩm chất đạm của đậu nành có thể thay thế tốt cho những sản phẩm có nguồn gốc động vật, bởi vì, trái ngược với những đậu khác như đậu haricots, đậu nành hiện diện một thành phần “ đầy đủ ” những chất đạm protéine.
Sản phẩm của chất đạm đậu nành có thể thay thế thức ăn có nguồn gốc động vật, thức ăn có chất đạm protéine đầy đủ, nhưng đồng thời chứa quá nhiều chất béo lipides nhất là chất béo bảo hòa, không cần thiết theo yêu cầu điều chỉnh hầu hết trong chế độ ăn uống. 
Đặc tính trị liệu :
► Những lợi ích của đậu nành :
- giảm tĩ lượng đường trong máu ( bệnh tiểu đường, điều trị hổ trợ ),
- Làm giảm nồng độ cholestérol,
- Làm giảm sự táo bón và giúp tiêu hóa,
- Ngăn ngừa các rối loạn về tim mạch,
- Giảm thiểu những rối loạn thời ký mãn kinh ( do chất isoflavone ) và kinh nguyệt.
- Ngăn ngừa chứng loãng xương ostéoporose,
- Ngăn ngừa ung thư,
● Đậu nành là thực phẩm tốt cho những người bị chứng dị ứng.
● Đậu nành đồng thời là thức ăn lý tưởng.
Những thực phẩm này rất giàu protéine và những nguyên tố khoáng, chúng không có gì liên quan đến những sản phẩm thịt cá cả.
Tuy nhiên và nguyên nhân, chúng không chứa các chất béo động vật, chất béo này được gọi là cholestérol xấu.
Chúng là một thực phẩm tốt cho sự tiêu hóa, tương đương với sản phẩm sửa và cao hơn thịt về phương diện cholestérol.
Hơn nữa đậu nành được công nhận bởi các nhà nghiên cứu y học phương Tây, đậu nành chứa những những yếu tố rất là thú vị để ngăn ngừa và chữa trị một số bệnh, nhất là :
- những rối loạn ở thời kỳ mãn kinh,
- những lo lắng về tim mạch.
Trong việc biến chế sản phẩm từ hạt đậu nành, ngày nay người ta sử dụng đơn giản bằng những máy móc điện có thể tối tân. Cho đến ngày nay, người ta vẫn còn sử dụng cần thiết bằng tay với những cối đá như ở miền quê và tiến hơn nữa trang bị thêm động cơ điện để xoay cối ….
● Ung thư :
Nhiều nghiên cứu về dân số cho ta thấy rằng : Số người sử dụng thức ăn, thành phần căn bản là đậu nành có liên quan đến :
- sự giảm nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến ở đàn ông,
- liên quan đáng kể đến nguy cơ tử vong
- và tái phát ung thư vú ở phụ nữ,
- và có thể giảm nguy cơ ung thư trực tràng ở người phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh.
- Tiêu dùng đậu nành cũng có thể giảm nguy cơ ung thư ruột kết, có thể do sự hiện diện của sphingolipides.
● Não :
Các nghiên cứu gần đây cho thấy đậu nành cải thiện:
- chức năng nhận thức,
- trí nhớ,
- đặc biệt trí nhớ biểu hiện bằng lời nói,
- và chức năng của thùy trán với sự sử dụng các chất bổ sung căn bản đậu nành.
● Phénols thiên nhiên :
Những isoflavone :
Đậu nành cũng chứa chất génistéine isoflavonesdaidzéine, những dạng phytoestrogènes, có nhiều khuynh hướng nhận định :
▪ Nhận định bởi những chuyên gia về dinh dưởng học và những bác sỉ, đậu nành có ích lợi để ngăn ngừa chống ung thư
▪ và một nhận định khác cho là gây ra ung thư và làm xáo trộn nội tiết endocriniens,
Thành phần chứa trong đậu nành, chất isoflavones là 3 mg / g trọng lượng khô.
Những chất isoflavones  là những hợp chất polyphénolique, sản xuất chủ yếu bởi những đậu và những trái trong họ đậu légumineuse, bao gồm đậu phọng và đậu pois chiches Cicer arietinum  họ hàng gần của petit pois.
Những isoflavones như génistéinedaidzéine được tìm thấy chỉ có trong họ của cây Fabaceae, bởi vì phần lớn những cây trong họ này không cho isomèrase chaicone, là một phân hóa tố chuyển hóa tiền chất flavone trong isoflavone.
● Acide phytique
Đậu nành có chứa một lượng cao acide phytique, trong đó nhiều hiệu ứng bao gồm hành động như một chất chống oxy hóa tác nhân chélateur ( một cơ chế có khả năng cố định một ion kim loại thành một hổn hợp ổn định, không độc hại, dễ dàng bài tiết qua thận ). Những đòi hỏi này mang lợi ích cho acide phytique bao gồm :
- giảm ung thư,
- giảm thiểu bệnh tiểu đường
- và giảm viêm sưng.
Tuy nhiên, acide phytique cũng bị chỉ trích là giảm lượng khoáng chất cần thiết bởi vỉ hiệu quả của chélasteur của nó, đặc biệt là đối với chế độ ăn kiêng đã yếu về hàm lượng nguyên tố khoáng.  
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
► Dị ứng (allergie)
● Dị ứng đậu nành
Dị ứng với đậu nành là thông thường và là thực phẩm được liệt kê chung với những thực phẩm khác nguyên nhân gây ra dị ứng, như sửa, trứng, đậu phọng, hạt óc khỉ noix, những loại sò óc.
▪ Vấn đề được cảnh báo ở những trẻ em và chẩn đoán dị ứng ở đậu nành thường dựa trên những triệu chứng được báo cáo của phụ huynh và / hay những kết quả thữ nghiệm trên da hoặc xét nghiệm máu về dị ứng. Chỉ một vài báo cáo nghiên cứu được ghi lại thữ nghiệm được xác nhận dị ứng ở đậu nành bởi giải quyết trực tiếp với thực phẩm trong những điều kiện được kiễm soát.
▪ Rất khó để đưa ra những ước tính chính xác về dị ứng đáng tin cậy với tỹ lệ thực sự của dị ứng đậu nành trong dân số nói chung. Trong phạm vi đo lường sự tồn tại của quan sát, dị ứng đậu nành có thể gây ra các trường hợp như :
- mề đay,
- phù mạch,
thường thì trong vòng vài phút đến vài giờ sau khi tiêu hóa. Trong trường hợp rất hiếm, thật sự cái sốc cũng có thể xảy ra. Lý do là do xác xuất sự khác biệt bởi những chất đạm protéine, các yếu tố nguyên nhân gây ra dị ứng, ít tiềm năng gây ra triệu chứng hơn so với các loại đậu khác như đậu phộng …. hay những loài động vật nhất là loài crustaceae như tôm, cua, sò, hến…
▪ Một thữ nghiệm dị ứng có hiệu ứng thuận chứng minh rằng hệ thống miễn nhiễm đã hình thành kháng thể IgE đối với protéine đâu nành. Tuy nhiên, đây chỉ là yếu tố khi mà những protéine đậu nành đã được chuyễn vào trong máu mà không được tiêu hóa, với lượng đủ để gây ra triệu chứng trên thực sự.
▪ Đậu nành cũng có thể gây ra những triệu chứng bởi sự “ không dung nạp ” thực phẩm cho vào, một tình huống mà không có một cơ chế dị ứng nào có thể được chứng minh.
Một kịch bản đã được nhìn thấy ở trẻ em sơ sinh bị :
- ói mửa,
- tiêu chảy
Khi được nuôi bằng thức ăn căn bản là đậu nành, trường hợp giải quyết khi thành phần đậu nành được lấy ra.
Những trẻ em lớn hơn chút có thể bị rối loạn nghiêm trọng với :
- ói mửa,
- tiêu chảy,
- và có thể đưa đến tiêu chảy ra máu,
- thiếu máu,
- giảm cân,
- và sự phát triển tăng trưởng trể.
▪ Nguyên nhân rất thường ở chứng rối loạn này xảy ra nhất là sự nhạy cảm với sửa bò, nhưng những công thức thức ăn căn bản đậu nành cũng có thể kích hoạt gây dị ứng.
Một cơ chế chính xác thì không rỏ và có thể do hệ thống miễn nhiễm, nhưng không qua kháng thể IgE, dạng này đóng vai trò hàng đầu trong trường hợp dị ứng :
- nổi mề đay,
- và sốc phản ứng.
May mắn, những phản ứng dị ứng này “ tự động giới hạn ” và biến mất sau đó, những dị ứng này có trong những năm sơ sinh, trẻ chập chững biết đi.
Nghiên cứu :
● Phụ nữ
▪ Năm 2001, trong văn bản ghi lại đề nghị xem xét rằng phụ nữ ung thư vú hiện tại và trong quá khứ phải nhận thức là sự tăng trưởng khối u tiềm năng trong khi dùng sản phẩm đậu nành, họ dựa trên sự quan sát kích thích tố sinh dục nữ đã thúc đẩy sự tăng trưởng tế bào ung thư trên động vật.
▪ Năm 2006 xem xét lại mối quan hệ với đậu nành và ung thư vú. Họ cho rằng đậu nành có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú, nhưng cảnh báo tác động của isoflavone trên mô vú cần được đánh giá ở cấp độ trên tế bào vú của phụ nữ, có thể có nguy cơ cao gây ung thư vú.
▪ Sự tiêu thụ nhiều oméga-6 polysaturés acide béo, được tìm thấy trong đa số dạng tinh dầu thực vật, bao gồm dầu đậu nành, có thể gia tăng xác xuất những đàn bà trong thời kỳ mãn kinh phát triển ung thư vú.
Một phát triển khác cho thấy rằng có sự phối hợp nghịch đảo giữa những acide béo polyinsaturés và nguy cơ ung thư vú.
Một nghiên cứu khác được ghi chép kết luận rằng « Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy lượng isoflavones trong đậu nành đã kết hợp với một nguy cơ đáng kể giảm tỹ lệ mắc ung thư vú trong những dân tộc á châu, nhưng mà không trong những dân tộc tây phương »
● Phytoestrogen
Đậu nành có chứa chất isoflavone được gọi là genisteinedaidzéine, đây là những nguồn phytoestrogènes trong chế độ thực phẩm con người. Bởi vì phần lớn các chất oestrogéniques thiên nhiên cho thấy có sự hoạt động yếu, sự tiêu thụ thức ăn bình thường chứa chất phytoestrogène không đủ để cung cấp lượng đủ cho nhu cầu cần dùng cho cơ thể để gợi ra phản ứng sinh lý trong con người.
Thực phẩm và biến chế :
Khoảng 85 % cây trồng đậu nành trên thế giới được chuyển biến thành :
- bột đậu nành ,
- và dầu thực vật.
Đậu nành có thể xếp loại trồng như là rau cải ( trong vườn ) hay trồng quy mô lớn ( tạo dầu ).
▪ Theo dạng mẩu rau cải thì, nấu nướng dễ dàng hơn, hương vị nhẹ hơn, cấu trúc sản phẩm tốt hơn, kích thước sản phẩm cũng lớn hơn, giàu chất đạm hơn mẫu ngoài môi trường.
▪ Đậu hũ và những nhà sản xuất sữa đậu nành thích trồng những giống có hàm lượng protéine thực vật cao hơn những giống ban đầu du nhập trồng trong vườn, nói chung thì với kỹ nghệ tiến bộ cơ khí hoá nên những giống ban đầu không thích hợp. Ngày nay những nhà nghiên cứu chọn giống có năng xuất cao, hàm lượng cao để trồng.
Hiện nay ở Trung Quốc, Nhật bàn, Hàn Quốc, đậu nành và sản phẩm làm từ đậu nành rất phổ biến :
● Trung Quốc phát minh đậu phụ (豆腐 dòufu), và cũng đã dủng nhiều thứ khác nhau dạng pâte như gia vị.
● Nhật Bản thực phẩm làm từ đậu nành bao gồm nhiều thứ như : miso (味噌), Natto (纳豆), kinako (黄粉) và edamame ( ). Ngoài ra còn nhiều thực phẩm khác cũng dùng từ đậu nành như atsuage, aburaage.
● Trong ngành ẩm thực Đại Hàn, đậu nành nầy mầm được gọi là kongnamul (콩나물), cũng được sử dụng hàng loạt các món ăn như mà thành phần cơ bản trong  doenjang, cheonggukjang ganjang.
● Tại Việt Nam, nguyên liệu đậu nành được sử dụng để biến chế thành pâte đậu nành gọi là Tương, Chao.
Ở miền Bắc, những sản phẩm rất phổ biến như : Tương Bần, Tương Nam Đàn, tương Cự Đà và tương đặc biệt dùng như gia vị cần thiết để ăn Phở hay gỏi cuốn .
Ở miền Nam cũng như Bắc, đậu nành được phổ biến nhiều như ; nước Tương, Chao, Tàu hũ còn gọi đậu phụ ( Bắc ), và đậu hũ ăn đường.
Đậu nành có thể thực hiện dưới nhiều hình thức trong bữa ăn thường ngày với lượng protéine thực vật như : bữa ăn chay, bột đậu nành, sữa đậu nành, tàu hũ.
● Trẻ sơ sinh công thức
Những sản phẩm bào chế sẳn dùng làm thức ăn cho trẻ sơ sinh căn bản đậu nành, được sử dụng cho trẻ sơ sinh bị dị ứng với protéine của sửa bò động vật. Sản phẩm được bào chế dưới dạng bột, sẳn sàng làm thức ăn dể dàng và giản dị.
Một số ý kiến đề nghị cần nghiên cứu thêm về tác dụng hiệu quả của phytoestrogènes trong đậu nành có thể có đối với trẻ sơ sinh.
Nghiên cứu đa dạng đã kết luận : Không có tác dụng bất lợi nào trong sự tăng trưởng ở con người, phát triển, hoặc sinh sản trong kết quả tiêu thụ đậu nành công bố trong tạp chí Dinh dưởng kết luận rằng :
« …. Không có những mối  lo, quan tâm đối với đầy đủ chất dinh dưởng lâm sàng, phát triển tình dục, phát triển thần kinh, phát triển miễn nhiễm, hoặc bệnh tuyến giáp trạng. Thực phẩm đậu nành cung cấp đầy đủ hoàn chỉnh để hổ trợ tăng trưởng và phát triển trẻ em bình thường… »


Nguyễn thanh Vân

Phụ lục :
Có những vùng, tìm một miếng đậu hũ rất khó khăn, nếu có cũng rất đắc so với điều kiện kinh tế hiện tại, nhất là đối với những người ăn chay trường.
Hơn nữa hiện nay vì lợi nhuận, sản xuất quy mô, bắt buộc phải thêm vào những hoá chất bảo quản có hại cho sự ăn uống, vì thế cho nên có những tàu hũ bán ngoài thị trường đề ngày hết hạn sử dụng 3 đến 4 tháng ! ! ! !. Khi người dùng mua về, mở ra ……. thùng rác……
Cho nên, tôi cống hiến cách làm tàu hũ thủ công trong phạm vi gia đình cho những ai thích tự làm món ăn chay cho mình, và không sợ chết vì hóa chất…..

TÀU HŨ MIẾNG
Vật liệu :
- Ðậu nành hạt 1 lon sửa bò 250 gr. Sau khi làm đánh giá lượng thành phẩm mà có thể tăng 2 lon nếu không đủ ăn.
- Dấm trắng khoảng 2 hay 3 muỗng soups
- Máy xay sinh tố
- Vải voile (vải may màn ) may thành túi để vắt sửa kích thước 25 x 40 cm.
- Vải voile (vải màn ) nguyên kích thước  khoảng 40x60 cm . Ðể lót bên trong khuông và phủ mặt trên đậu .
- Khung ép ( giá để muổng nỉa bán ở Super marché như Carrefour ...... )
Cái này tùy cách biến chế, cái nào tiện thì dùng để thực hiện.
- Miếng gổ lót phía dưới để khỏi đọng nước .
- Vật nặng để dằn ép ( cục tạ 4 hay5  kg ).
- Miếng mica hay gổ có diện tích lọt lòng khuông ép .
- 2 hộp lon sửa bò để trên miếng mica để dằn tạ lên .
- Nước khoảng 8 lon sửa bò cho 250gr đậu  ( 2  litres ).
Khi nắm tất cả những nguyên tắc tôi mới suy nghĩ để tạo ra dụng cụ kể trên để tiện dụng.
Cách thực hiện :
Phần sửa soạn :
● Nước chua :
1 phần dấm  +  5 phần nước  ( Sửa soạn khoảng 1 chén ăn cơm cho 250 gr đậu, nếu thiếu làm thêm nhưng 1 chén là quá đủ rồi ).
Phần vắt lấy sửa đậu :
● Ngâm đậu 1 đêm, rửa sạch, đảy vỏ càng tốt nếu không để nguyên xay. Có thể chia làm 2 hoặc 3 để xay, bỏ vào túi vắt từ từ hay một lần tùy ý. Vắt nước nhất, hai, ba với số lượng nước còn lại sau khi xay. ( Số lượng nước không bắt buộc có thể nhiều hơn chút ít để vắt cho hết sửa ).
● Tất cả bỏ vào trong nồi vớt bọt nấu cho sôi, phải quậy đều nếu không đóng ván dưới đáy nồi hoặc trào ra ngoài thì đổ nợ ). Sôi một lần rồi tắt lửa .
Phần hóa đông sửa hay tạo sửa bòng con .
● Sau khi sữa đậu nành sôi đã tắt lửa, nước chua đã được điều chế, lấy muỗng canh chế từ từ đều khắp mặt thoáng, vừa chế vừa quậy nhẹ đều ( khoảng 1 ché ). Tiếp tục chế như lần thứ nhất cho đến khi thấy sữa và nước hoàn toàn tách rời nhau rõ rệt. ( Làm lần đầu lấy kinh nghiệm, quan sát thấy đủ là được không nhất thiết phải đổ hết, cũng có thể không đủ ). Đừng ngại, không bao giờ hư, đôi khi kiêng nhẩn chờ đợi sữa bòng con. Kinh nghiệm, nhiều khi làm biếng đổ hết một lần rồi quậy ....cũng xong !!!!
Phần dằn ép tàu hủ :

Sửa soạn dụng cụ

● Sửa soạn khuông ép như trong hình, lót vải phía trong khuông phủ ra phía ngoài. Dùng dá múc tất cả sửa đông và nước đổ vào khuông. Nước trong ( gồm có nước và dấm ) chảy ra ngoài sửa đông được giử lại
● Phủ vải 4 cạnh gói cho kín đều, tay tấp mí che lấp mặt khuông, để miếng mica hay miếng cây mỏng lên trên, để 2 lon sửa kên lên trên tấm mica, dằn cục tạ 4 kg lên .
● Thời gian dằn tạ khoảng 5 đến 10 phút .
► Lấy ra ăn liền, tàu hủ nóng rất ngon. Rất béo ăn không chua.
Quan trọng chính tay mình làm, không thêm chất hóa học gì cả .
Ngâm nước để tủ lạnh ăn lâu .
Còn xác đậu có thể xào hẹ cuốn bánh tráng ăn chay .
Photo dụng cụ thực hiện :