Tâm sự

Tâm sự

dimanche 15 juillet 2018

Muối và dầu - Salt and oil

Salt-and-oil
Muối và dầu
Cleistopholis patens (Benth.) Engl. & Diels
Annonaceae
Đại cương :
Cây tên thông thường Anh " muối và dầu " ( từ tên ghanaian ám chỉ đến hương vị của vỏ ).
Tên trong thương mại otu (Sierra Leone, Savill và Fox, 1967).
Nguồn gốc và sự phân phối địa lý :
Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được phân phối rộng rãi từ Sénégal đến Ouganda, và thông qua phía nam đến R.D. du Congo và đến Cabinda (Angola).
Cây Muối và dầu Cleistopholis patens thường hình thành thảm thực vật phát triển cạnh những cửa sông hoặc những vùng nước nằm giữa khu vực nước và đất ( écotone ) Chúng được tạo thành từ những vị trí đặc biệt trong nhiều khoảng thời gian dài….( ripisylve ) và trong những khu rừng đầm lầy, cũng như trong những khu rừng thứ cấp forêt secondaire.
Nó thích những nơi bằng phẳng, bị xáo trộn và ẩm, nhưng người ta cũng có thể tìm thấy trong những rừng thường  xanh forêt sempervirente trên những sườn dốc cao đến 1100 m.
Nó không chịu được lửa.
▪ Một Cây đạt đến 30 m cao, hiện diện từ Sierra Leone đến Ouganda và ở Zaïre; cây thích nắng mặt trời, tăng trưởng nhanh, phổ biến trong những vùng rừng xáo trộn, xâm chiếm nhanh trong những vùng bị bỏ hoang.
Khả năng tăng trưởng của nó rất nhanh, đến 13 m cao và 70 cm chu vi trong vòng 7 năm, được ghi nhận ở Sierra Leone – có thể khai thác để sản xuất bột giấy pulpe hoặc cellulose.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây đại mộc, có kích thước nhỏ đến trung bình đạt đến 20 (–30) m cao, thân không nhánh trên 10 (–20) m, thường thẳng, hình trụ và mảnh gầy, đến 80 (–90) cm đường kinh, đôi khi hơi bị bong ra ở bên dưới gốc, bề mặt vỏ láng, bên ngoài có những vết nứt, màu trắng xám nhạ, vỏ trong có nhiều xơ, có thể tách xé thành dải dài dọc,  màu trắng đến màu cam nâu nhạt, thơm, tán với những nhánh ngang rơi rủ xuống ở ngọn nhánh, những nhánh thường thể hiện thành những chỏm nhỏ và láng không lông.
, mọc cách, lá đơn và nguyên, không lá chét, cuống lá đạt đến 1 cm dài, phiến lá thường hẹp thuôn dài hình ellip, từ (2,5–)10–25(–30) cm × (1,5–)3–6 cm, hình nêm tròn và hơi không đối xứng dưới đáy phiến, mũi nhọn ngắn ở đỉnh,  giống như giấy mịn dai, bóng sáng chói, gân lá hình lông chim có đến 8–24 cặp gân lá bên.
Phát hoa, cụm nhỏ ở nách lá, gồm đến 8 hoa, gần như mịn không lông.
Hoa, lưỡng phái, đều, 3 phần, màu vàng xanh nhạt, cuống hoa từ 1–2,5 cm dài, bao gồm :
- đài hoa rời, hình bầu dục rộng, khoảng 2 mm dài.
- cánh hoa, rời, xếp thành 2 luân sinh :
◦ cánh hoa ngoài 3 hình thuẩn đến hình thuẩn thuôn dài, từ 0,5–1 cm dài,
◦ cánh hoa 3 bên trong ngắn hơn, có lông mịn ngắn trên những cạnh cánh hoa.
- tiểu nhụy, nhiều, khoảng 1 mm dài.
- bầu noãn, nhiều tâm bì khoảng gần 10 tâm bì, với những noãn khoảng 1 mm dài, vòi nhụy nhỏ.
Trái, bao gồm đến 9 nang gần như hình cầu đạt đến từ 1,5–2 cm đường kính, với một cuống dài khoảng 7 mm dài, hơi nén giữa những hạt, có nhiều mụn khi khô, láng không lông, không khai khi trưởng thành, chứa 1-2 hạt.
Hạt, hình cầu đến ellip, đường kính khoảng 1–1,5 cm đường kính, có nhiều mụn.
Bộ phận sử dụng :
Vỏ thân, nhựa vỏ thân, bột nạt của vỏ, tinh dầu vỏ, lá, rễ, và vỏ rễ.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Đặc tính hóa học :
Những alcaloïdes (eupolauridine, onychine và 3-méthoxysampangine) đã được phân lập từ vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens ; những hợp chất này đã được chứng minh có một hoạt tính mạnh chống nấm antifongique chống lại nấm Candida albicans.
Ngoài ra, những trích xuất của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens cho thấy một hoạt động :
- diệt giun trùng anthelminthique
chống lại loài Rhabditis pseudoelongata.
▪ Dầu thiết yếu của những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens chứa :
- (E)-β-ocimène,  như một hợp chất chánh,
vỏ của Cây chứa :
- myrcène,
- p-cymène,
- và germacrène D,
và những trái của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens chứa :
- linalol
cũng như :
- (E)-linalol,
- và (Z)-linaloloxyde.
▪ Đặc tính vật lý :
Lõi bois de cœur Cây Muối và dầu Cleistopholis patens, màu trắng xám nhạt, đôi khi nhuộm màu hồng và đôi khi có sọc không rõ ràng, không phân biệt rõ với dát gỗ aubier.
Sợi gỗ thẳng, hạt gỗ to nhưng đều nhau.
Gỗ bóng.
Gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nhẹ, với một mật độ 290–500 kg/m³ ở 12% độ ẩm, và khá mềm.
◦ Nó sấy khô nhanh chóng, nhưng phải được xếp đúng cách để tránh hư hại, những tỹ lệ co nhót khá cao.
Khi sấy khô, gỗ có độ ỗn định vừa phải trong phục vụ.
◦ Ở độ ẩm 12%,
- tiêu chuẩn bể vỡ là từ 29–38 N/mm²,
- tiêu chuẩn đàn hồi élasticité 6080–8230 N/mm²,
- độ nén ép trục axiale 38 N/mm²,
- cắt cisaillement 11 N/mm²,
- và độ cứng rắn dureté Janka de flanc 1410 N.
Gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens dễ cưa và làm việc. Nó bào phẳng tốt và kết thúc láng mịn.
▪ Nó diển tiến tốt đẹp, nó không bền, bởi vì nó là đối tượng tấn công của những nấm mốc champignons, những mối termites, của những loài Lyctus và của những bọ biển térébrants marins.
Những thử nghiệm cho thấy những đặc tính của nghiền nhuyễn bột nhão pâte vừa phải để sản xuất ra bột giấy.
▪ Đặc tính sinh học :
▪ Những trích xuất méthanol của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens cho thấy một hoạt tính rõ :
- kháng vi khuẩn antimicrobienne.
◦ Phần đoạn stéroïdienne của trích xuất được đánh dấu một hoạt động chống :
- Bacillus subtilis,
-Klebsiella pneumoniae
mạnh hơn rất nhiều so với thuốc pénicilline và chloramphénicol,
◦ Những phân đoạn hétérosidealcaloïde cho thấy một hoạt động đáng kể chống :
- Klebsiella pneumoniae,
◦ và phần đoạn saponine chống :
- Salmonella typhimurium.
▪ Những trích xuất của trái Cây Muối và dầu Cleistopholis patens cho thấy trong ống nghiệm in vitro một hoạt động :
- chống loài trùng chiên mao ký sinh trong bạch huyết leishmania antileishmanienne.
▪ Vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nghiền nát thành bột cho thấy có hiệu quả chống bệnh  nấm ngoài da teigne của những trái khô (Plodia interpunctella), là một loài nấm gây hại ravageur của những sản phẩm thực phẩm dự trữ.
▪ Những dầu thiết yếu của vỏ và của những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đánh dấu một hoạt động rõ ràng trong ống nghiệm in vitro chống loài Plasmodium falciparum.
Những thử nghiệm an toàn không cho thấy hoạt động gây đột biến mutagène chống lại những chủng Salmonella typhimuriumEscherichia coli.
▪ Quản lý trích xuất méthanoliques của vỏ ở những chuột cái cho thấy rõ một sự gia tăng phụ thuộc vào liều của những nồng độ của nhiều kích thích tố hormones, bao gồm :
- progestérone,
- và œstrogène.
▪ Một số oligorhamnosides một phần được acétyl hóa acétylés đã được phân lập từ những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens ; một số nhất định trong số đó cho thấy có một hoạt động mạnh kháng khuẩn antibactérienne chống :
- Staphylococcus aureus đề kháng với méthicilline.
Đặc tính trị liệu :
▪ Những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens là :
- hạ nhiệt fébrifuge,
- và diệt giun sán vermifuge
Một ngâm trong nước đun sôi infusion được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh sốt fièvre
Nhựa Cây màu đỏ nhạt và giống như dầu cọ huile de palme, nó có một hương vị mặn.
▪ Nhựa của vỏ sève de l'écorce Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đập  dập, hoặc nấu sắc décoction của vỏ, được tiêu thụ như để chữa trị :
- bệnh lao tuberculose,
- và những bệnh phế quản đơn giản bronchiques simples.
Vỏ được ngâm trong nước lạnh và dùng uống như thuốc :
- tẩy sổ purgatif,
- và dịu những cơn đau bụng tiêu chảy coliques
Bột nạt pulpe của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nghiền nát, kết hợp với những mảnh nhỏ thân của Cây Chóc Costus, được áp dụng trong thuốc dán đắp cataplasme trên :
- những ung mủ abcès trong mô mềm gần móng tay hoặc móng chân whitlows,
- và những phù nề oedèmes.
Nhựa của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng như thuốc nhỏ giọt mũi instillation nasale để chữa trị :
- những đau đầu maux de tête
▪ Sự sử dụng rộng rãi của vỏ và những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens trong y học địa phương công trạng của việc nghiên cứu để hiện diện của những chất hoạt động .
Tuy nhiên, vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được thử nghiệm cho hành động trên :
- bệnh sốt rét gia cầm paludisme aviaire
không cho thấy một hoạt động nào.
▪ Nhiều bộ phận của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens thường được sử dụng trong y học địa phương.
▪ Nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens dùng trong trường hợp :
- đau dạ dày maux d’estomac,
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh lao tuberculose,
- viêm phế quản bronchite,
- và viêm gan hépatite.
Bột nạt pulpe của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được áp dụng trên :
- chứng thũng trướng sưng phù tuméfactions,
- những phù nề œdèmes,
- và những chứng nhọt sung có mủ ở đầu ngón tay panaris,
nước ép jus của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng trong thuốc nhỏ mũi instillation nasale để chữa trị :
- những đau đầu maux de tête,
và trong ma sát friction chống lại :
- bệnh còi rachitisme ở những trẻ em.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Ouganda, người ta sử dụng vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nghiền nát trong những chế phẩm chống lại :
- bệnh sốt rét paludisme,
- và bệnh sởi rougeole.
▪ Ở Nigeria, người ta dùng vỏ để chữa trị :
- bệnh sốt thương hàn fièvre typhoïde
và những trích xuất vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens trong chữa trị :
- những rối loạn của chu kỳ kinh nguyệt cycle menstruel.
Vỏ của rễ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens phục vụ để :
- diệt giun sán vermifuge.
Ngâm trong nước đun sôi infusion hoặc nấu sắc décoction của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được quy định trong trường hợp :
- viêm gan hépatite,
- bệnh sốt fièvre,
- bệnh nhiễm trùng trypanosoma trypanosomose,
- và viêm khớp dạng thấp khớp arthrite rhumatismale,
- và như diệt giun sán vermifuge.
▪ Rang grillées và nghiền nát broyées, những hạt được áp dụng chống :
- những đau đầu maux de tête.
Hạt, nó phục vụ để làm ngọc trai perles.
Vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được ngâm trong nước lạnh và dùng như :
- tẩy xổ purgatif trong Sierra Leone.
và để giảm :
- những đau bụng tiêu chảy coliques ở Gabon và ở Congo.
Nhựa của vỏ đập dập, hnoặc nấu sắc décoction của vỏ được dùng để dự thảo cho :
- bệnh lao tuberculose,
- và cho những bệnh viêm phế quản đơn giản bronchiques simples trong Congo
▪ Ở Ghana, ngâm trong nước sôi infusion Cây Muối và dầu Cleistopholis patens, đôi khi kết hợp với sả citronnelle, đu đủ papaye hoặc thảo dược khác, được sử dụng cho :
- viêm gan hépatite nhiễm trùng infectieuse,
- và công trạng một điều tra thâm cứu hơn.
▪ Những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens đã được sử dụng như :
- diệt giun sán vermifuge, trong nhiều vùng lãnh thổ.
và như :
- diệt giun sán vermifuge,
- và hạ nhiệt fébrifuge, ở Gabon.
▪ Trong Côte-d'Ivoire, một nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đưa vào trong một chữa trị nói chung :
- những nước rửa eaux de rinçage,
- những tắm hơi bains de vapeur,
- và ma sát tại chỗ frottements topiques
trong sử dụng những liên quan đến :
-  những biến dạng phía sau hình thành bướu, thường do sự sụp xuống của đốt xương sống  bossus ( hunchback ),
và cho :
- những trẻ em bệnh còi enfants rachitiques
trong khi nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens là một thuốc nhỏ mũi instillation nasale cho :
- những đau đầu maux de tête.
▪ Những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được nhai với cola và ngâm trong nước đun sôi infusion dùng trong chữa trị :
- bệnh sốt fièvre
trong Sierra Leone và ở Gabon.
▪ Trong Haute-Côte-d'Ivoire, một nước nấu sắc décoction của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được đưa ra trong uống và cũng như trong nước rửa cho :
- bệnh ngủ maladie du sommeil.
Nghiên cứu :
● Biến đổi hóa học của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens (Benth.) Engl. và Diels, dầu lá tử Côte d'Ivoire.
Ouattara ZA1, Boti JB, KB Attioua, Ahibo AC, J Casanova, Tomi F, Bighelli A.
Thành phần hóa học của 48 mẫu dầu của lá phân lập của những Cây Muối và dầu Cleistopholis patens (Benth.) Engl. et Diels, riêng lẽ thu thập được trong 4 khu rừng Côte d’Ivoire đã được nghiên cứu bởi GC-FID (xác định của những chỉ số lưu giữ), GC / MS và C-RMN.
Những thành phần chánh được xác định là :
- β-pinène (traces-59,1%),
- sabinène (traces -54,2%),
- (E) -β-caryophyllène (0,3-39,3%),
- linalol (0,1-38,5%),
- (E) -β -ocimène (0,1-33,2%),
- germacrène D (0,0-33,1%),
- α-pinène (0,1-32,3%),
- và germacrène B (0-21,2%).
48 thành phần của dầu đã được đưa vào những phân tích của sự phân loại hệ thống và những thành phần chánh, điều này cho phép phân biệt ra thành 3 nhóm trong những phẩu vật của dầu thu được.
▪ Thành phần trong dầu của nhóm chánh ( nhóm I, 33 mẫu ) chiếm ưu thế bởi :
- (E) -β-caryophyllène,
- và linalol.
▪ Những dầu của nhóm II (8 mẫu ) chứa những chất chánh :
- β-pinène,
- và α-pinène,
▪ trong khi của nhóm III (7 mẫu ) chiếm ưu thế bởi :
- sabinène,
- limonène,
- và β-phellandrène.
Ngoài ra, những thánh phần của những tinh dầu của Cây Muối và dầu Cleistopholis patens ở Côde d’Ivoire khác với tinh dầu có nguồn gốc ở nigérianecamerounaise.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không biết, cần bổ sung.
Cẫn thận khi dùng, tham vấn với những người chuyên môn lo về sức khỏe trước khi sử dụng làm thuốc chữa bệnh.
Ứng dụng :
● Sử dụng y học :
▪ Một nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens đưọc uống, được sử dụng trong lau rửa, những tắm hơi nước bains de vapeur và ma sát tại chổ friction topique như chữa trị cho :
-  những biến dạng phía sau hình thành bướu, thường do sự sựp xuống của đốt xương sống  bossus ( hunchback ),
- và những trẻ em bệnh còi enfants rachitiques
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion Cây Muối và dầu Cleistopholis patens đôi khi được kết hợp với sả citronnelle (Cymbopogon spp.), đu đủ papaye (Carica papaya) hoặc với thảo dược khác và được sử dụng trong chữa trị :
- viêm gan hépatite nhiễm trùng infectieuse.
Một nước nấu sắc décoction của Cây Mỏ quạ Cleistopholis patens, được uống và cũng được sử dụng như lau rửa trong chữa trị :
- bệnh ngủ maladie du sommeil
● Sử dụng khác :
Vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens rất xơ và dễ dàng tách rời khỏi gỗ.
Vỏ trong cho một nguyên liệu giống như ren có một sức mạnh đáng chú ý và chế biến thành những tấm thảm trên đó người ta trải những hạt cacao để phơi khô.
▪ Những dây thừng và những tấm thảm được chế tạo từ những vỏ trong suốt quá trình cung cấp của Cây.
Nó được sử dụng cho những băng trên trán bandeaux frontaux và những dây đeo lưng được sử dụng bởi những dân tộc địa phương khi mang những giỏ cây cọ paniers de palme.
Vỏ Cây Mỏ quạ Cleistopholis patens  đôi khi được sử dụng để chế tạo những vách tường murs, những vách ngăn và những giầy dép sandales.
▪ Những hạt được sử dụng như những hạt trai perles
▪ Gỗ có màu sáng của một kết cấu len, hạt thẳng, mềm, nhẹ, không bền, nó có thể dễ dàng cắt và hoàn tất suôn sẻ.
Nhựalõi gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens  cả hai đều phát sáng.
Gỗ thường có những đặc tính tương tự với balsa (Ochroma sp.). và phải phù hợp với cùng một sử dụng tương tự.
▪ Những thân Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng để thả nổi những Cây nặng trong những dòng sông.  
Gỗ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens được sử dụng như một phao, để làm những cái trống, những xuống máy canots ……và được cho là phù hợp với ngành mộc.
Hiện tại, nó dường như không có một sự sử dụng thương mại nào của gỗ, mặc dù nó có giá trị lợi ích như một ván ép.
Khả năng tăng trưởng của nó rất nhanh, có thể cho phép khai thác nó để sản xuất bột nhão pâte hoặc cellulose
▪ Ở Ghana, vỏ Cây Muối và dầu Cleistopholis patens trước đây được sử dụng để chế tạo những giầy dép sandales.
Vỏnhựa cây bois de sève Cây Muối và dầu Cleistopholis patens nhựa phù to.
Người ta nói rằng vỏ chảy ra nước khi nó được cắt và tên Bassa (phóng thích ) có nghĩa là « Cây phun nước » trong ám chỉ điều này.
▪ Nhựa có màu đỏ nhạt giống như dầu cọ huile de palme và có hương vị mặn, nơi đây nó còn có tên Akan (Ghana).
Thực phẩm và biến chế :
Không thấy đề cập ??.

Nguyễn thanh Vân

vendredi 6 juillet 2018

Mận Ấn - Indian plum

Indian plum
Mận Ấn
Oemleria cerasiformis - (Torr.&A.Gray.)Greene.
Rosaceae
Đại cương :
Danh pháp :
Giống được đặt tên theo Augustus Gottlieb Oemler (1773-1852), một nhà tự nhiên người Đức ở Savannah, Géorgie, là người đầu tiên thu thập mẫu vật loài này.
◦ Tên loài Cerasiformis có nghĩa có hình dạng của trái Anh đào cerise.
◦ Tên giống cũng được biết dưới tên Osmaronia cerasiformis hoặc Nuttallia cerasiformis.
- Osm- là gốc tiếng Hy lạp grecque có nghĩa " mùi malodorante".
- Aronia là giống những trái chokeberries.
Tên thông thường khác bao gồm :
- Osoberry, prune d'Orégon, prune de Squaw, pêche indienne, cerise d'oiseau, và Skunkbush.
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis, là một Cây bụi thường được biết như osoberry hoặc prune indienne, là một loài duy nhất của giống Oemleria.
Cây có nguồn gốc từ bờ biển Thái Bình Dương Pacifique và những không gian phân bố từ Bắc Mỹ Amérique du Nord, từ Colombie-Britannique đến Canada đến địa hạt Santa Barbara, trong Californie, nó là một trong những cây đầu tiên trổ hoa và phát hoa vào đầu mùa xuân.
Nó đạt đến độ cao từ 1,5-5 m và có những hình mũi dáo từ 5 đến 12 cm dài.
▪ Môi trường sống :
Thường tìm thấy với một tầng chiếm ưu thế từ Douglas-Fir, Western Redcedar hoặc Cottonwood. Tìm thấy trong những rừng mở, khô và ẩm, những suối nước nóng bên lề đường, người ta tìm thấy ở  độ cao thấp.
Nếu Cây mọc trong những nơi có ánh sáng mặt trời đầy đủ, nó phát triển những tàn lá rậm rạp hơn và có hoa và trái nhiều hơn.
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis có nguồn gốc và thường tìm thấy ở những độ cao thấp hơn từ cực Tây Nam của Colombie-Britannique đến thung lủng Willamette của Oregon và những chân đồi môi trường chung quanh.  Tiếp tục đi về phía nam, nó trở nên ít phổ biến hơn trong những dãy bờ biển của Californie đến địa hạt Santa Barbara và sườn phía tây của những dãy núi của Sierra Nevada đến địa hạt Tulare trong Californie.
Nó mọc trong những vùng USDA 8 đến 9, trong những vùng với độ nước mưa hàng năm trung bình từ 36 đến 300 mm.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây, bụi với lá rụng, trung bình đến lớn, thẳng, thường với nhiều thân và có một sự tăng trưởng ngang. Cây tăng trưởng nhanh nhưng thời gian sống tương đối ngắn, đạt đến 5 m cao ở những điều kiện tối ưu, khi mọc nơi có ánh nắng mặt trời đầy đủ và trong những điều kiện ánh sáng yếu, nó có xu hướng nghiêng về phía những vùng có bóng râm, hơi phân nhánh, thân cong, vỏ đắng, màu nâu tía.
Những nhánh mọc ra từ hệ thống rễ trung tâm và không phát triển từ thân cây như đã trông thấy ở những thực vật khác. Những nhánh chằng chịt, rễ chạm vào đất dễ dàng và tách biệt, vì vậy những Cây lớn thường được bao quanh bởi những dòng vô tính di truyền clones génétiques.
, mọc cách, lá đơn, nguyên không răng, dợn sóng, rụng sớm, hình ellip thuôn dài, những phiến lá từ 5 đến 12 cm dài, không răng, màu xanh lá cây nhạt và láng ở mặt trên, nhạt hơn và thường có ít lông ở mặt dưới. Vào mùa xuân, lá tươi có mùi và có thể có hương vị như dưa leo.
Những lá có màu xanh lá cây sáng và trở nên màu sậm hơn khi trở nên già, màu sắc của lá biến đổi thành một màu vàng trong nắng đầy đủ vào tháng 8 nhưng nó còn gắn vào những nhánh cành cho đến đầu mùa thu.
Phát hoa, lỏng lẻo, rủ xuống, có lá hoa, hợp thành nhóm từ 5 đến 10 cm dài, ở đỉnh của nhánh nhánh nhỏ ở nách lá.
Hoa, đơn tính biệt chu, có nghĩa những hoa đực và hoa cái tìm thấy trên những cây khác nhau. Như vậy nó không tự thụ phấn, phải nhờ đến tác nhân bởi những côn trùng để thực hiện sự thụ phấn. Những hoa xuất hiện rất sớm vào cuối mùa đông trước lá và có mùi hôi như nước tiểu con mèo, và có đường kính khoảng 1 cm.
Hoa màu xanh lá cây trắng, có dạng hình chuông  với :
- đài hoa, kích thước khoảng từ 6 đến 7 mm dài, với 5 thùy, những thùy gần bằng nhau. 
- vành hoa màu trắng xanh nhạt, hình dạng cái chén, khoảng 1 cm đường kính, cánh hoa 5, hình trứng, khoảng từ 5-6 mm dài, tỏa ra ( ngắn hơn, hẹp hơn và thẳng đứng ở những hoa cái).
- tiểu nhụy, 15 tiểu nhụy và đo được khoảng 1 cm dài.
- Bầu noãn, ( cây cái ) thường 5 tâm bì, hay hơn.
Trái, thịt, có cấu trúc của trái mận nhỏ, hình trứng, khoảng 1,3 cm dài, lúc đầu có màu cam của trái đào pêche, sau đó trưởng thành có màu xanh đen, có vị đắng
Bộ phận sử dụng :
Thân cây, vỏ, lá, trái.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ chất đạm protein  0,8g
▪ chất béo  0,07g
▪ chất xơ thực phẩm fiber  0,6g
▪ carbohydrates  17g
▪ đường sucre  5,4 - 10,5g
▪ đường giảm reducing sugars  0,4g - 6,2g
▪ calcium Ca  25,6mg
▪ phosphorus P  26,8mg
▪ sắt Iron          0,76 - 1,8g
▪ β-Carotene  0,021mg
▪ thiamine  0,02 - 0,024 mg
▪ riboflavin  0,02 -0,038mg
▪ niacin  0,7 - 0,873mg
▪ citric Acid  0,2 - 1,1mg
▪ ascorbic Acid  65,8 - 76mg
Đặc tính trị liệu :
Vỏ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis là :
- nhuận trường nhẹ légèrement laxative.
▪ Một nước nấu sắc décoction đã được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh lao tuberculose.
▪ Một thuốc dán đắp cataplasme của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được đốt cháy nghiền nát, pha trộn với dầu huile, được sử dụng để chữa trị :
- những bộ phận đau nhức của cơ thể douloureuses du corps.
● Lợi ích cho sức khỏe của sự tiêu dùng Mận Ấn :
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis thường được sử dụng bởi những người dân bản địa Amérique trong thực phẩm của họ.
Vỏ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được sử dụng trong trà thé được xem như một phương thuốc chống lại :
- bệnh lao tuberculose,
và một thuốc để :
- thải sạch (đi cầu ) đường ruột évacuation des intestins.
Những nhánh được nhai bởi vì người ta nghĩ rằng nó có tính :
- sát trùng nhẹ antiseptiques doux,
- và kích thích tình dục aphrodisiaques.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis ăn được bởi con người nhưng có một hương vị đắng ngay cả khi trưởng thành chín maturité.
▪ Những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis có thể được tiêu thụ sống hoặc chín và tốt cho :
- bệnh sốt fièvre.
Nó chứa những thành phần dinh dưởng cao nutriments và một chất xơ thực phẩm fibre alimentaire hành động như :
- một chất chống oxy hóa antioxydant cho cơ thể.
▪ Những Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được luộc chín và được tiêu thụ để chữa trị :
- bệnh tiểu đường diabète.
Nó chữa lành những bệnh :
- nhiễm trùng thận infections rénales,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- ho toux,
- những vết thương loét plaies,
- và những bệnh khác.
▪ Thêm trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis vào trong chế độ ăn uống có thể là một quyết định khôn ngoan chất xơ fibre tìm thấy sự phong phú trong những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis giúp :
- giảm cholestérol,
bằng cách giữ những bệnh tim mạch maladies cardiaques ở thế kẹt không phát triển.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis cũng giúp :
- giảm cơn đói faim,
- và  làm cho người ta cảm thấy no,
do đó duy trì chức năng của ống tiêu hóa tube digestif hoạt động được suôn sẽ bằng cách tránh :
- táo bón constipation,
- và những vấn đề tiêu hóa problèmes digestifs.
▪ Một vitamine quan trọng được biết dưới tên vitamine K cũng được tìm thấy trong trái này và nó giúp phần lớn trong sự xây dựng :
- xương vững chắc os solides
và cũng trong :
- sự đông máu coagulation du sang trong cơ thể.
▪ Ngoài vitamine K, trái này giàu thành phần nguyên tố khoáng potassium K cho phép :
- chức năng tốt của những xương os
và cũng cho phép kiểm soát :
- huyết áp động mạch pression artérielle
trong trường hợp tiêu dùng quá nhiều muối sodium.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis này, như tất cả những trái cây khác sấy khô, là không nghi ngờ :
- giàu chất đường sucre,
- và có một giá trị năng lượng calorique cao,
nhưng nó luôn luôn được đánh giá với  sự điều độ bởi những người theo đuổi một chế độ ăn uống hoặc bởi những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường diabétique nhờ những lợi ích độc đáo của nó.
Tất cả mọi tiêu dùng trong một tĩ lệ là luôn luôn lợi ích cho cơ thể .
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Sự sử dụng bởi con người :
▪ Những bộ lạc ở bờ biển Thái bình dương đã được sử dụng những trái, những cànhvỏ của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis như một nguồn thực phẩm, cũng như cho trà thé và những thuốc.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis có nhiều biến đổi, với những nơi có nhiều ánh nắng sản xuất nhiều hơn, cũng như những trái lớn hơn và ngọt hơn.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được tiêu dùng trong một số lượng tươi nhỏ, nấu chín hoặc sấy khô bởi người dân bản địa Mỹ Amérindiens.
Hương vị của những trái chưa chín là đắng và là se thắt astringente, nhưng trở nên ngon miệng hơn khi nó trưởng thành chín mùi.
Những người dân bản địa cũng đã sừ dụng những nhánh cànhvỏ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis cho dùng thuốc khác nhau.
Những trái osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis là ăn được và giống như những trái mận prunes nhỏ màu xanh đậm khi trưởng thành chín .
▪ Những người dân bản địa ở Châu Mỹ Amériques, bao gồm những trái osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis trong chế độ ăn uống của họ, làm trà thé của vỏ Cây, và nhai những cành của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis  để sử dụng như :
- một chất gây tê nhẹ anesthésique doux,
- và kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Sự sử dụng bởi những động vật faune:
Những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được thu hút bởi những loài chim oiseaux như là những loài chim waxwings de cèdre và cũng được tiêu dùng bởi những loài hữu nhủ mammifères.
Những hoa được thụ phấn bởi loài chim ruồi colibris, những loài bướm papillons, những loài ong bản đỉa và những loài côn trùng khác.
▪ Sự sử dụng lịch sử và hiện đại :
Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được xem như một điềm chỉ của mùa xuân, bởi vì đây là một cây bụi đầu tiên có lá rụng trổ hoa.
Cho lý do này, những loài chim ruồi colibris, những loài ong và những loài bướm được tính trên mật hoa của nó vào cuối mùa đông.
▪ Những cộng đồng của những dân tộc đầu tiên đã được sử dụng và tiếp tục sử dụng Cây bụi Osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis cho nhiều lý do y học.
Vỏ Osoberry Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis được sử dụng để chữa trị :
- bệnh lao tuberculose,
- và như thuốc nhuận trường nhẹ laxatif doux.
Nó được nhai và pha trộn với dầu và áp dụng vào :
- những vết thương loét plaies.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Phản ứng phụ :
▪ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis không có như là những phản ứng phụ nhưng tiêu thụ quá nhiều có thể dẫn đến những hiệu quả không mong muốn.
▪ Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis chứa một số lượng đủ oxalates, và khi tiêu thụ nhiều hơn chúng sẽ trở nên dầy đặc nhiều và cản trở sự hấp thu của nguyên tố khoáng calcium Ca của cơ thể chúng ta.
Nơi đây kết quả của sự hình thành của những kết thạch thận ( sạn thận )  calculs rénaux hoặc bàng quang vessie với những lắng đọng của nguyên tố calcium Ca.
Nó cũng chứa một số lượng nhỏ chất cyanure d'hydrogène mà ăn quá nhiều có thể gây ra :
- những rối loạn đường hô hấp troubles respiratoires.
Tốt nhất nên kềm chế sự tiêu dùng quá mức và nó được đề nghị dùng vnới một số lượng nhỏ để giữ gìn một sức khỏe tốt .
Ứng dụng :
▪ Sự sử dụng của những Cây Mận Ấn pruneaux indiens
Những trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis là một trái rất phổ biến, ngoài những trái của nó ngon tuyệt, Cây này cung cấp rất nhiều trên thế giới.
Bắt đầu bởi nhu cầu cơ bản của con người, gỗ của Cây cực kỳ bền mạnh với một cấu trúc với hạt mịn.
Thân của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis rất ngắn và mọc lên đến kích thước 5 cm đường kính, điều này có thể cản trở kích thước của sản phẩm chế tạo bằng cách sử dụng cùng tương tự.
Bằng cách này, tất cả những sản phẩm chế tạo được làm từ thân của Cây này thường có kích thước nhỏ.
▪ Một số lớn sản phẩm như là : cung, những muỗng, những lược, những kim đan..v…v… được chế tạo từ thân của Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis này.
Gỗ cũng được tạo ra một cơ bản phù hợp cho những điêu khắc chi tiết đã cho cấu trúc hạt mịn nhỏ của nó.
Thực phẩm và biến chế :
Trái, dùng sống hoặc nấu chín.
Trái Cây Mận Ấn Osmaronia cerasiformis giống như một trái mận nhỏ petite prune nhưng rất đắng với một hương vị hạnh nhân amande.
Trái hoàn toàn chín mùi mất đi một phần đắng của nó.
Trái chỉ có một lớp mỏng nạt thịt.
▪ Những trái có thể được sấy khô và bảo quản để sử dụng cho mùa đông.
▪ Một số thận trọng được đề nghị trên tính độc của trái toxicité.


Nguyễn thanh Vân

jeudi 28 juin 2018

Rễ rồng 3 lá - Dragonroot

Jack In The Pulpit - Dragonroot
Rễ rồng 3 lá
Arisaema triphyllum - (L.)Schott.
Araceae
Đại cương :
Danh pháp đồng nghĩa :
- Arum triphyllum Linnaeus, Sp. Pl. 2: 965. 1753;
- Arisaema acuminatum Small;
- Arisaema atrorubens (Aiton) Blume;
- Arisaema polymorphum (Buckley) Chapman;
- Arisaema pusillum (Peck) Nash;
- Arisaema quinatum (Nuttall) Schott;
- Arisaema stewardsonii Britton;
▪ Danh pháp thông thường :
- Jack-in-the-Pulpit, Dragonroot, Bog onion, Brown dragon, navet indien, Wake robin or Wild turnip)
Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum, được biết dưới tên thông thường khác Jack-in-the-pulpit “Jack dans la chaire”, như “ củ cải trắng ấn độ navets indiens ” vì phẩm chất của cột buồng spadice ăn được. Cây có màu sắc rất đẹp và những trái rất thú vị .
▪ Cây có nguồn gốc từ miền đông Bắc Mỹ Amérique du Nord và thường gặp trong những khu rừng ẩm và cây bụi từ Nouvelle-Écosse phía tây đến Minnesota và phía nam đến miền nam Floride.
▪ Môi trường sống :
Jack-dans-la-chaire Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum ưa thích phát triển trong một phần ánh nắng mặt trời đến bóng râm hoàn toàn trong những khu rừng ẩm, chấp nhận của những mức độ ẩm của vùng sinh thái có độ ẩm trung bình đến môi trường có độ ẩm khô.
Cây thích hợp với những đất nhẹ (đất cát sableux) và trung bình (đất mùn limoneux) và thích những đất thoát nước tốt. Có độ pH thích hợp : đất acides, trung bình neutres và kiềm basiques (alcalins).
Nó có thể mọc trong bóng râm (rừng sâu ) bán râm (rừng sáng ) hoặc không bóng râm.
Nó thích những đất ẩm.
Ánh nắng mặt trời được bao phủ bởi những đám mây trắng lốm đốm, được ưa thích trong thời kỳ ra hoa.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Địa thực vật, Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum là một thực vật sống lâu năm, không bình thường dễ nhận  tăng trưởng chậm khoảng 0,6 m trên khoảng cách 0,5 m, thân mịn và xanh, toàn Cây có thể cao từ 30 đến 100 cm.
Hệ thống rễ gồm có một thân củ, tròn, phẳng, phần bên trên có bao tuniqué như củ hành tây, phần bên dưới lớn hơn và có nạt thịt, từ đây cho ra nhiều sợi dài rễ thứ cấp màu trắng trong một vòng viền mặt trên, đo được đến 5 cm dài và 2 cm rộng, mặt dưới thân củ được bao phủ bởi một lớp biểu bì màu sậm, lỏng lẻo, xếp nếp nhăn.  
◦ Cây phát triển từ một căn hành rhizome tròn, phẳng thường gọi là thân củ «corme».
◦ Gần mặt đất, thân trung tâm phát triển 1 hoặc 2 lá trên một thân cuống rất dài tròn.
Những chồi mới nổi lên tương tự với những gié épis bao phủ bởi một lớp vỏ bao bảo vệ.
, của Cây hoang này đặc biệt là lá kép trong một sự thiết kế. Thường chính xác 3 lá phụ nhưng 2 có thể xảy ra.
Lá trung bình có xu hướng là một dạng kim cương, hình bầu dục hầu hết là lá nguyên, đỉnh nhọn láng, màu trắng xanh đục, nhạt ở mặt dưới, trở nên lục lam, không bóng, khoảng 8-15 cm dài và 3-7 cm rộng, 2 lá phụ bên đôi khi vẫn cục, lá phụ đầu ngọn lớn hơn 2 lá phụ bên, phát triển trên một chân cuống lá dài pétiole và một cuống hoa to pédoncule ( hoặc thân) với một hoa duy nhất ở đỉnh ngọn.
Cuống lá và cuống hoa phát triển trực tiếp từ thân củ corme, cuống hoa phát triển thành một vỏ bọc và ngắn hơn những cuống lá, vỏ bọc có cả 2 mặt trơn và láng, và màu sắc thay đổi từ màu xanh lá cây đến màu xanh lục nhạt hoặc màu xanh nâu.
Phát hoa, có dạng không đều, có thể đạt đến 8 cm dài, bao gồm một cột gồm những hoa nhỏ spadice ở trung tâm ( về sau phát triển thành buồng ), giữ những hoa nhỏ chung quanh của một ống, cung cấp bởi một cái mũ hoặc cái bẹ mo spathe trên bên trên.
Những hoa được gắn nằm ở bên dưới của cột buồng spadice (“jack”) ( khi trưởng thành sẽ cho ra một buồng trái với những quả mọng ), phủ đầy những hoa nhỏ của cả 2 phái.
Bẹ mo spathe hành động như một cái bẫy ấm "piège à bouilloire" côn trùng thụ phấn insectes pollinisateurs.
◦ Những Cây đực có một lỗ  nhỏ bên dưới cùng của bẹ mo spathe, những côn trùng xâm nhập từ trên đỉnh và được thu hút bởi ánh sánh ( và phấn hoa ) lỗ nhỏ bên dưới nơi đây chúng thoát đi ra.
◦ Những Cây cái không có đường thoát, vì vậy một  khi côn trùng xâm nhập từ trên cao, một cơ hội nhỏ để chúng có thể thoát ra. (Ewy chưa công bố ).
Jack-in-the-Pulpit thường đơn phái monoïque, nhưng một số cây đơn phái và nó có khả năng thay đổi giới tính.
Là một loài đơn phái biệt chu, có nghĩa là Cây có hoa đực và hoa cái ở trên 2 gốc khác nhau ( những hoa đơn độc hoặc đực hoặc cái, nhưng chỉ có một phái trên một thân cây, vì vậy mà cả hai cây đực và cái phải được trồng nếu những hạt là cần thiết phải lấy ) và được thụ phần bởi những loài ruồi. Cây không tự thụ phấn autofertile.
Hoa, những hoa này, không vành hoa cũng không đài hoa .
Hoa màu xanh trắng nhạt đến xanh đỏ nhạt đo được khoảng từ 7-8 cm dài và 5 cm đường kính bao gồm một cột buồng spadice và một bẹ mo spathe.
- cột buồng spadice màu xanh sáng có dạng hình ống. Cột buồng spadice, nằm bên trong của bẹ mo spathe, có dạng cái chày, ngắn hơn bẹ mo spathe, tròn ở đáy, màu xanh lá cây, tím, đen thu hẹp lại trong một cổ hẹp ở đáy nơi đây nó được bao quanh bởi những tiểu nhụy hoặc bầu noãn.
- Bẹ mo spathe bao chung quanh cột buồng spadice, phần bên trên của bẹ mo spathe phát triển phía sau của cột buồng spadice và uốn cong trên nó cung cấp một cáo mũ bảo vệ và  cột buồng spadice chỉ lộ ra bộ phận bên trên của nó ( "Jack" của hoa ).
Bẹ mo spathe này màu sắc thay đổi từ xanh lá cây nhạt đến xanh đỏ nhạt hơi có rãnh, thường có sọc trắng hoặc đỏ tím, hình bầu dục, đỉnh nhọn, cuốn lại thành một ống đến tận bên dưới, phẳng và uốn cong lên như một cái mui xe, màu sắc thay đổi bên trong, màu xanh lá cây, màu tím đậm, đen hoặc có sọc xanh nhạt trên một nền sậm.
Những hoa gắn trên một cột buồng spadice, tập hợp bên dưới của spadice hoặc bẹ mo spathe.
Những phần bên trên của cột buồng spadice khô héo với bẹ mo spathe, trong khi những bầu noãn phát triển thành một buồng đầy rậm những quả mọng tươi sáng của màu sắc rực rỡ.
▪ Trong những Cây thụ, nó được hiện diện của những bầu noãn tròn và rất nhiều, mỗi bầu noãn có một vòi nhụy, trong phần khô héo, bên dưới của nó được bao phủ bởi những sợi hình chóp và nạt thịt mang mỗi sợi từ 2 đến 4 bao phần vòng tròn.
- những hoa đực nằm bên trên cột buồng,
- những hoa cái trên phân nửa bên dưới của cột buồng spadice, nơi đây nó được che khuất bởi bẹ mo bao chung quanh.
Những hoa đực có nhiều nhụy đực, trong khi những hoa cái chỉ có 1 nhụy hoa pistil.
Trái, có dạng tập hợp thành nhóm như một gié, với nhiều quả mọng nhỏ màu xanh khi còn non và trở nên đỏ tươi khi trưởng thành chín ăn được.
Mỗi trái thường chứa từ 1 đến 5 hạt kích thước khoảng 5 mm, đôi khi cũng có chỉ 1 hạt.
Hạt, màu trắng đến màu nâu nhạt, thường với những cạnh phẳng lõm hơi dẹt và môt điểm nhọn ngắn ở trên cùng và mặt bên dưới tròn.
● Sự sinh sản reproduction : Lưỡng tính Hermaphrodisme : Lựa chọn phái tính sexe
Jack-in-the-pulpits Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum có khả năng thay đổi phái tính giữa những mùa tăng trưởng. Người ta nghĩ rằng điều này phụ thuộc vào kích thước của Cây.
Nếu một Cây cụ thể là một Cây cái trong một mùa tăng trưởng và có thể sản xuất ra nhiều hạt, nó có khả năng cho rằng Cây này không thể tồn trữ nhiều năng lượng cho mùa tăng trưởng tiếp theo sau trong một thân củ corme sống ngầm dưới đất bởi vì hầu hết những nguồn của nó đã cô động dành cho sự sinh sản reproduction.
▪ Mùa tăng trưởng tiếp theo, cùng một Cây này sẽ có một thành công cho sự sinh sản tốt hơn bằng cách là một Cây đực không trổ hoa.
Với sự tích trử năng lượng ít hơn, Cây có thể cô động một phần lớn năng lượng énergie của nó cho sự tăng trưởng và sự sản xuất phấn hoa pollen, điều này sẽ cần thiết tiêu dùng ít năng lượng énergie hơn cho sự sản xuất hạt giống.
Như đã được chứng minh, một Cây có tỹ lệ sinh sản tốt hơn reproduction (RS) khi là những Cây lớn hơn đây là những Cây cái và những Cây nhỏ hơn là những Cây đực (Policansky, 1981).
Bộ phận sử dụng :
Rễ ( thân củ ) sấy thật khô,
▪ Nó được thu hoạch vào  đầu mùa xuân và được sấy khô bảo quản để sử dụng về sau.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum chứa :
- những tinh thể oxalate de calcium
trong tất cả những bộ phận, và do sự tiêu thụ này của nguyên liệu thô dẫn đến một cảm giác phỏng cháy mạnh brûlure puissante.
▪ Những hoạt chất hóa học chánh trong Cây Jack-in-the-Pulpit Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum là :
- acide oxalique.
Nhiều bộ phận của Cây, nhất là rễ chứa :
- những tinh thể oxalate de calcium.
▪ Ngoài nguyên chất chát âcre, Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum chứa :
- một tĩ lệ lớn tinh bột amidon;
cũng như :
- chất gôm gomme,
- chất lòng trắng trứng albumine,
- chất saccharine,
- muối calcium Ca
- và potassium K,
- và trích xuất extractive.
Khi đặc tính chát acre đã được loại ra bởi nhiệt độ, rễ mang lại một chất tinh bột tinh khiết amylacée pure và tinh tế, giống như bột rễ huỳnh tinh marrante tốt nhất, rất trắng và dinh dưởng
▪ Những tinh thể rất nhỏ raphides của oxalate de calcium mang lại cho thân củ có vị chát acrid của nó đã được xác định bởi Weber (1891).
Đặc tính trị liệu :
Rễ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum là :
- vị chát acre,
- sát trùng antiseptique,
- đổ mồ hôi diaphorétique,
- long đờm expectorante,
- kích ứng irritante,
- và là chất kích thích stimulante.
Rễ tươi Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được xem như quá nguy hiễm và rất chát để sử dụng, trong khi những rễ sấy khô trở nên không hoạt động, vì thế, rễ tươi một phần sấy khô được sử dụng.
Rễ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được áp dụng trong thuốc dán đắp cataplasme trên :
- những đau đầu maux de tête,
- tổn thương bệnh tràng nhạc lésions scrofuleuses,
- những bệnh thấp khớp rhumatismes,
- những mụn nhọt furoncles,
- nhọt ung mủ abcès,
- và nấm ngoài da, sài đầu teigne.
▪ Một nước nấu sắc décoction của rễ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được sử dụng để :
- rửa những mắt đau bệnh yeux endoloris.
● Sự sử dụng dược liệu :
▪ Những thân củ cormes Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được bào nhỏ và đun sôi trong sữa lait để chữa trị :
- bệnh ho toux,
- và bệnh lao tuberculose.
Nó được sử dụng để :
- tạo máu "construire du sang".
Sử dụng khác được biết là để chữa trị :
- bệnh suyễn asthme,
- viêm phế quản bronchite,
- và đau đầu maux de tête.
● Hành động, sử dụng thuốc và liều lượng .
Hành động của rễ tươi Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum, có :
- vị chát acrid,
- long đờm expectorant,
- và đổ mồ hôi diaphoretique.
▪ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được đề nghị trong :
- đầy hơi flatulence,
- bệnh bạch hầu đầu ( nhạt thở  ) croup,
- ho gà coqueluche,
- viêm miệng stomatite,
- bệnh suyễn asthme,
- viêm thanh quản mãn tính laryngite chronique,
- viêm phế quản bronchite,
- đau nhức lồng ngực douleurs dans la poitrine,
- đau bụng tiêu chảy coliques,
- giai đoạn thấp của ban nhiệt typhus,
- và những bệnh khác nhau liên quan đến trạng thái suy nhược état cachectique của hệ thống.
Bên ngoài cơ thể, nó được sử dụng trong :
- những ung bướu khối u bệnh tràng nhạc tumeurs scrofuleuses,
- viêm màng não tinea capitis
- và những bệnh khác của da maladies cutanées.
▪ hành động của nó trong tình trạng suy nhược prostration cơ bản của những bệnh sốt fièvres với sự mê sảng điên cuồng délire sauvage là do những hiệu quả của nó trên những trung tâm não bộ centres cérébraux.
▪ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được nổi tiếng lợi ích trong :
- bệnh sốt não tủy fièvre céphalo-rachidienne,
- và bệnh tinh hồng nhiệt ( bệnh sốt đỏ tươi ) scarlatine,
sự mê sảng được thể hiện, trong khi lưỡi bị :
- sưng enflée,
- đỏ rouge và đau nhức douloureuse,
và những màng miệng bị :
- viêm sưng enflammées.
▪ Viêm thanh quản mãn tính laryngite chronique, hoặc đau cổ họng, với một giọng khàn khàn đột nhiên và mất tiếng nói aphonie, cụ thể ảnh hưởng bởi Cây Rễ rồng 3 lá Arum triphyllum.
▪ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum cũng là lợi ích trong :
- loét thanh quản ulcération du larynx,
- và yết hầu pharynx.
▪ Đây là một phương thuốc, bên trong cơ thể và bên ngoài tại chổ, cho :
- những đau cổ họng maux de gorge đỏ nghiêm trọng.
Chủ trị : indications
● Chỉ định và sự sử dụng đặc biệt :
▪ Khàn giọng enrouement và mất tiếng aphonie, với :
- phỏng cháy brûlure,
- và co thắt cổ họng constriction de la gorge,
- và chảy nước mũi écoulement nasal,
▪ đau nhức cổ họng dữ dội, với :
- chảy máu saignement và mùi hôi thối fétide;
cảm giác :
- sung mãn plénitude,
- hoặc sưng miệng enflure de la bouche,
- cổ họng gorge,
- và lưỡi langue,
chứng sau cùng này là lưỡi màu đỏ và nhạy cảm sensible.
Kinh nghiệm dân gian :
● Lịch sử và dân gian :
▪ Một số bài tường thuật của những người dân bản địa Indiens Meskwaki nói rằng, họ chặt rễ của Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum thành miếng nạt thịt và để lại cho kẻ thù tìm thấy.
Hương vị của nó sẽ không được nhận thấy, nhưng sự tiêu thụ của thịt này sẽ là nguyên nhân để cho kẻ thù của họ đủ đau đớn để gây ra tử vong.
▪ Nó cũng được sử dụng để xác định số phận của những người bệnh bằng cách để một hạt vào trong một chén nước.
Nếu hạt quay đi 4 lần trong chiều kim đồng hồ, bệnh nhân sẽ hồi phục, nếu không thì họ sẽ không còn sống.
Rễ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được sử dụng như thuốc ngừa thai contraceptif bởi những thổ dân bản địa Bắc Mỹ Amérique du Nord.
Người ta cho rằng 1 muỗng cà phê của bột rễ sấy khô trong nước lạnh ngăn chận sự thụ thai trong vòng 1 tuần, trong khi 2 muỗng cà phê bột rễ trong nước nóng được cho là gây ra :
- một vô sinh vĩnh viễn stérilité permanente. “(Weiner)”.
▪ Một chế phẩm của rễ đã được sử dụng bởi những thổ dân bản địa Mỹ Amérindiens như chữa trị cho :
- những đau mắt yeux endoloris.
Những chế phẩm Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum cũng đã được thực hiện  để chữa trị :
- bệnh thấp khớp rhumatisme,
- viêm phế quản bronchite
- và những vết rắn cắn morsures de serpent,
cũng như để gây ra :
- vô sinh stérilité.
Rễ già của Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được sấy khô bởi những người dân bản địa Mỹ Amérique và được sử dụng để chữa trị :
- bệnh ho toux,
- cảm lạnh rhume,
- những bệnh đau mắt yeux endoloris,
- và bệnh ho gà coqueluche.
Nó cũng được sử dụng bên ngoài cơ thể cho :
- những bệnh thấp khớp rhumatismes,
- những mụn nhọt furoncles,
- và những vết rắn cắn morsures de serpent.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Độc tính Toxicité :
Một số bộ phận của Cây xanh tươi Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum là độc hại toxiques.
Nó là chất kích ứng dữ dội cho những màng nhầy nếu được nhai và dùng vào bên trong cơ thể, nguyên nhân của :
- viêm dạ dầy ruột dữ dội gastro-entérite violente,
có thể kết thúc đi đến tử vong.
▪ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum có thể là do một sự kích ứng irritation của :
- miệng bouche,
- và hệ thống tiêu hóa système digestif
và, trong những trường hợp hiếm hoi :
- sưng miệng gonflement de la bouche,
- và cổ họng gorge
có thể là đủ nghiêm trọng để gây bệnh :
- đường hô hấp affecter la respiration.
▪ Nếu Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được sấy khô đúng cách hoặc nấu chín, nó có thể được tiêu thụ như rễ củ của những loài thực vật khác.
● Chống chỉ định / Tương tác / Phản kứng bất lợi :
▪ Do bản chất tiềm năng độc hại toxique của Cây này, nó chỉ nên sử dụng bên trong cơ thể dưới sự giám sát của một người chuyên môn có khả năng thật sự .
▪ Tiêu thụ Cây sống Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum có thể gây ra :
- một cảm giác đốt cháy brûlure
trong :
- miệng bouche,
- và cổ họng gorge,
- tiêu chảy diarrhée,
- buồn nôn nausées,
- và ói mữa vomissements,
- rối loạn sự biểu hiện lời nói troubles de l'élocution,
- sưng miệng gonflement de la bouche và lưỡi langue ( có thể khép lại những đường hô hhấp voies respiratoires nếu nghiêm trọng ),
- và những mắt chảy nước mắt yeux larmoyants.
● Cảnh báo :
▪ Theo trang web Dr Koop.com, acide oxalique và chất asparagine trong Cây jack in the pulpit Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum là độc hại toxiques nếu được nuốt phải.
▪ Tất cả những bộ phận của Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum chứa oxalate de calcium gây ra một sự kích ứng irritation cho :
- miệng bouche,
- và của hệ thống dạ dày-ruột gastro-intestinal
khi được tiêu dùng, ngay sau một thời gian sau khi ăn vào, nếu nó không được chuẩn bị kỹ lưởng.
Ứng dụng :
● Sự sử dụng / Dược lý Pharmacologie:
Jack-in-the-Pulpit Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum có thể được sử dụng như :
- thuốc sát trùng antiseptique,
- làm đổ mồ hôi diaphorétique,
- long đờm expectorant,
- kích ứng irritant,
- và kích thích stimulant.
Nó được sử dụng trong hàng trăm năm để chữa trfị :
- những bệnh nhiễm khác nhau của da infections de la peau,
và làm giảm đau nhức nói chung, bao gồm :
- những mắt đau bệnh yeux endoloris,
- và những đau đầu maux de tête.
● Liều lượng / Công thức :
▪ Một thuốc dán đắp cataplasme hoặc thuốc mỡ pommade của rễ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum, nghiền nát có thể được sử dụng để chữa trị :
- chàm, nấm ngoài da teigne,
- và những bệnh nhiễm nấm tại chỗ khác infections fongiques topiques.
▪ Áp dụng một thuốc dán đắp cataplasme trên trán cũng có thể giúp chống lại :
- những đau đầu maux de tête.
▪ Một thuốc bổ tonique của rễ sấy khô có thể được sử dụng để làm giảm :
- những triệu chứng cảm lạnh symptômes du rhume.
Bột rễ có thể được dùng trong liều của 10 hạt, gia tăng, nếu cần thiết,
- đến 20 hoặc 30 hạt, và lặp đi lặp lại tất cả những 3 hoặc 4 giờ.
Nó có thể dùng trong chất nhầy ngọt mucilage sucré, của sirop hoặc mật ong miel.
● Ứng dụng khác :
Âm nhạc, Tinh bột Amidon.
▪ Một tinh bột thu được từ những rễ Cây Rễ rồng 3 lá Arisaema triphyllum được sử dụng như :
- chất làm vải cứng raidisseur cho quần áo. Nó rất khắc kỵ với da, gây ra :
◦ những mụn nước cloques,
và phồng gonflements cho da.
▪ Những hạt được sử dụng trong những lục lạc ( trống lắc ) hochets.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Củ tubercule - cần phải sấy thật khô hoặc nấu chín trước khi ăn.
▪ Những rễ có thể cắt thành miếng rất mỏng và để khô trong nhiều tháng, sau đó nó được tiêu thụ như khoai tây chiên croustilles, nghiền vụn để làm thành bột ngủ cốc céréale hoặc nghiền nhuyễn thành bột có hương vị cacao để làm bánh biscuits, những bánh ngọt …v…v….
▪ Nó cũng có thể nghiền nát thành bột, sau đó để khô trong nhiều tuần, khi nó trở nên an toàn để sử dụng.
▪ Một số cá nhân sản xuất hạt phải chế biến thành những thực phầm để lưu trữ trong nhà họ cũng như những thân củ nạt dưới đất có dạng củ hành tây oignon, mà đã được đặt tên là củ cải Ấn Độ.cho Cây này.

Nguyễn thanh Vân