Tâm sự

Tâm sự

lundi 13 avril 2015

Quyển bá trường sinh - Spikemoss

Spikemoss - Lesser clubmosses
Quyển bá trường sinh
Selaginella tamariscina (Beauv.) Spring
Selaginellaceae
Đại cương :
Loài Quyển bá Selaginella là một loài thực vật bò trên đất hoặc leo đứng trên những cây khác  với những lá đơn, hình vảy ( lá nhỏ microphylls) trên những nhánh của những thân bao gồm những rễ.
Những Cây cho ra dị bào tử heterosporous (đại bào tử mégaspores và vi bào tử microspores), và có những cấu trúc gọi là như bẹ ôm lấy thân ligules, tăng trưởng giống như những vảy gần bên dưới mặt trên của mỗi lá nhỏ microphyll và bào tử diệp sporophylle.
▪ Cây Ráng Quyển bá Selaginella thường thấy trên những vùng đá vôi, khoảng ( 100- ) 500 – 1500 ( -200 ) m, so mới mực nước biển. Ở Tàu, Ấn Độ, Nhật Bản, Viêt Nam, Đại Hàn, Philippines, Nga, Thái Lan…
▪ Trong những điều kiện khô ráo, một số loài của Selaginella cuộn lại như quả bóng, màu nâu ( hiện tượng này được biết dưới tên poikilohydry ). Trong trạng thái này, Cây có thể tróc gốc.
Trong những điều kiện ẩm những quả bóng màu nâu trở nên màu xanh, bởi vì vậy mà cây Quyển bá cũng còn được gọi là “sống lại résurrection” (như trong loài Selaginella bryopteris).
▪ Toàn Cây Quyển bá có thể thu hoạch suốt năm. Rửa sạch cắt bỏ rễ và phơi khô. Cũng có thể chế biến thành than bằng cách đun nóng với ánh sáng nhỏ cho đến khi trở thành đen, rắc vào với nước sạch và phơi khô lại đưới nắng mặt trời.
Căn hành hay phần thân giống như trục chính dùng để nhân giống. Tốt nhất, bứng trồng với những cây sống.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ  thân dẹp,  nhánh thành hình bó như một thân già to, phần chót lưỡng phân nở bày ra trên mặt đất lúc ẩm và xếp cuộn lại lúc khô.
Thân phân nhánh và trên phân nửa trên, hình lông chim hoặc giao tử thực vật phân nhánh, thân hình trụ hơi thon, không có rãnh.
Vài nhánh; nhánh lá chính 2-5 cặp, 2 hoặc lần phân nhánh, cành thưa và đều nhau, nhánh mang lá lưng-bụng phẳng, nhánh cuối cùng 1,4 đến 3,3 mm rộng, bao gồm cả lá.
Rễ, xơ bên dưới, màu nâu, phân tán hay tập trung trong những thân ngắn. Cấu trúc dễ gảy, không mùi và hơi có mùi hương.
lưng hay lá bên, như vảy nhọn xếp đè lên nhau, không đối xứng, dạng ellip, khoảng 1,05 đến 2,05 mm dài và 0,3 đến 0,9 mm rộng, bên dưới tù, bìa phiến lá có răng nhỏ ( hơi có lông bên dưới ), có râu ở đỉnh, lan rộng hay song song với trục.
Lá bụng hay lá trung tâm, hơi tăng dần, xếp chồng chéo lên nhau, không đối xứng, hình bầu dục đến tam giác, thuôn dài 1,5 đến 2.5 mm dài và 0,5 đến 1,2 mm rộng, có râu ở đỉnh, bìa có răng nhỏ hay có lông mịn bên dưới, bên dưới đối diện với đỉnh mở ra rất rộng, xếp chồng lên thân và nhánh, bìa có răng.
Gié bào tử nang strobiles, cô độc, ở ngọc nhánh, hình vuông 12-15 mm dài và 1,2 và 2,6 mm rộng;
Bào tử diệp, đồng dạng, bìa trắng, trong suốt, hình bầu dục-tam giác, bìa phiến có răng cưa không đều nhau, có màng mỏng, đỉnh nhọn.
Đại bào tử macrospore to khoảng 400 µ nằm trong bào tử nang cái megasporanges mang ở nhánh mang bào tử cái macroprothallium = prothalle femelle ), nhiều hay ít được phóng thích ở hai bên gié bào tử nang strobiles, màu vàng nhạt.
Tiểu bào từ microspore to 50 µ nằm trong bào tử nang đực microsporanges, mang ở nhánh mang bào tử đực microprothallium =  prothalle mâle ), hình ellip nằm ngang, tương đối dày, tiểu bào tử màu vàng cam.
Bộ phận sử dụng :
Toàn cây bỏ rễ, lá.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Những thành phần chánh chứa trong Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina :
- flavonoïdes,
- và biflavonoïdes,
trong đặc biệt :
- amentoflavone,
- 2,3-dihydroamentoflavon,
- hinokiflavon,
- robustaflavon,
- sotetsuflavone,
- neocryptomerin,
- podocarpusflavon,
- quercétine,
- apigénine,
- và lutéoline.
Biflavonoïdes amentoflavone là một flavonoïde apigénine dimère (Zhang và al, 2011;. Zheng và al., 2011).
▪ Ngoài ra, trong những Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina còn chứa :
- những sắc tố pigments ( selaginelliny và dẫn xuất của nó ),
- những lignanes,
- và những stérols ( Cheng và al, 2008;.. Gao và al, 2007 ).
và những đường saccharides, như là :
- tréhalose,
- D-glucose,
- dfructose,
- và d-rhamnose.
▪ Nghiên cứu phân lập được 4 hợp chất của phần đoạn n-BuOH của trích xuất trong nước :
- tamariscinodise B,
- adénosine,
- guanosine,
- arbutine.
• Nghiên cứu phân lập 5 hợp chất, đã làm sáng tỏ như :
- acide carnaubic,
- Selaginellin,
- 5,7,4 ', 5' ', 7' ', 4' '' - hexahydroxy-3 ', 8' '- biflavone,
- β-D-fructofuranose- (2-1) -α-D-Glucopyr-anoside,
- α-D-mannopyranose- (1-1) -α-D-mannopyranoside.
Đặc tính trị liệu :
▪ Một khi đã được sấy khô, những lá của Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina, đặc biệt ở những cây Ráng non kết hợp hoặc cuộn lại như một tổ chim hoặc như một cây Trắc bá nhỏ. Có màu nâu vàng nhạt, khi mà được làm ẫm lại, chúng lại nở lan ra và trở thành màu xanh tươi.
▪ Bởi những Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina dường như không bao giờ chết, vì thế mà có tên gọi là :
- “ Résurrection Fern ” Ráng sống lại bất tử,
và được xem như :
- kéo dài tuổi thọ prolongeant la vie.
▪ Toàn Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina, là thuốc :
- làm se thắt astringent,
- và cầm máu hémostatique.
▪ Một nước nấu sắc décoction được sử dụng trong chữa trị :
- những xuất huyết do chấn thương saignements traumatique,
- ho ra máu hémoptysie trong những bệnh phổi maladie pulmonaire,
- xuất huyết dạ dày-ruột gastro-intestinal,
- băng huyết métrorragies,
- đi tiểu ra máu hématurie,
- máu âm hộ chảy ra sau khi sinh ( máu đẻ hay ố lộ ) lochies post-partum,
- sa trực tràng prolapsus rectum,
- và bệnh huyết trắng leucorrhée.
▪ Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina cũng được sử dụng trong chữa trị :
- ho toux,
- những kết thạch gravier,
- và những đau đớn của những người già.
▪ Cây Ráng Quyển bá có hành động để :
- thúc đẩy sự lưu thông máu circulation sanguine,
- và kích thích dòng chảy của kinh nguyệt flux menstruel.
▪ Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina  (được đốt thành than carbonisé ), sử dụng để chữa trị trong trường hợp :
- khạc ra máu cracher du sang,
- xuất huyết tử cung bất thường saignements utérins anormaux,
- trong phân có máu tươi  hematochezia, ( xuất huyết qua hầu môn với máu tươi đỏ thường có thể kết hợp cả hai hematocheziarectorrhagia xuất huyết qua trực tràng ).
- sa trực tràng prolapsus du rectum.
● Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina được sử dụng trong y học truyền thống phương Đông, để chữa trị những vấn đề khác nhau, thí dụ như :
- tiểu ra máu hématurie,
- viêm gan hépatite,
- đau bụng kinh dysménorrhée,
- bệnh tiểu đường diabète,
- và những vấn đề của da problèmes de peau (Lee và  al, 2009;.. Zheng và al, 2011).
▪ Hìện nay, Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina là một phần trong dược điển của Tàu ( pharmacopée chinoise 2005 ) (Liu và al., 2010).
▪ Nghiên cứu dược lý pharmacologiques và lâm sàng hiện đại clinique đã xác nhận một số nhất định những hiệu quả cửa y học như :
- chống viêm anti-inflammatoire,
- chống ung thư anti-cancéreux,
- chống siêu vi khuẩn antiviral,
- giảm đau analgésique,
- hạ huyết áp hypotensive,
- giảm hạ đường máu hypoglycémique,
- và điều hòa hệ miễn nhiễm immunomodulateur (Jing và al., 2010).
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Sử dụng làm ngưng :
- chảy máu bên ngoài của bất kỳ nguyên nhân purge externe.
Bột hoặc băng những vết thương loét với những nguyên liệu Quyển bá dùng làm thuốc hạt.
▪ Cây Ráng Quyển bá Selaginella thêm Thuja, dùng để chữa trị trường hợp :
- xuất huyết máu đỏ tươi hématochézie do mụn nhọt trong vùng hậu môn ( bệnh nhân không thể ngồi được ).
hoặc,
-  xuất huyết tử cung ngoài kinh nguyệt utérus extra-menstruel.
Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina bào chế thêm lá Thuja, nghiền nát thành bột, thêm thước nóng.
Nước ngâm trong nước đun sôi infusion để uống.
▪ Trong Tàu, sử dụng cho :
- viêm khí quản trachéite,
- và những ung bướu khối u tumeurs;
cũng dùng cho :
- chứng vô kinh aménorrhée,
- và xuất huyết ruột intestin hémorragie.
và đồng thời cũng sử dụng cho :
- bệnh sốt fièvre,
- giải độc désintoxication,
- và động viên của sự lưu thông máu circulation sanguine.
▪ Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina đã được sử dụng trong y học truyền thống Đại Hàn Corée để chữa trị :
- phân có máu selles sanglantes,
- tiểu ra máu hématurie,
- và sa hậu môn prolapsus de l'anus.
Nghiên cứu :
● Thành phần amentoflavone :
Thực hiện trong ống nghiệm in vitro và trên cơ thể sinh vật in vivo của những hiệu quả chống :
- ung bướu khối u antitumoraux
đã phát hiện thành phần amentoflavone chống lại một số nhất định những loại khác nhau của những :
- tế bào ung thư cellules cancéreuses ( Gao và al, 2007;.. Jing và al, 2010;. Yang và al, 2007).
Isocryptomerinamentoflavone cũng có một hoạt động :
- kháng khuẩn antifongique ( Jung và al., 2006;. Lee và al, 2009 ).
▪ Trong một thí nghiệm trên chuột, đã tìm thấy những hiệu quả :
- hạ đường máu hypoglycémique,
- và hạ mỡ trong máu hypolipidémique
của flavonoïdes phân lập từ Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina (Zheng và al., 2011).
● Độc tính và chống ung thư anticancéreux của trích xuất Cây Quyển bá Selaginella tamariscina trên mô hình chuột :
Hiệu ứng độc tính toxicité và chống ung bướu khối u antitumorale của trích xuất éthanol từ Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina (STE), một Cây được sử dụng rộng rãi trong y học truyền thống, đã được khảo nghiệm trong những mô hình chuột.
- Trong thử nghiệm độc tính cấp tính với liều duy nhất, sử dụng cho uống 10 000 mg kg-1 , trích xuất Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina không gây ra bất kỳ tử vong nào.
- Nghiên cứu độc tính bán cấp tính cho thấy rằng chữa trị với liều 250, 1000 và 3000 mg kg-1 ngày-1 trong 30 ngày liên tiếp, đã không làm thay đổi trọng lượng cơ thể, cũng không thông số huyết học ở những chuột BALB / c.
- Hiệu quả chống ung bướu khối u anticancéreux của trích xuất Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina đã được đánh giá ở chuột BALB / c được cấy với những tế bào ung thư carcinome phổi Lewis..
- Cho uống trích xuất Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina không thể ngăn chận sự hình thành khối u tumeur, nhưng cung cấp mạnh sự ức chế sự tăng trưởng ung bướu khối u .
● Chống gây đột biến Anti-mutagène / Chất phá hủy ung bướu tumoricide :
Trong Đại Hàn, Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina là một Cây thuốc truyền thống để chữa trị cho những bệnh nhân mắc bệnh ung thư nặng ở phương Đông.
Nó được cho là thay đổi sự biểu hiện nhiễm thể di truyền gen và sự sản xuất của cytokines ( là những chất tan trong nước những tín hiệu của những tế bào được tổng hợp bởi hệ thống miễn dịch hoặc do những tế bào khác hay những mô …).
Nó cũng giảm đường máu glycémie và những mức độ của oxy hóa chất béo không bảo hòa peroxyde lipidiques.
Những biflavones được phân lập từ loài liên quan với Quyển bá Selaginella gây ra cho cả  những hiệu quả hủy diệt khối u tumoricides chống lại :
- những dòng tế bào khối u người tumeur,
- và một hoạt động chống đột biến anti-mutagène.
Có những nghiên cứu diển ra cho những hiệu quả ngăn ngừa hóa trị liệu trong những bệnh ung thư dạ dày cancers de l'estomac.
● Tế bào tự hủy apoptose cellulaire :
Lập trình tế bào tự hủy apoptose là quan trọng trong quá trình điều hòa cơ thể để duy trì những hằng số khác nhau của môi trường bên trong cơ thể ( tất cả dịch thể cơ thể ) giữa :
- những giới hạn bình thường homéostasie cellulaire,
- và chống gây ung thư anticarcinogenesis.
Một nghiên cứu cho thấy rằng dưới áp lực của oxy hóa oxydatif có thể tham gia trong khả năng gây độc tế bào cytotoxicité của Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina và Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina gây ra lập trình tự hủy apoptose cho những tế bào HL-60,  chủ yếu qua trung gian bởi đường kích hoạt của những “ caspases ” là aspartic acid đặc biệt, những phân hóa tố cystein proteases, là một nhóm protease cystein có vai trò quan trọng trong quá trình viêm, mà còn trong quá trình lập trình tự hủy tế bào và hoại tử .
● Giảm trương lực mạch máu động mạch  vasorelaxation :
Nghiên cứu mang lại một biflavonoïde hoạt động, amentoflavone và những kết quả cho thấy rằng nó thư giản những cơ trơn muscles lisses qua lớp nội mạc endothélium phụ thuộc vào oxide nitric cGMP truyền tín hiệu, với sự tham gia có thể của kênh Kalium K và Calcium Ca.
● Amentoflavone / Chống ung thư Anti-Cancer :
Thành phần Amentafkavine và những trích xuất của Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina đã được truy tìm để chống lại những 5 tế bào ung thư cancéreuses.
Những thử nghiệm trong ống nghiệm in vitro cho thấy một sự ức chế của sự tăng sinh prolifération của những tế bào :
- 60 HL ( tế bào bệnh bạch huyết người leucémie ),
- MCF-7 ( tế bào ung thư vú người cancer du sein humain),
- HeLa ( tế bào ung thư biểu mô cổ tử cung người carcinome cervical humain ),
- những tế bào ung thư gan người carcinome d'hépatome humain,
- và PANC-1 của những tế bào ung thư tuyến tụy tạng người cancéreuses ( pancréatiques ).
● Chống dị ứng Anti-allergique :
Nghiên cứu trích xuất éthanol của Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina cho thấy rằng nó có thể ức chế hệ thống sóc choc phản vệ anaphylactique của chuột và liều phụ thuộc ngăn chận những phản ứng quá mẫn anaphylaxie và phản ứng da thụ động có nguyên nhân bởi những chất dị ứng histamine từ bên ngoài và sérotonine.
Những kết quả cho thấy trích xuất Cây Ráng Quyển bá Selaginella ức chế phản ứng dị ứng tức khắc réactions allergiques và cho thấy Cây Ráng Quyển bá Selaginella tamariscina, một trong những flavonoïdes hoạt động thể hiện một phương thuốc có tiềm năng cho những bệnh liên quan đến dị ứng allergie.
Thực phẩm và biến chế :
- Dinh dưởng Nutrition.
- Ăn được : Lá non và rễ non.

Nguyễn thanh Vân

samedi 11 avril 2015

Sơn cúc 3 thùy - Herbe Soleil

Creeping Oxeye -  Herbe Soleil
Sơn Cúc 3 thùy
Sphagneticola trilobata (L.) Prusk
Wedelia trilobata (L.) Hitchc
Asteraceae
Đại cương :
Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata, còn có những tên thông thường khác như :
Bouton d'or, herbe-à-femme….thuộc Cúc Asteraceae.
Nguồn gốc : Cây có nguồn gốc ở Mexique, Trung mỹ Amérique centrale như là ( Belize, Costa Rica, Guatemala, Honduras, Nicaragua và Panama), và trong Caraïbes, nơi đây Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata được ghi nhận như là một cây cỏ dại ở Trinidad, Puerto Rico, République dominicaine, Jamaïque, Panama và nam Mỹ nhiệt đới Amérique du Sud ( như là Guyane française, Guyana, Surinam, Venezuela, Brésil, Bolivie, Colombie, Equateur và Pérou).
Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata được tịch hóa vào trong Nam Phi Afrique du Sud, Floride, Louisiane, Hawaii, Puerto Rico và những đảo Vierges.
Cây đã du nhập vào trong nhiều nước trong vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm Australie (Đông Nam Queensland và Đông Bắc Nouveau-Galles du Sud),
Những đão Thái Bình Dương Pacifique ( như Samoa américaines, những đảo Cook, Fidji, Polynésie française, Guam, Kiribati, những đảo Marshall, Nauru, Nioué, Nouvelle-Calédonie, Palau, Samoa, Tonga và Hawaï), Malaisie, Indonésie, Thaïlande, Inde, Papouasie-Nouvelle-Guinée.
Hệ sinh thái : Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata mọc tốt trong những vùng mở, cho đến 700 m hay hơn cao hơn ( và đến 1300 m thấy ở Polynésie pháp ), mặc dù nó là một loài ở ven bờ biển.
Loài này là một loài cỏ dại trong những vùng canh tác nông nghiệp, dài dọc theo đường lộ và những con đường mòn, trong những khu vực mở, những khu đất thải rác và những đồng cỏ tự nhiên, những nơi có sự xáo trộn.
Thaman (1999) đã báo cáo rằng Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata, tự nhiên hóa trong nhiều đảo ở Thái Bình Dương và trở nên một loài thực vật xâm chiếm dài theo những dòng suối, những con kinh, ven những bờ rừng ngập mặn mangrove và là thực vật chúng ven bờ biển.
Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata thích ứng với nhiều điều kiện và bao gồm những thế đất đá thô, những hố mương thoát ẫm và thậm chí chịu được những mức độ nhất định của sự chà đạp.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ, thân thảo lâu năm, bò hoặc leo. Cỏ dị dạng này thường tạo ra một lớp phủ trên mặt đất từ 15 đến 30 cm cao, nhưng đôi khi cũng đạt được đến 70 cm, bò dài khoảng 2 m. Nó cũng có thể leo lên trên những khoảng cách ngắn của những cây khác hoặc những thực vật khác.
Thân cây có hình tròn, màu xanh lục hoặc màu đỏ có thể có những lông thô. Thường xuyên phát triển những rễ phụ ở những nốt của cây. Trong thời gian ngắn, cây hơi thẳng, hoa được mang trên những nhánh leo.
, màu xanh bóng sáng, mọc đối hay hơi đối, lá đơn, hơi nạt thịt ( mọng nước ) trong tự nhiên, không lông, dạng ellip hay bầu dục, không cuống, hoặc mang trên 1 cuống ngắn, kích thước khoảng 2-9 cm dài và 2-5 cm rộng, nhọn ở đỉnh, có cánh hoặc không cuống ở đáy, thường có 3 thùy không đều nhau, phiến lá bìa có răng cưa. Gân lá chúi xuống
Hoa, đơn, đứng, xuất hiện ở ngọn thân và ở nách cành ( thân ), 2-9 cm dài và 2 đến 4 lá bắc bao bên ngoài hình thành một lớp bọc ngoài ở bên dưới hoa.
Mỗi hoa đầu có 8-13 cánh hoa màu vàng nhạt, 6-15 mm dài với 1 đến 3 đỉnh mịn có răng và nhụy cái nhỏ. Ở trung tâm hoa đầu có nhiều hoa nhỏ hình ống màu vàng 4-5 mm dài và lẫn lộn với những lá bắc bao ngoài. Những tia và những đĩa hoa nhỏ cả hai đều vàng. Bên dưới những hoa đầu được bao bọc bởi những hàng lá bắc hẹp màu xanh khoảng 1 cm dài.
Trái, bế quả, 4-5 mm dài, hình thuôn dài, trên cùng một vòng tua ngắn, bế quả màu nâu và có cấu trúc bề mặt xù xì bao phủ trái khô và cứng..
Tuy nhiên rất ít hạt đạt đến mức trưởng thành trong những cây trồng ở Úc.
Trái được phát tán bởi nước.
Bộ phận sử dụng :
Toàn Cây, thân, lá, hoa
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Nghiên cứu thành phần hoạt tính sinh học bioactifs sesquiterpéniques lactones chủ yếu được phân lập :
- trilobolid-6-O-iso-butyrate A và B.
▪ Từ hoa, cấu trúc của  trilobolide-6-O-isobutyrate, cho thấy một sườn :
- eudesmanolide sesquiterpénique.
chứa :
- diterpène ( acide kaurenoic ),
- lactones eudesmanolide,
- và lutéoline (trong thân .)
Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata chứa :
- acétylènes,
- và dẫn xuất của acide kynurénique
● Báo cáo hóa chất thực vật phytochimiques :
▪ Những trao đổi chất biến dưởng thứ cấp métabolites secondaires của Cây này, chủ yếu chứa :
- terpénoïdes,
- những flavonoïdes,
- và polyacétylènes
cũng như :
- những stéroïdes.
▪ Những thân Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata gồm có :
- lactones eudesmanolide,
- lutéoline,
- và acide kaurenoic .
Nó có những lớp hóa chất thực vật phytoconstituents khác nhau như sau :
- Sesquiterpénoïdes,
- triterpénoïde,
- và diterpénoïde.
từ những bộ phận trên không và hoa của Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata:
- stérols,
- flavonoïdes,
- des dérivés de benzène.
● Thành phần Wedelolactone đã được ghi nhận cho những hoạt động :
- bảo vệ gan hépatoprotecteur,
- kháng khuẩn antibactérien,
- chống xuất huyết anti hémorragique,
- và hoạt động chống động kinh antiépileptique.
▪ Sự ước tính cần thiết của wedelolactone trong giống Wedelia để khai thác hoạt tính sinh học của nó bioactivité.
Wedelolactone đã ước tính bởi hiệu suất cao kỷ thuật sắc ký lớp mỏng chromatographique. Tiêu chuẩn wedelolactone cho thấy yếu tố duy trì (Rf) trị giá 0,56 và thành phần này được tìm thấy với sự hiện diện trong thử nghiệm trích xuất éthanolique của Wedelia trilobata.
Những gíá trị Rf facteur de rétention thu được :
- wedelolactone,
trong những trích xuất đã được tìm thấy là 0,56.
Lượng wedelolactone đã được ước tính bằng cách so sánh những vùng đỉnh cao của tiêu chuẩn và hiện diện trong trích xuất éthanolique.
Hàm lượng wedelolactone hiện diện trong trích xuất cho thấy là 0,084% khối lượng / khối lượng (w / w).
▪ Những dầu thiết yếu là những sản phẩm có giá trị của cây thường là những thành phần phức tạp gồm những chất dễ bay hơi chứa trong cây và nhiều hay ít thay đổi trong quá trình chế biến.
Phần lớn những thành phần của dầu thuộc của những nhóm lớn của terpènes.
▪ Dầu thiết yếu thu được từ những của Cây Sơn cúc Wedelia trilobata đã được phân tích bởi  GC / MS :
- pinène α- (supérieure à 30%),
- phellandrène α- (17,4%),
- và limonène (16,3%)
là những thành phần chủ yếu.
▪ 14 thành phần hóa chất bay hơi đã được xác điịnh từ những dầu thiết yếu của những , thânhoa Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata
Dầu thiết yếu đã được đặc trưng hóa bởi tỹ lệ phần trăm cao của :
- sesquiterpènes hydrocarbures (SH) (25,5 đến 86,4%),
- monoterpènes d'hydrocarbures (HM) (22,9 đến 72,3%),
- và lượng thấp của sesquiterpènes oxygénés (OS) (0.0- 7.4%).
▪ Những thành chánh của dầu dễ bay hơi là :
- germacrène D (11,9 đến 35,8%),
- α-phellandrène ( từ 1,4 đến 28,5%),
- α-pinène  ( từ 7,3 đến 23,8%),
- E-caryophyllène  ( từ 4,6 đến 19,0%),
- bicyclogermacrene ( từ 6.0 - 17,0%),
- limonène ( 1,8 đến 15,1%),
- và α-humulène (4,0 đến 11,6%).
▪ Hàm lượng của những :
- monoterpènes α-pinène,
- α-phellandrène,
- và limonène,
gia tăng từ giữa mùa mưa đế giữa mùa khô năm sau.
▪ 11 hợp chất đã được phân lập từ những phần đoạn acétate d'éthyle và chloroforme và người ta tách riêng bằng cách sử dụng bằng 1 sắc ký trên gel, tái tạo tinh thể recristallisation, Sephadex LH-20 và al.
Trên cơ sở của những IR, SM, RMN 1H, RMN 13C, HMBC, của những dữ liệu hóa-lý và Noesy, đã được làm sáng tỏ như :
- Grandiflorenic acid (1),
- 1α-Acetoxy-6α, 9β-dihydroxy- 4, 10α- dimethyl-5αH, 7αH, 8αH-endesm-3-en-8, 12-olide (2),
- 1β-Acetoxy-4α-hydroxyl -6β-isobutyryloxy-9α- isovaleryloxy prostatolide (3),
- 16α-Hydroxy-ent-kauran-19-oic acid (4), (3R, 4R, 6R)-3, 6-dihydroxy- 1-menthene (5),
- Trilobolide-6-O-isobutyrate (6),
- 1β- Acetoxy-4α, 9α-dihydroxy-6β- isobutyroxy prostatolide (7),
- 16β,17-Dihydroxy-ent-kauran- 19-oic acid (8),
- Daucosterol (9),
- Protocatechualdehyde (10),
- Caffeic acid (11).
Tất cả những hợp chất được phân lập từ Cây Sơn cúc Wedelia trilobata cho lần đầu tiên ngoại trừ 6 và 7,
▪ Những hợp chất 2 và 3 là lactones sesquiterpéniques mới, được đặc tên là :
- Trilobolide A,
- và 1β-Acetoxy-4α-hydroxy -6β-isobutylryloxy- 9α-isovaleryloxyprostatolide.
▪ Hợp chất 2 và 3 hiển thị hoạt động :
- chống ung thư anticancéreuse trên phổi.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata được sử dụng để chữa trị :
- bệnh viêm gan hépatite,
- khó tiêu indigestion
do nguồn gốc của :
- gan lười biếng  foie paresseux,
- phân trắng selles blancs,
- nước tiểu nóng cháy brûlant dans l'urine,
- và ngưng nước tiểu arrêt de l'urine,
- và những nhiễm trùng infections
Nấu sôi 1 tách Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata tươi ( gồm thân, và những hoa ) trong 3 tách nước trong vòng 5 phút và uống 1 tách nóng trước mỗi bữa ăn.
Thân và những Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata tươi nấu chín được sử dụng để tắm, cho những người mắc phải :
- đau lưng maux de dos,
- chuột rút cơ bắp crampes musculaires,
- bệnh thấp khớp rhumatismes,
- hoặc sưng gonflements,
Đun sôi 2 nắm lớn thân tươi trong 2 lít nước, trong 10 phút .
Cho rằng để kéo nhiệt ra khỏi cơ thể ( giải nhiệt ).
▪ Cho những bệnh khớp xương articulation đau nhức của bệnh viêm khớp arthrite,
- những lá Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata tươi được nghiền thành bột nhão được trải trên một tấm vải và áp dụng đắp trên chổ liên hệ và bao cẩn thận an toàn với lớp phủ nóng trong Nam Mỹ.
▪ Cây Sơn cúc Wedelia trilobata này đã được báo cáo là :
- kháng khuẩn antibactérien,
- chống ung bướu khối u antitumoral,
- bảo vệ gan hépatoprotecteur,
- và hoạt động trên hệ thống thần kinh trung ương trầm cảm systerm de dépresseurs du système nerveux central.
▪ Những được bao gồm trong một phương thuốc chống :
- bệnh cảm lạnh rhume,
Hoa và một phần của Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata đã được sử dụng ở những người phụ nữ cho mục đích của những trường hợp :
- vô kinh aménorrhée,
- sanh con accouchement,
- và phá thai avortement,
và để :
- trục nhau thai sau khi sanh placenta après la naissance.
▪ Một nước nấu sắc décoction đậm của toàn Cây Sơn cúc Wedelia trilobata được sử dụng để chữa trị :
- những bệnh cảm lạnh nghiêm trọng rhumes graves
Cây được kết hợp với Cây Thơm ổi Lantana camara, dùng như một trà hoặc một sirop, như một phương thuốc cho :
- bệnh cảm lạnh rhume
▪ Cây Sơn cúc Wedelia trilobata, theo truyền thống được sử dụng để chữa trị :
- những bệnh nhiễn trùng infections,
- chứng khó tiêu indigestion,
còn chữa trị :
- bệnh viêm gan hépatite.
Cây cho thấy những hiệu quả :
- chống nhiễn độc gan anti-hépatotoxiques,
và bảo vệ đáng kể chống lại :
- chất tétrachlorure de carbone, gây ra làm phá hủy gan foie.
▪ Coe và Anderson (1996) đã báo cáo rằng, những trái, , và thân Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata được sử dụng khi :
- sanh đẻ accouchement,
và trong chữa trị :
- những vết cắn morsures và vết chích piqûres,
- bệnh sốt fièvre,
- và nhiễm trùng infection.
▪ Những bộ phận trên không của Cây Sơn cúc, giàu chất terpénique, dẫn từ một chất diệt khuẩn bactéricides xác định bởi những trích xuất khảo sát thử nghiệm trên những vi khuần
- gram+ :
( bacilus subtilis, staphylococcus aureus, epidermitis ),
- và gram  :
 ( Proteus vulgaris, pseudomonas aeruginosa, salmonella và shigalla  sonnei )
▪ Thành phần hoạt chất chánh trong Cây Sơn cúc Wedelia trilobata được gọi là :
- một coumestan wedelolactone (Wagner và al., 1986).
Do sự hiện diện của những thành phần hoá học hoạt động như là :
- n-hexane,
- và acétate d'éthyle
trong trích xuất của Cây Sơn cúc Wedelia trilobata, thể hiện một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne chống lại :
- Bacillus subtilis,
- Mycobacterium smegmatis,
- Staphylococcus aureus,
- Staphylococcus epidermidis,
- Proteus vulgaris,
- Pseudomonas aeruginosa,
- Salmonella groupe C,
- Salmonella paratyphi,
- và Shigella sonnei (Taddei và Romero, 1999).
Cây Sơn cúc Wedelia trilobata cũng theo truyền thống sử dụng để :
- loại bỏ nhau thai placenta sau khi sanh.
▪ Sureshkumar và al. (2007) cũng báo cáo có hiệu quả như :
- giảm đau analgésique, trong những nghiên cứu trên chuột.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong y học truyền thống của Suriname sử dụng thân, hoa của Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata nấu chín với nước, để chữa trị :
- viêm gan hépatite,
- khó tiêu indigestion, do gan lười biếng foie paresseux,
- phân trắng tabourets blancs,
- nước tiểu nóng cháy brûlant dans l'urine,
- và ngưng nước tiểu arrêt de l'urine,
- và nhiễm tùng infections.
▪ Những bộ phận trên không của Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata này được sử dụng trong y học truyền thống trong Trung Mỹ Amérique centraleCaraïbes chống lại :
- bệnh viêm phế quản bronchite,
- bệnh cảm lạnh rhume,
- đau bụng abdominales,
- đau bụng hành kinh dysménorrhée,
và thậm chí như :
- một chất tăng cường khả năng sinh sản exhausteur de la fertilité.
▪ Trong y học dân tộc, Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata được dùng để chữa trị :
- đau lưng mal de dos,
- chuột rút cơ bắp crampes musculaires,
- bệnh thấp khớp rhumatismes,
- những vết thương khó trị blessures tenaces,
- vết thương loét plaies,
- và sưng gonflements,
- và đau khớp xương viêm khớp douleurs articulaires arthritiques.
▪ Ở Caraîbes sử dụng những nghiền nát trong kết hợp với những loài khác để :
- trục nhau thai placenta.
Được biết trong tất cả những người dân Caraîbe dùng để :
- thúc đẩy có kinh nguyệt règles,
- và làm dịu đau douleurs.
▪ Sử dụng trong Martinique để chữa trị :
- bệnh sa tử cung, tử cung sệ xuống descente de matrice,
- bệnh sởi rougeole,
- viêm inflammation,
- bệnh cúm grippe,
- và bệnh gan hépatiques.
▪ Ở Trinité-et-Tobago, được sử dụng cho những vấn đề của :
- sinh dục reproduction,
- vô kinh aménorrhée,
- và đau bụng khi hành kinh dysménorrhée.
▪ Trong nam Mỹ Amérique du Sud, sử dụng để chữa trị :
- những triệu chứng bệnh cảm lạnh symptômes du rhume,
- và bệnh cúm grippe;
- những bệnh sốt fièvres,
- và những bệnh viêm inflammations.
▪ Những thổ dân Indiens Miskito của Nicaragua orientale, sử dụng những lá Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata để chữa trị :
- những rối loạn thận dysfonctionnement du rein,
- lạnh froid,
- những vết thương da cá nhám blessures galuchat,
- những vết rắn cắn morsures de serpent,
- lọc máu purge,
- và chứng vô kinh aménorrhée.
- bệnh tiêu chảy diarrhée,
- và sạn thận calculs rénaux,
Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata, được sử dụng ở Hong Kong như một thảo dược thay thế cho Wedelia chinensis, một thuốc truyền thống tàu sử dụng để chữa trị :
- bệnh cảm lạnh rhume,
- bệnh viêm gan hépatite,
- chứng khó tiêu indigestion
- và bệnh nhiễm trùng infections.
▪ Tại Việt Nam, Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata được sử dụng để chữa trị :
- bệnh sốt fièvre,
- và bệnh sốt rét paludisme.
▪ Trong Thaïlande dùng cho :
- bệnh đau đầu maux de tête.
Những tươi được sử dụng để :
- áo bên ngoài những vết loét ulcères và những nhọt ung mủ abcès,
▪ Trong Malaisie cũng dùng như thuốc dán cao cataplasme để cho :
- giản tĩnh mạch varices,
- và những vết chích của những côn trùng piqûres d'insectes.
▪ Ngoài ra, những rễ tươi hoặc nấu chín của Cây Sơn cúc Wedelia biflora được sử dụng như :
- thuộc dạ dày stomachique,
- hạ nhiệt fébrifuge,
- dịu đau trấn thống emménagogue,
- để kiểm tra sự bài tiết dịch âm đạo sécrétions vaginales,
và như một phương thuốc chống :
- một sự co thắt, tức ở ngực oppression thoracique,
- và chóng mặt vertige gây ra bởi ăn phải cá độc và cua .
Nghiên cứu :
● Hoạt động chống bệnh tiểu đường Antidiabétique :
Chuột albinos đực bệnh tiểu đường diabétiques gây ra bởi tiêm vào tĩnh mạch streptozotocine STZ (45 mg / kg, i.v ( intraveineuse )) đã được chữa trị bởi cho uống trích xuất Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata ( 50 mg / kg).
Người ta tìm thấy, một sự giảm những mức độ :
-  đường glucose trong máu,
- và cải thiện tăng trọng lượng kèm theo một sự phục hồi đáng kể của sự giảm vitamine C,
- và giảm glutathion trong tế bào gan foie và thận reins của những chuột sử lý với STZ.
Những dữ kiện thực hiện trong ống nghiệm in vitro cho thấy rằng Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata là nguyên nhân của :
- sự ức chế của chất oxy hóa chất béo không bảo hòa peroxydation lipidique dưới Fe2 +,
- hoặc sự xâm nhập của nitroprusside de sodium.
Ngược lại, Cây Sơn cúc Wedelia trilobata cũng là nguyên nhân một sự giảm của những mức độ tăng cao của chất hoạt động với acide thiobarbiturique (TBARS) quan sát thấy trong gan foie, những thận reins và những dịch hoàn testicules cũng như trong huyết thanh tăng cao của triglycérides, ALT và AST của chuột bệnh tiểu đường diabétiques.
Rungprom và al. (2010) đã chứng minh rằng trích xuất méthanolique của Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata đã được tìm thấy là những chất ức chế mạnh phân hóa tố α-glucosidase so sánh với những loại thuốc chân chính.
● Hoạt động chống đơn bào chiên mao động vật Leishmania Antileishmaniens :
Acide Kaurenic ( ent-kaur-16-en-19-oic ), được phân lập từ Vénézuela Cây Sơn cúc Wedelia  trilobata đã được đánh giá trên đơn bào động vật ký sinh Leishmania (V) braziliensis cho cả hai trong ống nghiệm in vitro và trên cơ thể sinh vật in vivo.
Những hợp chất có hiệu quả chết người trên axenic amastigotes và promastigotes với DL50 0,25 và 0,78 μ g / ml, tương ứng, trong 24 giờ.
Ngoài ra, một sự giảm 70% đã được quan sát trong kích thước của sự tổn thương da trong chuột Balb / c với không hiệu quả độc hại rõ rệt .
Những kết quả cho thấy rằng những hợp chất này có một tiềm năng thuốc diệt Leishmania leishmanicide trên L.eishmania (V.) braziliensis.
● Hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central (SNC) trầm cảm dépresseur :
Trích xuất éther de pétrole, chloroforme, acétate d'éthyle và méthanol của những lá Cây Sơn cúc Wedelia trilobata (30 mg / kg, i.p) đã được đánh giá cho hoạt động hệ thống thần kinh trung ương trầm cảm CNS dépresseur bằng cách sử dụng pentobarbitoneinduced trong:
- thời gian ngủ,
- và hoạt động vận động ở chuột.
Trích xuất éther de pétrole tiềm năng hóa ( tăng hiệu ứng ) pentobarbital de sodium gây ra thời gian ngủ của chuột hơn những trích xuất khác.
Động vật chữa trị với trích xuất éther de pétrole cho thấy một sự giảm những điểm số của hoạt động vận động locomotrice cao đáng kể so với diazépam thuốc tiêu chuẩn và những trích xuất khác.
Trích xuất éther de pétrole thể hiện một hoạt động tốt cho hệ thần kinh trung ương trầm cảm SNC dépresseur.
● Hoạt động gây độc tế bào cytotoxique :
Trong phân tích quá trình thâm chuyển transfection tạm thời những n-hexane và trích xuất alcool éthylique của hoa Wedelia trilobata có thể kích hoạt PPARa.
Trong MTT thử nghiệm của SK-Hep-1, trích xuất của hoa Cây Sơn cúc Wedelia trilobata có một khả năng ức chế tốt nhất.
Trích xuất alcool éthylique của Cây Sơn cúc Wedelia trilobata có một khả năng giảm tốt nhất sự biểu hiện của:
- métalloprotéinase matricielle (MMP)-9,
- và MMP-2.
Những trích xuất alcool éthylique của hoa đã có hoạt động tốt :
- chống di dân anti-migration,
- và khả năng chống sự xâm lận anti-invasion, đặc biệt là trên liều  80 μ g / mL .
● Báo cáo chưa công bố chỉ ra rằng, dung dịch ngâm trong nước đun sôi infusion được áp dụng tại địa phương và thực nghiệm trong những vùng phía nam của Brésil, trong việc :
 - quản lý bệnh tiểu đường gestion du diabète.
Thật vậy, Cây được phổ biến được gọi là “ insulina ” do những đặc tính :
- chống bệnh tiểu đường antidiabétiques, đã được quan sát ở cây.
● Nghiên cứu tài liệu cho thấy rằng toàn bộ Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata tươi được sử dụng như :
- một hoạt động thuốc diệt loài nhuyến thể molluscicide,
- hoạt động kháng khuẩn antibactérienne,
- và chống nấm khuẩn antimycobactérienne ( một vi khuẩn có ái lực với một số loại nấm )
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không sử dụng cho những phụ nữ có thai và cho con bú .
Ứng dụng :
▪ Những Cây Sơn cúc, được chế biến như một trà, dùng để :
- chống định kỳ antipériodiques trong bệnh sốt rét paludisme,
và là một phương thuốc để chữa trị :
- tiểu ra máu hématurie,
- đau dạ dày maux d'estomac,
▪ Nước ép jus của Cây Sơn cúc Sphagneticola trilobata, pha trộn với sữa bò được đưa ra như :
- một thuốc bổ sau khi sanh con accouchement.
Pha trộn với gừng gingembre, sử dụng để chống lại :
- những chứng đầy hơi flatulences.
▪ Chữa trị bệnh ho toux kết hợp với những rau trai Commelina nudiflora luộc chín hoặc bụp giấm Hibiscus sabdariffa, và cũng đôi khi với chanh xanh Chanh xanh Citrus aurantifolia
▪ Trường hợp :
- kinh nguyệt đau rêgles douloureuses,
- và đau bụng douleurs abdominales
Ngâm trong nước đun sôi infusion với 30g/l
Ứng dụng khác :
▪ Dissanayake và al. (2002) đã báo cáo rằng Cây Sơn cúc Wedelia trilobata có khả năng hấp thu một lượng lớn những nguyên tố như :
- Cu ++,
- Ni ++,
- Mn ++,
- và Fe ++ / Fe + ++ ,
của những vùng ô nhiễm ở Sri Lanka.
Cũng như, Cây Sơn cúc Wedelia trilobata có thể được đề nghị như một “ thực vật trách nhiệm ” :
- sử lý những nước thải,
- và những môi trường bị ô nhiễm, bởi những ion kim loại nặng .

Nguyễn thanh Vân