Tâm sự

Tâm sự

dimanche 9 septembre 2012

Cây Duối - Toothbrush tree - Kalios



Toothbrush tree - Kalios
Cây Duối
Streblus asper Lour.
Moraceae
Đại cương :
Cây duối streblus asper là một cây nhỏ, thuộc họ Moraceae, có nguồn gốc ở các nước vùng nhiệt đới như Ấn Độ, Việt Nam, Sri Lanka, Malaysia, Philippine và Thái Lan. Cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Bar-Inka, Berrikka, Rudi, Sheora. Tại Ấn Độ, cây duối được gọi bằng một số tên địa phương, tên gọi thông dụng nhất là Shakhotaka ( tiếng Phạn ), Siora ( tiếng Hinddi ), Sheora ( tiếng Bengali ) và Piray ( tiếng Tamil ). Được dùng trong y học truyền thống để chữa những bệnh như phong cùi lèpre, bệnh trĩ, bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, bệnh chân voi éléphantiasis và bệnh ung thư.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Kalios hay duối là một cây nhỏ, phân nhánh nhiều rậm, cứng, 4 đến 15 m chiều cao.
, thuôn dài hình trứng, thô nhám cả hai mặt, như một tờ giấy nhám vì thế có tên gọi tiếng Anh là toothbrush, dùng bàn chảy đánh răng và vệ sinh răng miệng, với bìa lá có răng cưa, đầu lá hình chóp nhọn, đáy lá hẹp.
Những hoa đực, đầu tròn, 4 đến 7 mm đường kính, cuống hoa ngắn, màu vàng xanh nhạt hay gần như trắng.
Hoa cái, có cuống dài, thường có cặp, xanh lá cây nhạt, đài hoa phát triển lớn dần theo trái, và tồn tại theo trái.
Trái duối hình trứng, 8 đến 9 mm dài, màu vàng nhạt, vỏ trái duối mềm và nhiều thịt.
Hạt hình trứng, dài 5 đến 6 mm.
Bộ phận sử dụng :
Rễ, thân,  lá và toàn cây.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Thành phần hóa học cây duối thông thường gồm :
- Lưu huỳnh,
- peroxydase,
- hydrocellulose,
- glycosides,
- oxalate de calcium,
- streblid,
- résine.
- Génère một chất đắng,
- streblid, không là một glucoside, cũng không là một alcaloïde.
● Nghiên cứu cho được :
- những glucides,
- những glycosides,
- những phytostérols,
- các hợp chất phénoliques,
- tanins,
- saponines,
- chất gommes
- và chất nhầy mucilages.
● Những nghiên cứu lá mang lại bảy ( 7 ) hợp chất :
- acide salicylique,
- β-sitostérol,
- β-daucosterol,
- acide oléanolique,
- magnolol,
- quercétine,
- taxifoline
● Cây duối Streblus asper là một nguồn giàu những chất :
- glycosides cardiaques.
Reichstein et ses collègues (15-18) đã phân lập hơn 20 glycosides cardiaques từ vỏ rễ của cây duối Streblus asper và đã có thể đặc tính hóa cấu trúc khoảng 15 hợp chất, lý do chánh yếu là áp dụng những kỹ thuật suy thoái, cụ thể như những chất :
- kamloside,
- asperoside,
- strebloside,
- indroside,
- cannodimemoside,
- strophalloside,
- strophanolloside,
- 16-O-acétyl-glucogitomethoside,
- glucogitodimethoside,
- glucokamloside,
- sarmethoside
- và glucostrebloside.
● Những glycosides khác được ghi lại từ rễ gồm :
β-sitostérol-3-O-β-D-arabinofuranosyl-O-α-L-rhamnopyranosyl-O-β-D-glucopyranoside,
▪ lupanol-3-O-β-D -glucopyranosyl-[1-5]-O-β-D-xylofuranoside,
▪ và vijaloside, tức là  periplogenin-3-O-β-D-glucopyranosyl-[1-5]-O-β-D-xylopyranoside..
● Vỏ thân cây duối chứa :
- chất glycosides cardiotoniques,
- strebloside
- và asperoside.
▪ Đồng thời cũng chứa :
- một glycoside prégnane,
- sioraside (Ghani, 2003).
- α-amyrine,
- acétate lupéol,
- α-amyrine,
- lupéol
- và diol,
- và chất strebloside mansonin đã được phân lập.
▪ Một glycoside prégnane tên gọi sioraside cũng đã được phân lập.
- và glucostrebloside cũng được phân lập.(Rastogi et Mehrotra, 1990).
- n-triacontane,
- tetraiacontan-3-one,
- β-sitostérol,
- stigmastérol,
- bétuline
- β-sitostérol,
- α-amyrine,
- acide oléanolique được xác định từ những bộ phận trên không.
- Một cardénolide không xác định,
● Vỏ rễ chứa :
- kamaloside,
- asperoside,
- indroside,
- luknoside,
- với glycosides vô định hình G, G 'và H.
- Cannodimethoside,
- strophalloside,
- glucogitodimethoside,
- strophanolloside,
- glucokamaloside,
- sarmethoside
- và lupéol được phân lập từ vỏ rễ và những lá.
Tinh dầu dể bay hơi từ lá tươi của cây duối Streblus asper lấy được với một năng xuất 0,005% như là một dung dịch màu nâu.
▪ Những chất chánh của dầu bay hơi là :
- phytol (45,1%),
- α-farnésène (6,4%),
- trans-farnésyl acétate (5,8%),
- caryophyllène (4,9%)
- và trans-trans-α-farnésène (2,0%).
▪ Những chất khác là :
- α-copaène,
- β-élémène,
- caryophyllène,
- géranyle acétone,
- germacrène,
- δ-cadinène,
- oxyde de caryophyllène
- và 8-heptadécène.
Đặc tính trị liệu :
Cây duối Streblus asper đã được dùng trong hệ thống y học truyền thống từ nhiều thế kỷ trước và sử dụng trong nghệ thuật cây cảnh và bonsai.
► Cây duối, được xem là một dược thảo với những đặc tính tổng quát và những bộ phận :
- chất làm se thắt astringent,
- chất sát trùng antiseptique,
- chống những ký sinh “ tơ trùng ” antifilarien,
- thuốc bổ tim cardiotonique,
- làm dịu nhẹ bớt apaisante,
- chống lão hóa anti-vieillissement.
● Ngoài ra cũng theo truyền thống Ayurvédique Ấn Độ cây duối còn dùng để điều trị :
- giun chỉ filariose,
- bệnh phong cùi lèpre,
- đau răng maux de dents,
- và bệnh ung thư cancer.
Trong y học truyền thống Ấn Độ, lá , thân và rễ đều được sử dụng để chữa trị:
- bệnh giang mai syphilis.
► Đặc tính dược liệu lá duối :
Lá duối được dùng :
- viêm sưng đường tiểu inflammation urinaire,
- và như chất tạ sữa galactogogue.
Lá duối nghiền nát được dùng làm thuốc trị :
- lợi tiểu diurétique,
- và chữa trị bệnh bạch đới khí hư leucorrhée.
nước ép lá duối được dùng bởi Garo de Madhupur để chống :
- chứng tiểu khó dysurie,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie.
Bột nhão pâte từ lá duối :
Ở Ấn Độ, bột nhão pâte chế biến từ lá duối, được áp dụng trên :
- những chỗ sưng phồng gọi là thủy thũng oedèmes,
- và dùng để ngăn ngừa chứng đổ mồ hôi quá nhiều .
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion lá được xem như dùng để thay trà.
▪ Trong y học ayurvédique, những lá duối được sử dụng :
- để giúp đở xúc tiến trữ lượng sữa mẹ ở những bà mẹ trong thời gian cho con bú.
cũng như chế biến làm thuốc dán để chữa trị :
- những nhọt đầu đinh,
- và những loét ở da ,
Dung dịch trich từ lá cho thấy có những đặc tính :
- chống vi trùng antimicrobiennes,
Tinh dầu dể bay hơi trích từ lá cho thất « tầm quan trọng hoạt chống ung thư » như dung dịch trích từ rễ theo một nghiên cứu sâu rộng B73 Tóm tắc « hiệu ứng ngăn ngừa hóa học chimio-préventif » của cây duối streblus asper, trên những tế bào xương ung thư ác tính ostéosarcome.
▪ Một nghiên cứu sơ khởi AzMan Seeni và al. Cancer Prevention Research 3 ( Réunion Supplément Résumé ) B37 Janvier 7 th 2010. Nghiên cứu này cho thấy rằng những hợp chất chống oxy hóa trong dung dịch trích của rễ như acide caféique có thể hành động như yếu tố  ức chế chất gây ung thư, nhưng nghiên cứu bổ túc thêm là cần thiết để chứng minh  những kết luận và thực hiện những công việc tiếp theo.
▪ Một khảo sát « những đặc tính hoá học, những đặc tính dược lý và y học dân tộc ethnomédicales » được xây dựng và những văn bảng nghiên cứu bổ sung và thay thế Médecine Vol. 3 (2) pp 217-222, đã tuyên bố rằng cây duối có những đặc tính :
- chống oxy hóa antioxydant,
- chống dị ứng anti-allergique,
- chống sốt rét antipaludiques,
- chống ung thư anti-cancer,
- những bệnh về bổ dưởng tim mạch maladies cardio-toniques ,
- và những đặc tính diệt côn trùng insecticides.
Đặc tính hạt duối : hạt duối có lợi ích trong :
- chứng bệnh chảy máu cam épistaxis,
- và bệnh tiêu chảy diarrhée.
Bột nhão của hạt áp dụng cho bệnh bạch ban ( da trắng ) leucoderme .
▪ Hạt duối còn có những ích lợi trong những bệnh như :
- chảy máu cam ( chảy máu mũi )
- và cũng trị tiêu chảy.
Mủ cây duối : mủ cây duối có những đặc tính :
- và sưng những tuyến.
- làm se thắc astringentes,
- và sát trùng antiseptiques,
- áp dụng dưới chân trị đau gót endoloris,
- và chữa trị bàn tay nứt nẻ gercées,
- Mủ cây duối đôi khi được áp dụng trên màng tang thái dương trong trường hợp đau dây thần kinh đầu
- và được ghi nhận là thuốc an thần trong trường hợp chữa trị đau dây thần kinh névralgie.
► Vỏ cây duối :
Một dược phẩm được bào chế với vỏ cây duối như trong trường hợp :
● Nấu sắc trong nước đun sôi vỏ được sử dụng cho :
- bệnh sốt fièvre,
- bệnh tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie,
● Trong khi dùng trực tiếp nhai vỏ như là :
- một thuốc giải độc rắn cắn.
Mủ của vỏ rỉ ra, ở Ấn Độ được dùng trong trường hợp :
- da tay
- và da chân bị nứt nẻ.
▪ Đồng thời cũng được dùng cho :
- những tuyến bị sưng, thường dùng để đắp bên ngoài những chổ sưng .
● Vỏ của cây duối có thể nấu chín trong nước sôi và dung dịch nước lọc này dùng như :
- dung dịch sát trùng cho những vết thương,
-  và những vấn đề về da.
► Rễ duối :
● Rễ duối được xem như thuốc chữa trị :
- thuốc hạ sốt antipyrétique,
- chống bệnh kiết lỵ antidysentérique,
- thuốc giảm đau analgésique,
- và là thuốc an thần  sédative.
- chứng động kinh épilepsie,
- viêm sưng gonflements inflammatoires,
- và những mụt nhọt furoncles.
Nấu sắc rễ cũng được đưa ra cho các bệnh và bệnh sốt.
Thuốc dán chế từ rễ  áp dụng cho :
- bệnh loét ulcères,
- xoang sinus,
- những viêm sưng phồng ,
- và những nhọt đầu đinh furoncles.
Bột từ rễ quy định chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ.
Kinh nghiệm dân gian :
► Những người Việt Nam, thường áp dụng mủ cây duối :
- để trên màng tang thái dương để chữa trị đau dây thần kinh (đau đầu ).
- cũng như là liều thuốc an thần.sédatif.
► Tại Thái Lan, cây duối dủng chữa trị :
- những bệnh viêm sưng .
► Ở Bangladesh, sử dụng cho :
- bệnh tả choléra,
- bệnh ung thư cancer,
- những bệnh tim cardiaques,
- những khối u tumeurs,
- chứng khó tiêu indigestion,
- bệnh bạch bản ( da trắng ) leucoderme,
- bệnh gan,
- và thuốc kích thích stimulant.
- bệnh giang mai syphilis,
- và những bệnh truyền qua đường tình dục khác MST
- và như một thuốc giảm đau nhẹ analgésique.
▪ Nấu sắc vỏ cây duối dùng để :
- tẩy trùng những vết thương,
▪ Cũng như dùng bên trong cơ thể cho những bệnh về da.
► Tại Ấn Độ :
▪ Dùng hạt cho bệnh :
- chảy máu cam épistaxis,
- tiêu chảy diarrhée.
Dùng bên ngoài áp dụng như pâte để :
- bệnh bạch bản leucoderme.
Rễ dùng cho :
- chứng động kinh épilepsie
- và trường hợp viêm sưng phồng gonflements inflammatoires
- và những mụt nhọt đầu đinh furoncles.
▪ Nước ép cây duối là dung dịch :
- làm se thắt astringent
- và sát trùng antiseptique.
► Tại Philippines, một loại trà được dùng bằng lá duối và uống như một thức uống trong ngày .
▪ Bột rễ duối dùng để chống :
- tiêu chảy diarrhée,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie,
- và có thể biến chế thành thuốc dán để chữa trị loét ở da.
▪ Rễ duối được sử dụng cho :
- chứng động kinh épilepsie,
- viêm sưng inflammation,
- và những mụt nhọt đầu đinh furoncles,
▪ và dung dịch trích từ rễ là :
- một chất làm se thắt astringent,
- và chất sát trùng antiseptique.
Nghiên cứu :
● Thuốc diệt trùng chỉ hay tơ trùng  filaricide :
Dung dịch trích của vỏ thân cây duối streblus asper cho được hoạt động diệt tơ trùng to macrofilaricide.
Nghiên cứu hiệu quả trong phòng thí nghiệm in vitro của 2 glycosides nguyên chất tinh khiết :
- asperoside
- và strebloside
được phân lập từ cây duối streblus asper thử nghiêm trên ký sinh trùng filiaires Setaria Cervi cái của trâu, bò, cho thấy cả hai là nguyên nhân gây chết trong vòng 2 đến 3 giờ, có thể là do hiệu quả trên chuyển hóa chất của đường glucose.
● Tác nhân kháng sinh / vệ sinh răng miệng :
Dung dịch trích trong alcool của lá duối streblus asper đã hiển thị ức chế sự phát triển sự tăng trưởng của vi khuẩn Streptococcus mutans. Streptococcus Mutans đã liên kết chặc chẽ với sâu răng carie dentaire.
Một nghiên cứu cho thấy một tiềm năng cho dung dịch trích của cây duối như là một sản phẩm tự nhiên để kiểm soát sâu răng.
● Chống dị ứng Anti-allergique:
Cho thấy hoạt động chống PCA (anaphylaxie cutanée passive phàn ứng da thụ động ) và hoạt động ổn định những phì đại tế bào mastocytes.
● Chống ký sinh trùng Antiparasitaires:
Dung dịch trích từ vỏ thân có hiệu quả miễn nhiễm chống lại Plasmodium bergheri.
● Diệt trùng chỉ to macrofilaricide:
Dung dịch trích thô từ vỏ thân lấy ra được một hoạt động quan trọng diệt tơ trùng lớn macrofilaricide chống lại trùng Litomosoides carinii (đây là loại giun tròn thường phát triển trong động vật, con đực 2,8 cm, con cái 7 cm, chu kỳ sinh sống phát triển trong chuột, dạng khối cuộn tròn ) và Brugia malayi ở những loài ngặm nhấm.
Nghiên cứu mang lại hai chất glycosides tim mạch chủ yếu gây ra hoạt động chống tơ trùng  antifilarien.
 Phòng chống hóa học  / Chống ung thư Anti-Cancer :
 Nghiên cứu dùng những tế bào ung thư u xương ác tính ostéosarcome trong mô hình trong phòng thí nghiệm, cho thấy dung dịch trích từ rễ cây duối streblus asper ảnh hưởng tế bào chết của những tế bào ung thư u xương ác tính ostéosarcome.
Nghiên cứu cũng cho thấy hợp chất chống oxy hóa như acide caféique trong những dung dịch trích của cây streblus asper từ rễ có thể hoạt động như một chất ức chế chất gây ung thư.
Nghiên cứu tinh dầu dể bay hơi của cây duối streblus asper từ lá tươi mang lại :
- phytol,
- un farnésène-,
- trans-farnésyl acétate,
- caryophyllène
- và trans-trans-a-farnésène.
Tinh dầu dể bay hơi cho thấy một hoạt động quan trọng chống ung thư từ những xét nghiệm truy tầm của tế bào độc với những tế bào của chuột đã bị bệnh bạch cầu lymphocytique là một loại hình thức ung thư bạch cầu..
● Kháng vi trùng Antibactérien:
Nghiên cứu chú trọng đến xác định những hiệu quả kháng khuẩn của một dung dịch trích từ lá duối streblus asper chống lại 6 vi khuẩn kỵ khí, cho thấy những hiệu quả chất ức chế đối với tất cả các chủng vi khuẩn ngoại  actinomycetemcomitans ( là một vi khuẩn hình que bacille gram âm -, bất động, cấy chậm và khó khăn được phân lập lần đầu tiên  1912 do R Klinger ).
● Hiệu quả ức chế của SIV virus de l'immunodéficience simienne:
 Nghiên cứu truy tầm những phần chống virus, virus immunodéficience simienne hoạt động của những dung dịch trích từ chủng cây Streblus asper cho thấy tinh dầu cần thiết, chất béo, hợp chất stéroïdes và triterpénique hoặc phénolique có thể có một vài hiệu quả chất ức chế trên SIV .
 Nước súc miệng chống ngừa ung thư :
Nghiên cứu ở Đại học Sains Malaysia đã tạo ra một dung dịch súc miệng từ dung dịch trích của cây duối streblus asper đun sôi, có hoạt động như là một tác nhân để ngăn ngừa ung thư miệng.
● Nước súc miệng chống vi khuẩn / Strep mutans
Nghiên cứu trên hiệu quả chống vi trùng của nước súc miệng có chứa dung dịch trích từ lá cây duối streblus asper chỉ cho thấy súc miệng bằng dung dịch này có thể giảm nhiễm khuẩn  Streptococcus  mutans, không gây nhiễm môi sinh trong miệng.
● Gel kháng khuẩn / bệnh sưng nướu răng “ nha chu ” parodontale :
Kết quả nghiên cứu cho thấy Gel cây duối streblus asper có đặc tính mong muốn :
- kháng khuẩn,
- và an toàn,
- với một sử dụng với tìm năng trợ dược để chữa trị “ nha chu parodontale.
● Giảm đau analgésique:
Nghiên cứu dung dịch trích trong ethanolique những phần trên không cây duối streblus asper cho thấy đặc tính phụ thuộc vào liều lượng thuốc giảm đau trong tất cả mô hình nghiên cứu xuyên qua hai cơ năng trung ươngngoại biên cơ thể. 
● Tiêm thuốc dưới lợi răng / bệnh sưng nướu răng “ nha chu ” parodontale:
Nghiên cứu cho thấy sử dụng 80 mg / ml dung dịch streblus asper trích từ lá để tìêm dưới nướu như để bổ sung « cạo cáu đóng chân răng » và làm sạch bề mặt và chân răng, có hiệu quả trong việc bảo vệ chống viêm nướu răng, thành lập những mảng vôi bám vào răng và vi khuẩn bệnh  periodontopatique, ( là một bệnh về răng do sự phá hủy mô xương chung quanh răng hoặc răng, dẩn đến phá hủy toàn bộ ổ răng và kết quả răng sẽ rơi ra ).


Nguyễn thanh Vân

 

 












lundi 3 septembre 2012

Nấm Bò rừng - Gan bò rừng - Steak Fungi

Steak Gungi -  foie de bœuf
Nấm Bò rừng - Gan bò rừng
Fistulina hepatica (Schaeff.) With.
Fistulinaceae
Schizophyllaceae
Đại cương :
► Những tên khoa học đồng nghĩa :
▪ Agarico-carnis lingua-bovis Paulet, Traité Champ.
  Atlas 2: 98 (1793).
▪ Boletus buglossum Retz.
  K. svenska Vetensk-Akad. Handl. 30: 253 (1769)
▪ Boletus bulliardii J.F. Gmel.
  Systema Naturae 2: 1436 (1792)
▪ Boletus hepaticus Schaeff.
  Fung. Bavar. Palat. 4: 82 (1774)
▪ Fistulina buglossum (Retz.) Pers.
  Neues Mag. Bot. 1: 109 (1794)
▪ Fistulina endoxantha Speg.
  Fungi Fuegiani 25: 87 (1921)
▪ Fistulina hepatica var. endoxantha (Speg.) J.E. Wright
  Boln Soc. argent. Bot. 9: 225 (1961)
▪ Fistulina sarcoides St.-Amans
  Fl. agen.: 547 (1821)
▪ Hypodrys hepaticus (Schaeff.) Pers.
  Mycol. eur. (Erlanga) 2: 148 (1825)
Fistulina hepatica, danh pháp tiếng Pháp Fistuline hépatique, và tên thông thường Gan bò  Foie de bœuf hay tên gọi thường dùng của phần đông người Pháp là lưỡi bò langue de bœuf là một nấm thuộc nhóm basidiomycète của họ Schizophyllaceae và khi xưa được xếp vào họ Fistulinaceae, họ này hầu như chỉ có một (1) loài.
Nấm bò steak Fistulina hepatica này mọc đơn lẽ, lộ ra ngoài, chủ yếu ở những cây sồi, cây dẻ nơi mà nó sống ký sinh bám vào tạo ra những thương tích cho cây, đôi khi cũng gặp ở cây Peupliers Bạch dương Populus nigra L .
Đối với danh pháp của Mỹ có phần nào thay đổi ở tên thông thường trong dân chúng. Tên nấm steak cũng gọi là nấm lưỡi bò ox tongue. Là một loại nấm bất thường, phân loại trong bộ Agaricales, thường gặp ở Anh Quốc, nhưng có thể tìm thấy ở Bắc Mỹ, Úc, Phi Châu và phần còn lại ở Âu Châu.
Như tên đã gọi, nấm steak, trông giống như một miếng thịt bò steak sống, và người cũng đã dùng để thay thế thịt bò trong thời quá khứ, và người ta cũng đã thấy bán ở những chợ tại Pháp.
Nấm bò steak Fistulina hepatica cho một hương vị hơi chua.
Để ăn người ta nên tìm hái những nấm non và có thể là khó khăn và cần thời gian nấu nấu dài.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
▪ Trong sinh học, những loài nấm được chia ra 2 phần:
- Phần không thấy được, chính là cơ quan chính yếu có thể so với “ thân ” của những loài thực vật thượng đẳng, những khuẩn ty này giử chức năng hấp thư chất dinh dưởng ngoài môi trường, hũy hoại môi trường do đời sống hoại sinh của chúng.
- Phần thấy được là những mủ nấm chẳng hạn, có thể ví như những “ quả, trái ” của thực vật, chúng tích trử những chất bổ dưởng, chất hóa học thực vật ....chúng có giá trị dinh dưởng và dược tính cũng là ở những cơ quan này.
Mủ nấm to ở độ trưởng thành tùy theo môi trường đài vật có thể to khoảng 10 đến 15 cm, dày từ 2 đến 6 cm, dạng hình đĩa cầu kế tiếp dài ra như một cái lưỡi hay hình bán nguyệt, màu nâu đỏ, tươi, bóng láng và nhờn khi ẫm và được bao bởi một lớp mụt gồ ghề lồi lõm gợi cho ta hình ành những gai thịt, có ấn tượng một lưỡi bò thô.
▪ Thịt nấm, dày, mềm, đầy nước, thịt đỏ, chảy nước trong những ống màu trắng, có thể sánh với miếng thịt máu đỏ của gan bò nhưng thậm chí gần hơn nữa ở màu sắc nước máu và nhất là hương vị của cá ngừ, mùi nhẹ và vị chua.
Ống sinh bào tử, phiến nấm không có,  kích thước 0,5 đến 5 cm, mỏng mịn, không dính lại với nhau, màu ban đầu trắng nhạt, mở ra bởi một lỗ chân màu kem, đổi màu vàng tím, bào tử màu vàng nâu.
Chân nấm gần như không tồn tại hoặc nếu có phát triển ngắn, khoảng 3 đến 4 cm, cùng màu với thân nấm áp vào đài vật thân cây.
▪ Bào tử : mịn, màu vàng nhạt, láng, trong suốt, kích thước 4-5,5 x 3-4. µm 
Đặc tính ăn được : Mặc dù có nhiều nguồn ghi nhận nấm có hương vị chua của nó. Sau đây trích dẫn lời của Morgan từ năm 1883 trong Botanical công báo, dường như giống trường hợp trên đây :
« Fistulina hepatica, Huds. Có thể được tìm thấy càng ngày càng gia tăng tại các nơi hầu như khắp tất cả các rừng cây dẻ châtaignier, những mẫu vật thường hoàn hảo, tuyệt. Dodham nói “ Không có loại nấm nào sản xuất nhiều nước chất thiên nhiên, và mặc dù khá khó khăn khi nướng chiên, nó hầu như khó phân biệt so với một miếng thịt nướng. » ……..
Bộ phận sử dụng :
Mủ nấm tươi non.
Thành phận hóa học và dược chất :
► Hợp chát hoạt tính sinh học :
● Phân tích mùi :
Những hợp chất dể bay hơi từ các cơ quan sinh quả của Fistulina hépatica đã được phân lập và nghiên cứu bằng cách dùng một loạt những kỹ thuật phân tích khác nhau. Một số hợp chất đã được xác định như là đóng góp vào hương vị tổng thể của nấm, bao gồm :
▪ 1-octène-3-one
▪ 1-octène-3-ol
▪ linalol
▪ phénylacétaldéhyde
▪ butanoïque
▪ một hợp chất dể bay hơi không xác định với một mùi vị như mùi mốc :
- (E)-2-méthyl-2-buténoïque
- (E)-cinnamate de méthyle
- (Z)-9-hexadécénoïque de méthyle
- bisabolol oxyde B
- acide phénylacétique (Wu et al., 2005).
● Một nghiên cứu về sau bởi cùng nhóm nghiên cứu (Wu et al., 2007) đã cho thấy sự khác biệt giữa hồ sơ hợp chất dể bay hơi do chức năng điều kiện phát triển.
▪ Cấy nưôi bằng dung dịch, những hợp chất sau đã được xác định  ( giá trị trong dấu ngoặc chỉ trị số bằng mg / L dung dịch cấy nuôi ) :
- tridéca-2 ,4,6,8-tetrayne (0,3), trans-tridéca-4,
- 6,8 -triyn-2-én-l-ol (0,15),
- cis-dehydromatricarianol (0,15),
- trans-dehydromatricarianol (0,15),
- và 2D: 3L: 4L-tridéca-5 ,7,9,11-tetrayne-l, 2 ,3,4-tétra-ol (2,0) (Jones và al., 1966).
● Hai (2) hydroxy-acides mới :
- HO-CH2-CH = CH-[C ≡ C] 2-CH2-CH2-CO2H (10-hydroxydeca-trans-2, trans-8-diène-4 ,6-diynoate),
- và HO- CH2-CH = CH-[C ≡ C] 2-CH = CH-CO2H (10-cis-hydroxydec-8-ène-4 ,6-diynoate)
Đã được phân lập từ bộ phận sinh sản quả fructification của nấm (Farrell et al., 1973).
● Thành phần hợp chất phénoliques và những acides hữu cơ của nấm bò beefsteak đã được phân lập :
● Năm hợp chất phénoliques đã được xác định là :
- acide caféique,
- acide p-coumarique,
- acide ellagique,
- quercétine
- và hyperoside,
Trong đó có acide ellagique đã hiện diện có nồng độ cao nhất (49,7% của hợp chất phénoliques).
● Sáu (6) acides hữu cơ được tìm thấy :
- oxalique,
- aconitique,
- citrique,
- malique,
- ascorbique
- và acides fumarique,
- acide malique được gặp nhiều nhất ( hiện diện 57,9% trên tổng số những acides hửu cơ ) (Farrell et al, 1973.).
Hương vị của nấm bò steak Fistulina hepatica đã được mô tả như chất tanin ( là những hợp chất phénolique thiên nhiên có thể kết tủa chất đạm từ những dung dịch tan trong nước, chuyển hóa chất này hiện diện hầu hết trong các vỏ cây, rễ, lá, hoa , quả …) và có hơi chua. Hương vị này không có gì ngạc nhiên. Kết quả một phân tích cho thấy trong nấm bò steak Fistulina hepatica có :
▪ 5 chất phénolique ( dẫn xuất từ chất thơm của benzène )
▪ và 6 hợp chất hữu cơ :
- acide oxalique,
- citrique,
- malique,
- ascorbique,
- aconitique
- và acide fumarique 
- Ngoài ra nấm bò rừng steak Fistulina hepatica còn là một nguồn vitamine C tốt , hàm lượng acide ascorbique được ghi nhận trong những phân tích trên.
Trong những công thức nấu, người ta khuyên nên để nấm bò ngâm hay để trong lò xấy để giảm hương vị chua, nhưng cũng lưu ý rằng điều này đồng thời cũng làm giảm tính chất dược tính và dinh dưởng của nấm bò.
Đặc tính trị liệu :
● Hoạt động chống oxy hóa :
Nấm bò rừng steak Fistulina hepatica cũng tìm thấy có những hiệu quả :
- chống oxy hóa đáng chú ý,
- Nấm hoạt động như một kho báo nhặt rác cho những phản ứng của oxygène đặc biệt và hydroxyle (OH) gốc tự do.
▪ Fistulina hepatica đã được nghiên cứu khả năng của nấm trong yếu tố loại trừ các gốc tự do. Khả năng hoạt động tốt đã được ghi nhận chống DPPH, gốc superoxyde và gốc hydroxyle, trong khi chỉ một hiệu quả bảo vệ yếu đã được thấy từ acide hypochloreux  (Ribeiro et al., 2007).
● Hoạt động kháng khuẩn :
Vài nghiên cứu Ý bởi Coletto đã tiết lộ rằng Fistulina hepatica có một hoạt động mạnh kháng khuẩn chống lại với vi trùng Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis (Coletto 1981, 1987/88), et Klebsiella pneumoniae (Coletto, 1992).
● Hoạt động chống ung bướu :
Chiết xuất Polysaccharides của cấy nuôi khuẩn ty nấm bò Fistulina hepatica và được chữa bằng đường tiêm vào màng bụng của chuột bạch với liều 300 mg / kg đã ức chế sự tăng trưởng  của Sarcom 180 ( Sarco là một loại khối u ác tính được thành lập ở các mô liên kết …) và Ehrlich solid cancer ( Tế bào ung thư cứng  ) 80% và 90%, tương ứng thứ tự ( Ohtsuka và al,1973 )
Nghiên cứu :
Môi trường sinh sống của Nấm bò Fistulina hepatica.
Chung chung thì không thường xuyên, nấm bò fistuline mọc chủ yếu vào mùa xuân, nhưng cũng có thể có gặp trong suốt năm ở các vùng khí hậu ôn đới, trên các vết thương của những cây hay những vết nứt hang lỗ của cây sồi ( chêne) hoặc cây dẻ, trong vị trí phía dưới thân cây. Nấm sẽ tạo ra những vết thối hư nâu ở nơi bám vào cây chủ.
Fistulina hepatica quy tụ chủ yếu vào những lõi bởi vì chúng đánh giá nơi đây đặc biệt có nhiều chất tanin. Lúc ban đầu nấm hầu như không ảnh hưởng đến cấu trúc gổ, nhưng chúng đột kích vào những tế bào nhu mô parenchymateuse là những tế bào sống, với những hợp chất phénolique, kết quả chúng từ từ thoái hóa chất tanin. Màu sắc của gổ từ từ chuyển sang màu nâu đỏ. Nấm bò rừng không làm hại cây chủ ở lần đầu tiên nhưng làm cho màu sắc của gổ của cây chủ trở nên hồng đỏ sậm rất đẹp, rất thích hợp với mỹ thuật đồ gổ như bàn ghế tủ dùng trong nhà vì thế cho nên những cây sồi “ màu nâu ” sẽ đi tìm trại mộc.
Thực phẩm và biến chế :
► Nấm bò rừng Fistulina hepatica, hay gan bò rừng ( gọi là GAN vì nấm giống như miếng Gan Bò, sống trên cây lớn hoang nên gọi là Bò rừng ). Thật sự là nếu người ta làm khéo có thể lầm, nhìn bên ngoài giống miếng gan bò hay miếng bò bít tết.
Thịt có màu trắng phản phất màu hồng đỏ tươi khi cắt Thường giống miếng bifteck, gợi cho người nhìn đam mê muốn được ăn, hương vị hơi mặn. Hương vị dễ chịu này trở nên hơi chua biến đổi theo theo :
- tình trạng già hay non,
- tùy theo cây chủ chất tanin mà nấm sống đến khi nấm trở nên có thể ăn được.
► Công thức làm món ăn nấm Bò rừng steak Fistulina hepatica bình dân được phổ biến :
- 600 – 800 gr nấm bifteck,
- rượu vang,
- đinh hương clous de girofle,
- ngò tây persil,
- Bột, trứng, rau thơm herbes, bột bánh mì khô chapelure,
- Dầu olive.
● Ngâm bò rừng trong rượu vang + vài cọng đinh hương clous de girofle và ngò tây persil. Kế áo bên ngoài bởi một hỗn hợp bột pha trộn với trứng, rau thơm herbes, bột chapelure. Nấm được áo bột chiên bằng dầu olive trong 2 đến 3 phút đến khi ráng vàng, kế dùng với salade. Món ăn được gọi là, không ngạc nhiên “ Cỏ thơm đóng vãy nấm bò ”.
► Và còn nhiều công thức nấu ăn với nấm Bò rừng steak Fistulina hepatica được phổ biến trong giới bình dân hay trong nhà hàng …….. :
● Bò rừng Lardon
● Cá Sashimi và lưỡi bœuf


Nguyễn thanh Vân

 

 


samedi 1 septembre 2012

Cây Cơm rượu - Orangeberry - Gingging

Orangeberry- Gingging
Cây cơm rượu
Glycosmis pentaphylla (Retz. ) DC.
Rutaceae
Đại cương :
Vùng Châu Á nhiệt đới và Úc Châu. Cây cơm rượu đã nổi bậc với trái có một hương vị thơm, ngon của nó. Nó hoạt động như là trái cam hay quít,  tại Jamaïque cây cơm nguội được trồng trong vườn ăn trái, trong vườn cây công cộng. Trái chín ăn được.
Đây là loại cây hoang dại, trong rừng, những nơi bỏ hoang, trên các sườn dốc gặp ở Việt Nam, Ấn Độ và những nước vùng Đông Nam Á.
Cây cơm rượu có lẽ được mô tả ở Malaysia.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây cơm rượu, là một cây tiểu mộc khoảng 1 – 5 m cao.
kép, không rụng, mọc cách, cuống lá dài 2,5 -5,5 cm có thể dài đến 30 cm, do một số lá phụ thay đổi, thường có 3 đến 5 lá chét, xếp như lông chim, mặc dù đôi khi giảm xuống còn 1 hay 2, tất cả những hình thức có thể tìm thấy trên cùng một cây. Những lá phụ hình bầu – mũi mác, dài từ 8 đến 18 cm và rộng 2 đến 7 cm, dày không lông.
Hoa trắng, đơm thành chùm tụ tán ngắn hơn lá, hoa nhỏ, to khoảng 6 mm đường kính, mọc ở nách lá, cô độc hay hợp thành đôi, đài hoa hình trứng, rộng, tròn, cao vào khoảng 1 đến 1,5  mm, cánh hoa 5, hình ellip, dài 5 mm x  2,5 mm, nhẳn, màu trắng, tiểu nhụy 8 đến 10, dài 3,5 mm, bầu noản không lông dài 3,5 mm, thô, có tuyến, thường có 5 buồng, vòi nhụy không khác biệt..
Phì quả tròn, thịt, trong trong, ững hường rồi tía đậm, to khoảng 1 cm đường kính, nạt hương vị bùi, ngọt.
Hột 1 đến 3 nâu láng to khoảng 6 mm 
Bộ phận sử dụng :
Thân, rễ, vỏ cây và lá cây.
Thành phận hóa học và dược chất :
Những nghiên cứu cho được những chất :
- hydrates de carbone,
- alcaloïdes,
- flavonoïdes,
- tanins
- và những acides phénoliques.
Bao gồm những hoạt chất :
- glycosmin,
- một glucoside cristallin, trạng thái vết trong tất cả bộ phận của cây, nồng độ cao nhất được tìm thấy ở lá mới và nụ lá nơi đây có thể đạt đến 0,2 %, trong những lá trưởng thành, nồng độ có thể thay đổi từ 0,08 đến 0,1 %.
● Lá cơm rượu cũng cho chất :
- tanin,
- phlobaphène,
- dấu vết của salicine,
- và khoảng 2,1 %  đường (giảm hay không giảm).
( Đường giảm khi những phân tử đường bao gồm một aldehyde, chẳng hạn như glucose, chức năng aldehyde là một chức năng giảm được oxy hóa thành carboxylique, phương pháp Fehling.
Đường không giảm như fructose, bao gồm một chức năng cétone không thể bị oxy hóa, phương pháp Fehling .)
Từ những lá, nghiên cứu phân lập được :
- glycolone :
- một alcaloïde quinolone.
Từ vỏ và rễ cây cơm rượu, nghiên cứu phân lập được :
- carbazole
- và 3-méthylcarbazole.
Với dụng cụ xấy khô nguyên liệu bằng không khí, người ta thu hoặc được hai (2) chất furoquinoline căn bản :
- kokusaginine,
- và skimmianine.
Những alcaloïdes khác được ghi nhận từ lá cây cơm rượu gồm :
- glycosine,
- arborine,
- glycosminine,
- arborinine ( chủ yếu ),
- glucosamine,
- glycorine,
- glycosmicine,
- và γ-fagarine.
Đồng thời cũng chứa :
- triterpènes,
- arbinol
- và isoarbinol,
- arborinone,
- hai (2) đồng phân alcools terpéniques,
- alcool myricylique,
- stigmastérol,
- và β-sitostérol.
● Rễ cây cơm rượu chứa những alcaloïdes :
- carbazole,
- glycozolicine,
- 3-formylcarbazole,
- glycosinine,
- glycozoline,
- glycozolidine,
- skimmianine,
- γ-fagarine,
- và dictamine.
● Thân cây chứa :
- arborinine;
Những alcaloïdes nhỏ hơn khác đồng thời cũng được tạo ra trong cây cơm rượu :
- arborine alcaloïdes,
- arbornine,
- skimmianine,
- glycorine,
- glycophymine,
- glycophymoline,
- glycosmicine.
● và glycomide đã được phân lập từ hoa cơm rượu :
- acide glycorique đã được phân lập từ dung dịch ly trích trong méthanolique của cây.(Ghani, 2003).
● Hai (2) flavanols mới :
- glycoflavanones A (1)
- và B (2), đã được tìm thấy có một phần α-pyrone .
với năm (5) hợp chất đã biết :
- 4'-O-methylgallocatechine (3),
- β-sitostérol (4),
- alphitol (5 ),
- 3,4-diméthoxy-5-hydroxy-trans-cinnamique alcool (6),
- và oxyresveratrol (7),
được phân lập từ thân của cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla bởi giai đoạn bình thường và giai đoạn ngược lại của giai đoạn sắc ký chromatographie trên cột gel silice.
  cấu đã được xác định bởi những phân tích hóa học và quang phổ kế spectroscopiques.
● Một chất đơn giản mới carbazole alcaloïde :
▪ 4 - (7-hydroxy-3-méthoxy-6-méthyl-9H-carbazol-4-yl) but-3-en-2-one (1),
Và hai (2) alcaloïdes nhị phân dimères carbazole mới ( dimère có nghĩa một chất được kết hợp bởi 2 phân tử hay 2 hợp chất giống nhau ) :
- bisglybomine B (2)
- và biscarbalexine A (3),
hợp với bảy (7) alcaloïdes đã biết đến, được phân lập từ thân cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla.
Cấu trúc của cây đã được làm sáng tỏ bằng các phương pháp quang phổ spectroscopiques, đặc biệt là với kỹ thuật 2D-RMN.
Đặc tính trị liệu :
● Dược chất Glycosmin có vị hơi đắng được xem như :
- làm se thắt astringent,
- trừ giun sán vermifuge,
- chống viêm sưng anti-inflammatoire
- và long đờm expectorant.
● Lá cơm rượu được dùng để chữa trị :
- ho toux,
- những bệnh phong thấp rhumatismes,
- bệnh thiếu máu anémie
- và bệnh vàng da jaunisse.
● Nước ép của thêm vào với đường uống vào dạ dày lúc bụng đói vào buổi sáng để trừ sán lãi ascaris.
● Những cơm rượu non cùng với nước ép lá thơm ananas sativus cũng được đưa ra để điều trị giun sán.
● Nước ép cũng được sử dụng trong :
- trị sốt fièvre
- và những vấn để về gan.
● Dán lá cơm rượu với gừng được dùng trong :
- bệnh chốc lỡ hay sang thấp affections de l'eczéma
- và những bệnh về da.  
● Rễ được sử dụng trường hợp sốt thấp (Yusuf et al. 2009).
● Chất Alcaloïde ly trích từ lá và thô có đặc tính :
- kháng khuẩn antibactériennes,
- và chống nấm antifongiques (Ahmed et al., 1998).
● Cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla được sử dụng để điều trị những cơn crise do mật gây nên.
● Một nước thuốc do nấu sắc rễ được dùng trong :
- rối loạn đường ruột.
● Trong y học truyền thống việt nam, những cơm rượu được coi như :
- món ăn khai vị  appétitive,
- thuốc dể tiêu stomachique.
● và ngâm trong nước đun sôi lá khô được sử dụng cho đàn bà sau khi sanh như là bữa ăn khai vị.
● Tại Bán đảo Malaisie, Glycosmis ( thí dụ như Glycosmis parviflora (Sims) Little, Glycosmis puberula Lindley ex Oliv., Glycosmis pentaphylla) đây là một thành phần hỗn hợp thuốc khác nhau.
- Thuốc ngâm trong nước đun sôi lá và rễ  được dùng sau khi sanh như một loại thuốc bảo vệ sức khỏe .
Trong y học truyền thống Ấn Độ, cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla được sử dụng để chữa trị bệnh :
- tiêu chảy diarrhée,
- ho toux,
- những bệnh phong thấp rhumatismes,
- bệnh thiếu máu anémie
- bệnh vàng da jaunisse,
- viêm sưng inflammation.
● Nước ép của lá được dùng trong :
- bệnh về gan foie,
- và như thuốc trục giun sán vermifuge.
● Thuốc dán bào chế từ pha trộn với gừng áp dụng cho những bệnh về da và chốc lỡ sang thấp.
● Nấu sắc rễ dủng trong bệnh viêm sưng trên mặt.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Nước ép lá cơm rượu có vị đắng dùng :
- trị sốt,
- đau gan
- ký sinh trong ruột, đặc biệt ở ruột trẻ em.
▪ Thân và rễ cây cơm rượu dùng trị loét ulcères,
▪ Đắp lá, với một ít gừng , áp dụng cho :
- tình trạng da khô quá mức
- bệnh chốc lở, eczéma,
- nổi mụn éruptions custanées
- và những bệnh khác về da,
- cũng như áp dụng trên rốn ( rún ) để trị những ký sinh đường ruột và những rối loạn đường ruột khác.
▪ Gổ cây cơm rượu dùng trong y học truyền thống để chữa trị rắn cắn.
Điều quan trọng là cách sử dụng chính xác theo nhu cầu và trọng lượng của từng cá nhân, liều có thể đề nghị dao động từ 100 mg đến 500 mg ở trường hợp bệnh nặng.
Nghiên cứu :
● Hiệu quả chống oxy hóa :
Cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla đã cho thấy giảm độc tố ở một số người, theo một nghiên cứu vào năm 2011 tìm kiếm ở Ấn Độ ( Gupta và al., 2011 ). Trái cơm rượu đã được tìm thấy có đặc tính chống lại gốc tự do hoạt động như một chất chống oxy hóa.
Trong tập san nghiên cứu kết luận rằng trái cơm rượu có thể giúp ngăn ngừa hay làm chậm lại sự phát triển của những bệnh thoái hóa.
● Giảm khối u tumorale :
Một nghiên cứu vào năm 1999 trên cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla cho thấy trái cơm rượu hỗ trợ trong việc giảm một số loại khối u ( Quadera, và al,1999 ). Nghiên cứu này đã hứa hẹn cho một tìm tòi về ung thư trong tương lai, như chất alcaloïde thu được từ trái có thể có các đặc tính quan trọng chống ung thư, đặc tính này có thể dùng trong chế tạo dược phẩm để gíup đở giảm thiểu những tế bào ung thư.
● Chống loài giun sán :
Nghiên cứu cho thấy dung dịch trích từ rễ cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla có một hoạt động chống lại những loài ký sinh giun sán mạnh, trên giun đất Pheretima posthuma, chiết xuất méthanolique có hoạt động lớn hơn so với chiết xuất trong chloroforme.
● Bảo vệ gan :
Nghiên cứu đánh giá hoạt động liên quan GAN của nguyên liệu thực vật trên chuột bạch albinos Thụy sĩ ở những vết thương gan dẫn đến do CC14 đã cho thấy Glycosmis pentaphylla, Bauhinia orellana, hiển thị tác dụng bảo vệ gan, phụ thuộc vào liều lượng vừa phải, được chứng minh bằng cách hạ thấp những phân hóa tố huyết thanh và hỗ trợ nghiên cứu mô học tế bào gan.
● Kháng khuẩn :
Nghiên cứu trên dung dịch trích trong méthanol bảy (7) cây dược thảo, thì Cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla, cho thấy hoạt động vừa phải chống lại với tất cả sinh vật thử nghiệm.
● Chống oxy hóa :
Nghiên cứu cho thấy dung dịch trích từ lá của cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla và Bauhinia variegata có hoạt động ức chế nhặt rác những gốc tự do. Hiệu quả này có được do các chất flavonoïdes, những hợp chất phénoliques  và những chất hóa thực vật khác.
● Hạ sốt :
Nghiên cứu những dung dịch trích trong éthanolique của Bauhinia variegata và cây cơm rượu Glycosmis pentaphylla, thể hiện hoạt động hạ nhiệt đáng kể trong men rượu bia gây ra cơn sốt  ở chuột. Hoạt động được là do sự ức chế tổng hợp những prostaglandines trong hành tủy hypothalamus.


Nguyễn thanh Vân