Tâm sự

Tâm sự

jeudi 19 janvier 2012

Dây tơ hồng - Dodder

Dodder
Dây tơ hồng
Cuscuta chinensis L.
Convolvulaceae - Cuscutaceae
Đại cương :
Đồng nghĩa: cuscute, amour Cussutae, Guts Diable, Việt Nam gọi dây tơ hồng.....
Dây tơ hồng sống và phát triển ở khắp mọi nơi từ Âu Châu, Á Châu đến Nam Phi. Dây tơ hồng thích sống ở vùng ven biển và miền núi.
Tơ hồng có hương vị nồng cay, dịu và nóng ấm một cách tự nhiên và thể hiện hoạt động chữa trị trong những kinh mạch của gan, thận và lá lách.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc và phân phối : Châu Âu, Á , Nam Phi và lan rộng khắp mọi nơi.
Mô tả thực vật :
Dây tơ hồng là một loại ký sinh, bám vào những cây xanh cây chủ, dạng hình sợi, bởi những « hấp khẩu » rút chất dinh dưởng từ những cây này.
Cỏ leo quấn qua trái, toàn ký sinh, màu vàng ( không diệp lục tố ), đôi khi nhuộm màu cam hay màu đỏ, thỉnh thoảng, dây tơ hồng biến thành trắng, hút nhựa cây chủ nhờ « vòi hút », thân to 1-2 mm, không lá,
Phát hoa tròn tròn, hoa lưỡng tính, màu trắng hồng ( khoảng tháng 7 – 9 ), có 5 điểm nhọn, rải ra, thùy hình tam giác và phát triển thành chùm dày đặc, hoa có đài, 5 lá đài dính ; vành do 5 cánh hoa dính, vảy 5, cao 1,2 mm ; tiểu nhụy 5 ; noản sào 2, vòi nhụy.
Những hạt có thể sống tiềm sinh đến 8 năm.
Thân, gần như rất mịn và dạng sợi nhuyển, có khi tương đối lớn ( tùy theo đặc tính mỗi loài ).
Dây tơ hồng là mối lo nghĩ phiền nảo cho những người nông dân trồng cỏ « linh lăng » và « cỏ ba lá ».
Dây tơ hồng xếp vào nhóm dây bìm bìm volubilis ( họ convolvulaceae ) theo sự phân loại xưa, hiện nay các nhà phân loại xếp dây tơ hồng vào họ riêng của nó họ Cuscutaceae.
Gallois và al, tìm được khoảng 12 loài Cuscuta trong Utah, trong khi Weber ( 1986) tách họ này làm 2 với 1 loài Cuscute và 5 loài trong giống Grammica.
Sự tách biệt thêm Weber, căn cứ vào hình dạng và dấu vết trên dây.
Dây tơ hồng ký sinh hoàn toàn trên nhiều loài thực vật khác nhau, thực vật hoang hay trồng và đặc biệt chúng phá hủy cơ cấu những cây như luzerne, lespedeza, cỏ ba lá, và những cây khoai tây pommes de terre.
Đối với những cây cảnh cũng bị tấn công như cúc, cây thược dược, helenium, v…v…
Dây tơ hồng làm trở ngại cho những cây trồng cho hạt giống, bởi vì những hạt dây tơ hồng làm cho khó khăn việc thu hoặch hạt giống không như mong muốn và có thể lây lan, lẫn lộn với những hạt giống nhiễm khuẩn.
- Nước của dây tơ hồng, muối khoáng và glucides được hấp thu từ cây chủ xuyên qua những « vòi hút » xâm  nhập vào tế bào cây chủ.
- Trong vòi hút của dây tơ hồng được sửa đổi thành rể mọc ngẩu nhiên lan rộng trong thân cây chủ xuyên qua các mạch dẫn truyền.
Dây tơ hồng được mô tả ( Wilson và al. ) có chứa một vài diệp lục tố trong những chồi, những trái và những thân, nhưng lượng thực phẫm sản xuất trong tế bào không quan trọng đến sự sống còn của cây, như thế đây không có nghĩa là có thể sống tự dưởng với số diệp lục tố thực hiện quang tổng hợp như cây chùm gởi, mà hoàn toàn sống ký sinh nơi ký chủ.
Hoa, nhiều, trắng, hồng hay vàng, nhỏ ( 2 đến 4 mm dài tùy theo giống), và có thể họp thành nùi quả bóng dày đặc hay thành chùm rời rạc ( tùy loài ).
Hạt : Tơ hồng sản xuất các hạt màu vàng, nâu, hạt giống rơi xuống đất và nẩy mầm ở mùa sau, khi cây chủ mới tiếp cận phù hợp .
- Nếu không có cây chủ thích hợp, những hạt giống của dây tơ hồng có thể sống rất lâu, không hoạt động, dạng tiềm sinh trong vòng 5 năm.
- Dây tơ hồng sau khi nảy mầm phải bám vào một cây chủ, cho vòi xâm nhập vào cây chủ, trong vài ngày để hút thức ăn nếu không sẻ chết.
- Dây non, rất nhạy cảm với sự tiếp xúc và « sờ soạn, quơ qua lại » chồi ngọn thân vàng trong không khí đến khi tiếp xúc được với một cây. Sự tiếp xúc được thực hiện bởi một phòng (cabinet) hay nhiều phòng trên thân.
- Nếu cây chủ đến có chứa những thức ăn thích ứng với dây tơ hồng, sau đó dây được kích thích kế tiếp đánh thức những « tế bào sâu xa » của những « vòi hút » thành lập và xâm nhập vào thân cây chủ.
Phần căn bản của ký sinh nguyên thủy từ từ héo hủy đi không còn tồn tại tiếp nối với đất.
Cuộc đời ngắn gọn của dây tơ hồng : mùa thu gieo hạt tơ hồng trong năm, mùa đông hạt nẩy mầm dể dàng và ra rể vào cuối xuân năm tới.
Dây non nẩy mầm, « tạo dạng trên đất mềm », sự gieo hạt và tăng trưởng tùy thuộc vào chất dinh dưởng dự trử trong hạt, kế đến thân dạng « xoắn » được phát triển.
Với độ nhạy tế bào gốc, thời điểm cuối xuân-hạ được bắt đầu, nhiều loại cây phát triển trưởng thành, hoa nở chung quanh nhiều loài cây khác nhau, nên hạt dây tơ hồng dể dàng tìm được cây chủ thích hợp ký sinh của nó.
- Một khi tìm được ký chủ thích hợp của nó, bám vào ký chủ và bắt đầu cuộc sống ký sinh của mình, đồng thời rể trong đất cũng bắt đầu tiêu hủy.
Hạt tơ hồng là một loại hoàn toàn ký sinh được dùng như một vị thuốc, chủ yếu dùng :
- cho gan 
- và bổ thận,
- kích thích tinh trùng 
- và tạo đôi mắt màu xanh.
Bộ phận sử dụng :
Toàn dây tơ hồng và hạt
Thành phận hóa học và dược chất :
Thành phần hóa học dây tơ hồng gồm :
- những flavonoïdes ( nhất là kaempférol và quercétine )
- và acide hydroxycinnamique.
Thành phần chánh:
- Quercitine,
- cuscutine,
- astragaline,
- lutéine,
- hyperosides,
- stérols,
- Vitamine A.
Thành phần hóa học trong hạt tơ hồng bao gồm thành phần sinh học :

- alcaloïdes biologiques,
- anthraquinoniques ,
- coumarine ,
- flavones ,
- những stérols glycosides,
- những terpènes ,
- acide tannique .
Hợp chất chứa những flavones là :
- quercétine,
- astragalin
- và hyperin, với lượng toàn phần của flavone khoảng 3,0% trong cây sống nguyên trạng.
Hợp chất bao gồm nhất là những stérols :
- cholestérol,
- campestérol,
- bêta-sitostérol,
- stigmastérol
- và bêta-amyrin.
- hàm lượng acides amines khoảng 0,076 %,
- và hàm lượng polysaccharides toàn phần là 8,5 % trong dây tơ hồng.
Autres composés phytochimiques:

- neosesamin;
- kaempférol-3-O-beta-D-glucopyranoside,
- acide palmitique ,
- stéarique l'acide ;
- daucosterol ;
- acide cuscutic;
- acide cuscutic,
- acide cuscutic (acides cuscutic taraxanthin; v…v…
Những hoạt chất trong hạt tơ hồng được cho là một nhóm chất flavonoïdes.
Hạt giàu chất :
- quercétine
- và còn chứa cuscutin,
- astragalin ,
- vitamine A,
- hyperosides
- và stérols .
Vi phân tử được xác định ngày nay trong cây gồm :
- calcium (Ca),
- magnésium (Mg),
- fer (Fe),
- manganèse (Mn),
- và cuivre (Cu).
Những hợp chất đã được phân lập :
- quercétine 3-O-beta -D-galactoside-7-O-beta-D-glucoside (I) ,
- quercétine 3-O-beta-D-apiofuranosyl-(1 -> 2)-beta-D-galactoside (II),
- hypéroside (III) ,
- isorhamnétine (IV) ,
- kaempférol (V) ,
- quercétine (VI) ,
- d-sésamine (VII)
- và 9 (R)-hydroxy-D-sésamine (VIII).
Những hợp chất IV và VII đã được phân lập từ dây tơ hồng trước tiên, và những hợp chất I, II và VIII là những chất có đặc tính là một dược thảo. Tính chất hóa học và những hoạt động miễn dịch của một acide, polychaccharides này được phân lập từ những hạt của Cuscuta chinensis Lam.
Đặc tính trị liệu :
Trị liệu chánh là :
- chữa trị đầu gối mềm,
- chữa mất chức năng cường dương ( liệt dương ),
- đi tiểu thường xuyên,
- linh cảm trước sự hư thai avortement pressentiment,
- giảm huyết áp động mạch.
Dây tơ hồng Cuscuta chinensis, ký sinh phủ trên cây cỏ họ convolvulaceae. Dây tơ hồng này là một dây leo lưỡng tính nguồn gốc ở Châu Á
Tơ hồng Âu Châu ký sinh trên cây chủ, thân thảo các loại.
Dây được sử dụng trong y học Trung hoa như là một chất bổ chánh, đã dùng trong y học Trung hoa đã hơn ngàn năm, dây tơ hồng chứa rất nhiều hoạt chất.
Dây tơ hồng được sử dụng ở Trung Quốc như :
- thuốc bổ cho gan và thận âm,
- cải thiện thị lực,
- chữa trị tiêu chảy,
- khôi phục sự cương cứng bộ phận sinh dục nam và như chất kích thích tình dục.
Dây tơ hồng là một trong những thành phần quan trọng trong đa số đơn thuốc của y học truyền thống Trung Quốc.
Hạt tơ hồng đồng thời cũng dùng như một gia vị. Đã được sử dụng rộng rãi trong phép nấu ăn của các nước khác nhau để cải thiện chức năng của gan.
Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã được xác nhận giá trị của dây tơ hồng.
Sử dụng truyền thống :
- làm cho cường kiện gan và thận,
- tác dụng kích thích tình dục cho nam lẫn nữ,
- làm gia tăng sản xuất tinh trùng,
- cải thiện cho những trường hợp suất tinh sớm,
- làm chậm hình thành màng đục thể thủy tinh mắt,
- phổi,
- thận,
- bổ tim,
- chống lảo hóa,.
- kháng khuẩn,
- dưởng mắt,
- chất nhuận trường nhẹ,
Gia tăng trọng lượng những cơ quan sinh dục loài chuột theo một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.
Những nghiên cứu khác : Những nhà nghiên cứu người Anh đả chỉ rỏ bởi những thí nghiệm lâm sàng hiệu quả có lợi cho bệnh ung thư nhờ một acide polysaccharides chứa trong dây tơ hồng.
Một thành viên trong họ cucurbitaceae, dây tơ hồng là một cây sống hằng năm, sản xuất cho ra những hạt nhỏ màu nâu với hiệu quả mạnh đối với thể tạng của phái nam.
Trong y học truyền thống Trung Quiốc, hạt dây tơ hồng được xem như một liều thuốc bổ cho  « thận dương » và được sử dụng rộng rãi trong đơn thuốc cho những vấn đề sinh dục :
- như « bất lực »,
- xuất tinh ban đêm,
- xuất tinh sớm,
- số lượng tinh trùng thấp phát sinh từ thận thiếu dương.
Nói chung, dây tơ hồng :
- nuôi dưởng cơ quan thận trong cơ thể,
- kích thích mức năng lượng.
Như vậy, dây tơ hồng cũng hữu ích cho những triệu chứng khác như :
- suy thận,
- như đau lưng,
- ù tai,
- tiêu chảy,
- chóng mặt,
- mờ mắt.
Hoạt động dược lý của hạt dây tơ hồng :
1- Viêm tiền liệt tuyến mãn tính :
Những thử nghiệm lâm sàng. Một công thức phối hợp được đề nghị dùng chung với dây tơ hồng để chữa trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính :
Rhizoma Dioscoreae Hypoglaucae, Rhizoma Dioscoreae, Fructus Alpiniae Oxyphyllae, Rhizoma Alismatis, Fructus Corni et Herba Patriniae,
Rất có hiệu quả khoảng 90,6%, dùng 1 lần / ngày.
2- Cải thiện sự thiếu kém tinh trùng :
Được sử dụng chung với : Herba Cistanches, Fructus lycii, Radix Polgoni Multiflori, Radix Rehmanniae Praeparata et Fructus Schisandrae, dùng 1 lần / ngày
3- Hiệu quả phụ khoa :
Các nghiên cứu lâm sàng cho biết phối hợp điều trị với Radix dipsaci, Colla Corii Asini, Radix Codonopsis Pilosulae, Rhizoma Atractylodis Macrocephalae, hiệu quả trong những hiện tượng báo trước sẻ hư thai., dùng 1 lần / ngày trong 10 ngày.
Tĩ lệ lành bệnh cao 96,3 %.
4-- Hiệu quả chống ung thư :
Trong những nghiên cứu về nuôi cấy tế bào :
Một nồng độ 300 ml và 3000 mg chiết xuất dung dịch dây tơ hồng đã có thể ức chế sự tổng hợp DNA trong các tế bào ung thư cổ trướng Ehrlich.
5-- Hiệu quả kháng khuẩn :
Tác dụng kháng khuẩn : trong những nghiên cứu cấy nuôi, thuốc sắc dây tơ hồng đã được thể hiện trong ống nghiệm, tác dụng ức chế trên vi trùng Staphylococcus, Shigelle flexneri và Typhosus bacillus.
6- Cỏ chống lão hoá :
Hạt dây tơ hồng được sẻ cấu thành « dầu » và được xem như một loài cỏ chống lão hóa. Chất dầu này được dùng để tạo ra tinh trùng, gia tăng sinh lực, ở đàn ông và ở phụ nữ và được liệt kê như là một thuốc bổ, chất kích dục trong tất cả dược diển cổ truyền Trung Quốc.
7- Thuốc bổ thận âm và dương Yin Yang :
Hạt dây tơ hồng thường được sử dụng trong những chương trình chữa trị bổ dưởng lâu dài.
Là một thuốc bổ dịu nhẹ cho âm Yindương Yang của thận, và cũng giúp nuôi dưởng Qi ( Qi Gong là tiếng phổ thông Trung Quốc, theo truyền thống sinograms, sự kết hợp 2 khái niệm rộng lớn Qi có nghĩa : hơi nước, hơi thở, năng lượng, tinh thần và không khí hay khí , còn Gong là sự thực hiện hoặc kết quả của sự tấn công, làm việc tập thể dục , kỹ luật ). Hai từ này kết hợp để viết nên hệ thống và phương pháp nuôi trồng năng lượng cũng như vận dụng thể hiện các năng lượng của tất cả tổ chức sự sống.).
Dây tơ hồng được dùng để :
- cải thiện tầm nhìn,
- nuôi dưởng tinh trùng và tủy,
- tăng cường xương và gân cốt,
- và tăng cường chức năng tình dục.
Hạt tơ hồng, dùng rộng rãi trong công thức bổ dưởng lợi ích của âm Yin và dương Yang nguyên khí.
- được sử dụng tăng cường chức năng niếu sinh dục.
- chữa trị bệnh bất lực,
- xuất tinh quá sớm,
- tiểu tiện thường xuyên,
- và bệnh bạch đới khí hư,
- cũng như tai ù
- và đau dưới thắc lưng.
Những triệu chứng thường hay kèm theo điều kiện đưa đến sự yếu kém tình dục .
Hạt tơ hồng, tác dụng nhẹ nhưng hiệu quả bổ dưởng âm Yin và dương Yang, như vậy rất là hữu ích và là một cỏ leo quan trọng.
Những người bị thiếu âm thận sẽ có xu hướng trải nghiệm những triệu chứng :
- chóng mặt,
- mờ mắt,
- vết điểm trước mắt khi nhình,
- và ù ù trong lổ tai.
Tiêu dùng thường xuyên hạt tơ hồng có thể được cải thiện tầm nhìn và tiêu mất những triệu chứng . Hạt tơ hồng sẽ cấu thành nguyên khí âm Yin và được xem là một dược thảo chống lão hóa.
Dây tơ hồng, được sử dụng để :
- sản xuất tinh trùng,
- gia tăng sinh lực ở đàn ông lẫn đàn bà,
- và được liệt kê như thuốc kích dục trong tất cả các hạt giống dược tạp chế.
Dây tơ hồng theo y học truyền thống Trung Quốc sẽ được dùng với âm Yin hay dương Yang, bổ dưởng để củng cố nguyên khí và làm chậm lão hóa, ngăn ngừa mất hay thất thoát nhục hình.
Đây là mẫu thực vật cần thiết trong tất cả chương trình trẻ hóa cơ thể và kéo dài sư sống.
8- Dược thảo :
Hiệu quả hơn với những chứng bệnh ưu sầutức giận mù quáng, dữ dội, đó là nguyên nhân của những người sử dụng đầutrí nảo, cũng như sự rung động của trái tim.
Dây tơ hồng hữu ích trong tất cả các bệnh và nhhững cơn đau lá lách và sầu nảo ưu tư phát sinh từ sự sình hơi trướng bụng dưới.sườn.
9- Sử dụng hiện đại :
Hiện đại tơ hồng dùng như thuốc nhuận trường và một thuốc bổ cho gan, có vị đáng. Được dùng để chữa trị :
- bệnh vàng dađau thần kinh tọa.
Phương thuốc này không nên dùng khi mang thai và lý do nó có đặc tính nhuận trường xổ, dùng trong trường hợp này phải có sự hướng dẩn bởi của một nhà thảo dược học.
Hạt là một chất kích dục ( khơi dậy lòng ham muốn tình dục), làm bớt đau, toát tháo mồ hôi, gan và thuốc bổ.

Nguyễn thanh Vân

lundi 16 janvier 2012

Cây râu mèo - Cats whiskers - Thé de Java

Cats whiskers - Thé de Java
Cây râu mèo
Orthosiphon aristatus (Blume) Miq.
Lamiaceae
Đại cương :
Ở Châu Á nơi cây được gọi là misai kucing. Riêng Việt Nam gọi là cây râu mèo ở hình dáng tiểu nhụy dài của nó. Cây râu mèo được biết đến với tính chất lợi tiểu nhẹ của nó.
Khác với những giống có đặc tính lợi tiểu, cây râu mèo orthosiphon không có nguy hiểm đến thận bởi vì nó có một hàm lượng khoáng potassium lớn. Cây râu mèo cũng giàu chất polyphénols và chất tinh dầu thiết yếu..
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ thân thảo sống đa niên, cao 2 m, thân vuông 4 cạnh, thường không lông hoặc ít lông, đôi khi màu tím.
có cuống, cuống lá dài 1 – 2 cm , có lông, phiến lá hình mũi mác, bầu dục hay hình quả trám 2-9 x 1-5 cm, bìa lá có răng thô, có lông trên 2 mặt lá.
Phát hoa chùm ở ngọn nhánh, dài đến 10 cm.
Hoa kết thành luân sinh 6 hoa thưa, rời nhau, những lá bắc không cuống, hình bầu dục 1-2 cm, có lông mịn, cuống hoa 4 mm dài, đài hoa cong hình chuông, ống dài 3 mm trong thời kỳ hoa nở toàn diện cả chức năng hoạt động của hoa, có lông tiết, 10 gân, hơi thô sần sùi trên gân, những môi trên 3 x 2,5 mm, có 4 thùy, môi dưới dài hơn môi trên, lõm,  thùy giữa nhọn, vành trắng hay xanh tím nhạt, 10 – 16 mm dài, ống 10 – 15 mm dài, thẳng, môi trên tồn tại lâu hơn môi dưới,
Tiểu nhụy rất dài 2 hoặc 3 lần vành, nhụy đực mịn cuộn trong chồi hoa, bao phấn màu tím, vòi nhụy 5-6 cm dài, mịn.
Bế quả nhỏ, láng, hình bầu dục dài 2 mm.
Bộ phận sử dụng :
Lá xấy khô, ngọn hoa, thân.
Thành phận hóa học và dược chất :
- Tinh dầu thiết yếu,
- flavonoïdes
- saponines
- tanins
- một hàm lượng lớn potassium, 
- giàu chất polyphénols.  
Ngoài ra cây còn chứa những chất :
- Hedargenin,
- ß-sitosterol,
- ursolique acid,
- glycolique acid,
- acétovanillochromène,
- acide caféique,
- acide chicorique, 
- acide dicaféyltartrique,
- acide romarinique, 
- acides hydroxycinnamiques, 
- alpha-amyrine,
- alpha-guaiène,
- alpha-humulène, 
- apigénol, 
- béta-caryophyllène, 
- béta-élémène,
- béta-sélinène, 
- bétaïne, 
- choline,
- cirsimarine, 
- delta-cadinène,
- dérivés benzopyraniques, 
- diterpènes
- methylripariochromene A.
Những lá chứa  methylripariochromene A (MRC) có tác dụng làm tăng lượng nước tiểu và bài tiết sodium Na, potassium K và clorure Cl, những chất này làm huyết áp động mạch hạ thấp hơn, làm giản nở mạch máu. Kết quả cho ta thấy MRC giảm dung lượng tim và tác dụng hiệu quả lợi tiểu.
Đặc tính trị liệu :
Cây râu mèo cũng được biết đến nhiều được gọi là « trà java », sử dụng rộng rãi như một vị thuốc thảo mộc dân gian trong nhiều thế kỷ. Cây được dùng để điều trị các bệnh sau :
- viêm thận (inflammation rénale),
- sạn thận (calculs rénaux)
- tiểu khó (dysurie).
- những vấn đề của ganbàng quang kể cả những vấn đề sạn bàng quang
- nhiễm trùng đường tiểu (infection des voies urinaires),
- tiểu đường (diabète),
- phong thấp (rhumatismes)
- và chứng thống phong (goutte).
- giảm lượng cholestérole
- hạ huyết áp động mạch,
- chống dị ứng (antiallergique),
- chống huyết áp cao (anti-hypertenseurs),
- chống viêm sưng (anti-inflammatoire)
- và lợi tiểu nhẹ (diurétique)
- hay kích thích sản xuất nước tiểu.
- là một chất chống oxy hóa trong cơ thể.
Cây râu mèo orthosiphon, là một dược thảo thông dụng về niệu bệnh học tức môn học về đường tiểu. Cây này được dùng trong những bệnh về thận và như lợi tiểu tiện hay lợi niệu. Dược thảo này loại bỏ chất urê, chất chorue và chất acide urique.
- Acide usolique trong cây sẽ hạ nồng độ đường máu, trong khi những đặc tính chống oxy hóa, chỉ khuẩn (bactériostatique) và chống viêm sưng antìnflammatoire là do acide rosmarinique.
- Một hiệu quả giản mạch được giải thích việc sử dụng của dân gian cây râu mèo orthosiphon như là yếu tố chống huyết áp cao.
- Cây râu mèo là dược thảo có tác dụng lợi mật (cholagoue) ( dể dàng thải mật vào hệ thống tiêu hóa ), thúc đẩy loại bỏ acide urique, sạn thận và giúp ngăn ngừa tránh tái phát chứng đau bụng thuộc về thận (colique néphrétique)
Trà râu mèo, thành phần căn bản râu mèo orthosiphon aristatus ( còn gọi là trà java ) được dùng để chữa :
- bệnh viêm mô tổ ong hay mô dưới da
- và giúp cải thiện cho sự lưu thông máu.
Loài này cũng có hiệu quả như kháng nấmkháng khuẩn.
Người ta có thể dùng thêm vào chế độ ăn uống trong khuôn khổ của việc giảm cân, giảm khả năng giử nước trong cơ thể .
Những lá và những hoa đều dùng được. Cây râu mèo orthosiphon là một phương thuốc cho sự suy mòn (cachexie) và rối loạn hệ thận, và còn được dùng trong chứng :
Cây râu mèo là :
- một đơn thuốc chữa trị chứng cứng động mạch ( rối loạn mao tế quản và tuần hoàn máu ) ( đang nghiên cứu và thảo luận ),
   - Cây có ích lợi cho việc tẩy rửa sạn bàng quang và đường tiểu tiện,
   - Cây có tác dụng làm giảm sự co thắc những cơ trơn trong thành vách niêm mạc của cơ quan nội tạng,
   - Cây có giá trị trong những vấn đề của hệ thống ống dẩn mật.
Những nhà nghiên cứu đã tìm ra cây có đặc tính xác trùng nhẹ.
   - Đau lưng ( xác xuất có thể nguyên nhân do vấn đề ở thận ),
- sự bội tăng của thận,
- những chứng say sóng nôn mữa ( nguyên nhân bệnh do biển hay không khí ),
- Cây râu mèo orthosiphon có thể làm giảm nồng độ đường trong máu ở những bệnh nhân phụ thuộc vào insulin.
Chủ trị :
- bệnh gan (affections hépatiques)
- bệnh thận (affections reins)  
- bệnh bàng quang (affections vessie), 
- chứng lở chóc (thấp chẩn hay sang thấp) (eczéma), 
- suy thận (insuffisance rénale)
- kết thạch đường tiểu (lithiase urinair), 
- bệnh béo phì (obésité), 
- rối loạn thận, 
- rối loạn gan,
- chứng urê huyết cao (urémie), 
- chứng acide urique trong máu (uricémie)
Ứng dụng :   
Đơn thuốc râu mèo của Thái Lan :
Một số ít hoa tươi và lá được ngâm trong nước đun sôi, dùng như trà. Hoa và lá cũng có thể xấy khô và nghiền nát thành bột dùng như trên với nhiều nước.
Phân lượng bình thường, không được vượt quá 2 gr / ngày.
Độc tính thử nghiệm :
Dùng orthosiphon với liều lượng lớn 5 gr cho mỗi kg trọng lượng cơ thể quan sát cho thấy :
- dược tính không ảnh hưởng vào trọng lượng cơ thể của nhóm theo dỏi,
- SGOT không thay đổi,
   - SGPT và xét nghiệm máu BUN (blood urea nitrogen) trong các mô bệnh học, các bộ phận trong cơ thể, cơ quan thận, gan, tim, phổi, và lá lách.
Không có sự thay đổi đã được phát hiện.
Như thế người ta có thể kết luận không nguy hiểm trong trường hợp dùng quá liều.
Phương pháp nấu tiêu biểu :


 
Nguyễn thanh Vân

jeudi 12 janvier 2012

Cây vòi voi - Herbe papillon

Herbe papillon
Cây vòi voi
Heliotropium indicum L.
Boraginaceae
Đại cương :
Đồng nghĩa :
Heliophytum indicum (L.) DC.
Tiaridium indicum (L.) Lehm.
Cây vòi voi mọc trên đất cát hoặc bùn nơi mà có nhiều chất hửu cơ, nơi ngập lụt và đồng cỏ, dọc theo bờ đường, ven mương, hồ, nơi nước thải và rất thông thường.
Mùa trổ hoa kéo dài, những hạt được thành lập đã được phóng thích đi trong khi nụ hoa còn lại vẫn khép kín.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Ở Ấn Độ
Mô tả thực vật :
Heliotropium indicum, còn gọi  gọi là cây vòi voi Ấn Độ. ( héliotrope Indien )
Cây sống nhất niên, đứng thẳng, phân nhánh rậm rạp, 15 đến 50 cm chiều cao. Thân và lá nhám vì có lông, dò tẩm CO3Ca.
luôn luôn mọc đối hay mọc xen kẻ, không lá bẹ, hình  bầu dục thôn dài, hơi có lông, có mủi nhọn,
Cuống lá dài 3-8 cm.
Phát hoa tụ tán hình đuôi mèo, mọc từ nách lá, hoa nhỏ trắng, hoa đều, ngủ phân, lá đài xanh cao 2,5 cm, vành hoa hình ống, tiểu nhụy gắn ở dưới giữa ống vành.
Trái khô 2-4 thùycủa 2 hay 4 gần rời, gọi là tứ bế quả cao cao 3-4 mm.
Bộ phận sử dụng :
Toàn bộ cây
Thành phận hóa học và dược chất :
Heliotropium indicum chứa :
- Aerial parts contain
- pyrrolizidine alkaloids, ( chất chánh )
- Indicine (principal),
- Echinitine,
- Supinine,
- Heleurine,
- Heliotrine,
- Lasiocarpine- N-oxide,
- Indicinine,
- Anti-tumour alkaloid, indicine-N-oxide.
- Helindicine
- Lycopsamine
- Indicine-N-oxide
- Acetyl-indicine
- Supinidine
- Lindelofidine
- Trachelanthamidine
- Retronecine
- Putrescine
- Spermidine
- Spermine
- Rapanone
- C16-C18 ester acide béo của 1 cyano – 2 – hydroxymethylprop-1-en-3-ol.
Cây cũng có sản lượng tinh dầu cần thiết trong đó bao gồm chủ yếu :
- 49% phytol,
- 6,4%  1-dodecanol
- và 3%  β linalool
Cây vòi voi cũng chứa:
- rapanone
- và lupeol
- và một ester của retronecine;
Rể chứa một lượng cao estradiol (Ghani, 2003; Rastogi & Mehrotra, 1993).
Pyrrolizidine alkaloids, được coi như chất thuộc một chất thuộc dược vật học, sinh họcchimio-taxonomique ( nghiên cứu mối quan hệ giữa sự sắp xếp phân loại và thành phần hóa chất trong cuộc sống ) có lợi ích lớn. Những chất chuyển hóa đã được phân lập từ nhóm lớn của họ Boraginaceae.
Giống Héliotropium ( giống cây vòi voi ), là một nguồn chất mà người ta đã biết rỏ một vài alcaloïdes và những hợp chất nhỏ khác, chẳng hạn như flavonoïde và những chất dẩn xuất mùi thơm  géranyle.
Nhóm này được thành lập khoảng 250 loài, hiện diện bởi những loại thân thảo hay tiểu mộc, phân bố khắp nơi trên địa cầu.
Trong khuôn khổ nghiên cứu tìm kiếm hoạt chất sinh học hiện diện trong cây của chất trích EtOH từ những rể cây vòi voi Héliotropium indicum L. được phổ biến rộng rãi gọi là « fedegoso » được tìm thấy nhiều trong vùng bắc Ba Tây, đã được nghiên cứu.
Và loài này được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian trong chữa trị:
- bệnh ngoài da
- như một chất long đờm.
Dựa trên căn bản những tạp chí văn học, và những chủ đề đã nghiên cứu có từ trước, dẫn đến sự phân lập chất pyrrolizidine alcaloïde. Bài nghiên cứu này mô tả sự phân lập và giải thích cấu trúc của loại mới pyrrolizidine alcaloïde và được biết thêm alcaloïde lycopsalmine.
Đặc tính trị liệu :
Lá cây vòi voi có những đặc tính sau :
- Chất làm se thắc,
- Hạ sốt, cho những bệnh nhân bị sốt cao,
- Giảm đau,
- Đơn thuốc cho những mụt nhọt.
Sử dụng tổng hợp, lá và chồi non dùng để trị :
- Nổi mày đay urticaire,
Phương cách ngâm trong nước nấu sôi infusion,
- với một liều lượng nhỏ sẻ điều hòa kinh nguyệt,
-  nhưng dùng với một liều lớn sẻ trụy thai abortive.
Phương cách nấu sắc lá vòi voi dùng :
- thuốc trục giun sán.
Nước ép lá  dùng để:
- Chống viêm sưng,
- Đấp bên ngoài vết thương, vết loét, những nhọt đầu đinh và những mụt trên mặt.
Đun sôi với dầu ricin ( dầu đu đủ tía hay dầu hạt thầu dầu ), dùng bên ngoài nơi vết bò cạp cắn.
Theo y học truyền thố ayurveda của Ấn Độ cây vòi voi chữa trị :
- loét,
- vết thương,
- các bệnh ngoài da,
- côn trùng chích,
- chứng phong thấp,
- sốt,
- ho,
- bệnh ghẻ,
- bệnh đơn độc érysipèle,
- đau mắt
Hạt vòi voi chữa những bệnh đau dạ dày.
Ở Tây Phi, cây vòi voi đã được biết đến và được sử dụng trong :
- ói mữa,
- không kinh nguyệt aménorrhée,
- huyết áp cao,
- Ung mủ nướu răng gumboils,
- rữa vết loét,
- và những bệnh về mắt ( cẫn thận ??? ).
Ở Sierra Leone, lá vòi voi được nấu sắc sử dụng tắm rữa trẻ sơ sinh trong khi bột lá được dùng trị :
- viêm da dermatite,
- chóc lở,
- chứng lở chóc, sang thấp eczéma,
- nhiễm mặt ngoài da do vi khuẩn thường do Streptococcus pyogenes (impétigo)
 Ở Sénégal, lá đun sôi được dùng :
- đẹn (muget)
và thuốc cao hay thuốc dán được dùng cho thủy bào chẩn ( nhiễm virus da ung trào mủ ) herpès và phong thấp ở Nam Dương.
Cây vòi voi còn là một đơn thuốc chữa trị đau cổ họng và phổ biến ở Đài Loan. Taiwan.
Tại Nigeria, cây vòi voi dùng cho chứng :
- sốt
- và loét.
Ở phiía tây nam Nigeria, cây vòi voi dùng để chữa trị :
- chứng viêm sưng,
- đặc biệt khớm xương sưng.
Tuy nhiên một số hoạt động có liên quan tới khoa học thực vật. Chúng bao gồm các hoạt động hệ tiêu hóa ( Adelaja và al 2008 ), hoạt động lành vết thương ( Srinivas và al,2000 ), hiệu quả chống lao phổi ( Machinan và al, 2005 ), hiệu quả antiproliférative ( Moongkarndi và al, 2004 ), cũng như hiệu quả kích thích sự miễn nhiễn ( Ashoka và al, 2009 ).
Chủ trị : indications
Rể có tác dụng :
- kích thích tình dục,
- dùng để chữa trị bệnh quáng gà ( không nhìn rỏ ban đêm ).
Phương cách nấu sắc rể được sử dụng trị sốt và ho.
Hạt trị những chứng đau dạ dày.
Hoa được xem như emménagogne với liều lượng nhỏ, với liều lớn sẻ có tác dụng trụy thai.
Dung dịch trích với rượu những rể cây vòi voi là ocytocique ( là một loại thuốc có khả năng kích thích co bóp tử cung hoặc trong khi sinh đẻ ) ( Asolka và al, 1992 )
Hiệu quả xấu và rủi ro : :
“Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); Từ năm 1969, các nhà khoa học đã phát hiện trong một số loài Heliotropium như Heliotropium lasiocarpum Fish et Mey có một số alkaloid độc tính cao với gan, gây hủy hoại tổ chức gan, đau bụng, tiêu chảy, xuất huyết lan tỏa và có thể gây ung thư.
Độc tính này không xuất hiện ngay sau khi dùng thuốc mà kéo dài âm ỉ, khó phát hiện. Do đó không nên dùng cây vòi voi này làm thuốc”.
Trên thế giới, nhiều nước có nhiều cây vòi voi mọc hoang cùng giống Heliotropium nhưng lại có nhiều loài.
Cây vòi voi ở Việt Nam, như đã nói trên với thành phần hóa chất và tính dược nhưng cho đến nay không thấy có sự ghi nhận độc tính như héliotropium lasiocarpum, nhưng chúng vẫn có 2 chất xem như chất độc :
- Pyrrolizidine alcaloïde
( Fu, P.P., Yang, Y.C., Xia, Q., Chou, M.C., Cui, Y.Y., Lin G., "Pyrrolizidine alkaloids-tumorigenic components in Chinese herbal medicines and dietary supplements", Journal of Food and Drug Analysis, Vol. 10, No. 4, 2002, pp. 198-211 )
 Vì vậy, người ta nên cẩn thận, trong thiên nhiên thực vật dể bị lầm lẫn có thể gây thiệt hại cho sức khỏe, và thận trọng khi dùng cây vòi voi làm thuốc đắp chữa các bệnh ngoài da như: nhọt giai đoạn chưa có mủ, viêm tấy, tụ huyết, sưng khớp.


Nguyễn thanh Vân

mardi 10 janvier 2012

Dừa nước - Nipa palm

Nipa palm
Dừa nước
Nypa fruticans Wurmb
Arecaceae
Đại cương :
Nypa fruticans, được biết dưới tên palmiers attap ( Singapour ), le palmier nipa ( Philippines ), và la mangrove de palmiers hay buah ATAP ( Indonésie ), buah Nipah ( Malaisie ), dừa nước ( Vietnam ), John Ging Pol ở cinghalais đến Sri Lanka và GED pata ( Bangladesh ), Dani ( la Birmanie ).
Đây là nhóm cọ palmier được xem như một loài cọ mọc ở vùng ngập nước rừng sát. Là một giống duy nhất Nypa. Phát triển rất mạnh lan tràn ở Châu Á và miền bắc Úc Châu trong hệ sinh thái « Indomalais écozone ».
Loài dừa nước đã có từ thời cổ sinh, những địa khai của phấn hoa đừa nước, hóa thạch đã được xác định từ cổ đại 70 triệu năm về trước.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Cây dừa nước mọc trong những vùng sình lầy, rừng ngập nước, ven biển, nơi mà thủy triều có nước chảy mang phù sa và chất dinh dưởng bồi đấp. Do sự tự nhiên, dòng nước mang đi, hạt được nảy mầm khi gặp điều kiện thuận lợi.
Dừa nước thường gặp dọc theo bờ biển đầm lầy, rừng sát nơi mà cửa sông đổ vào Ấn độ dương, Thái bình dương, ở Viêt Nam thường gặp ở cửa biển Cần giờ và những cửa biển sông cửu long miền nam .
Mô tả thực vật :
- Thân dừa nước, gọi là stype, thật sự thì đây không phải đúng nghĩa thân, mà là thân giả do sự kết hợp bao bởi những bẹ lá, nên vắng mặt những hệ thống tế bào tăng trưởng như những loài cây thân mộc thật sự. Thân không tăng trưởng đường kính và giử nguyên kích thước cho đến chóp ngọn, nếu có là do hiện tượng bất thường do khí hậu ành hưởng tạo ra hoặc có hiện tượng phân nhánh chẳng hạn.
Thân và lá :
Lá rất to, đứng từ trong bùn, cao 5-9 m, giống như lá dừa trên cạn.
Dừa nước Nypa có một thân mọc ngang dưới lòng đất to 25-40 cm và chỉ có những lá và những hoa nổi lên mặt đất mà thôi. Vì vậy, dừa nước không thể xem như một cây thân mộc, mặc dầu những stipe ( bẹ lá kết hợp ) có thể đạt tới độ cao 9 m. Mới nhìn người ta cứ nghĩ cây dừa nước không thân, sự thật như đã mô tả trên thân nằm ngang dưới đất chỉ thấy trên không một cụm lá với bẹ lá và lá chét.
Phát hoa : Phát hoa hình chùm, kết hợp bởi những cụm hoa hình cầu. Hoa đồng chu, cao đến 2 m
Hoa cái nở rộ ở  cụm phát hoa đầu nhánh ,
Hoa đực, màu đỏ hay vàng, dạng đuôi chồn ở nhánh thấp hơn, mang nhiều hoa đực cao 2mm, có tiền diệp hẹp, tiểu nhụy 3 .
Thụ phấn : do côn trùng như ong ruồi, …..chẳng hạn.
Trái : thành buồng, màu nâu, cho những hạt cứng ngấm chất lignin bên trong lớp xơ sợi, khi đã thụ phấn, trái dừa nước được sắp xếp, nén vào nhau theo thứ tự đều theo cụm hình quả cầu đường kính chung 25 – 30  cm gắn trên đầu của một cuống gọi là quài dừa nước là tập họp của nhiều đơn vị .  
Hạt, một, trường thành tách rời khỏi quả bóng cầu, trôi nổi và được phát tán bởi dòng nước trôi đi khắp nơi, gặp môi trường và điều kiện thuận tiện chôn xuống đất bùn nẩy mầm cho ra một cây mới.
Phôi nhũ lúc non mềm trong trong ăn được, sau cứng
Trên phương diện sinh môi học, dừa nước chịu đựng được nước lũ lụt thường xuyên, đất không khô quá lâu và là cây sống vùng ngập mặn, độ mặn thay đổi từ mặn đến lợ, vì vậy người ta gặp dừa nước ở tất cả môi trường ngập nước điều kiện thay đổi .
Bộ phận sử dụng :
Lá, trái, thân
Thành phận hóa học và dược chất :
Giá trị dinh dưởng :
Những thành phần nguyên tố muối khoáng và được xác định bởi hóa học thực vật của cây dừa nước Nypa fructicans (ở rừng sát, rừng ngập mặn ) đã được nghiên cứu :
▪ Phân tích trái ( gồm ngoại, trung và nội quả bì ) đã cho thấy cây dùa nước Nypa chứa :
- Độ ẩm (65,14 ± .0.04% MS),
- chất béo lipides (1,5 ± 0,13% de MS),
- Chất đạm thô protéines brutes (2,00 ± 0,64% de MS),
- Chất xơ fibre (2,47 ± 0,09% de MS),
- Tro (4,20 ± 0,14% de MS),
- Đường glucides (24,63 ± 0,17% de MS)
Trong khi những hạt ( gồm cả nội quả bì tức phôi nhũ ) chứa :
- Độ ẩm humidité (41,96 ± 0,28% de MS),
- Chất béo lipides (0,94 ± 0,01% de MS),
- Chất đạm protéines thô (1,27 ± 0,01% de MS),
- Chất xơ (2,50 ± 0,19% de MS),
- Tro (2,70 ± 0,11% de MS)
- và đường glucides (51,0 ± 1,71% de MS).
Các hàm lượng nước và đường cho thấy mức tăng cho cả 2 trái và hạt so với các thông số khác gần đúng ±.
Ngoài ra thành phần hóa học còn được nghiên cứu sâu rộng :
Trích xuất nội phôi nhũ hay nội quả bì của trái dừa nước chưa chín unripe, có sự hiện diện của :
- những phénoliques cao nhất,
- hàm lượng chất flavonoïdes,
- và khả năng chống oxy hòa  antioxydante.
Khả năng làm sạch gốc tự do của trích xuất trái chưa chín, được đánh giá bởi những chất :
- 2 - azino-bis (acide 3-ethylbenz-thiazoline-6-sulfonique (ABTS),
- và hydrazyl radicaux 1,1-diphényl-2-picryles.
- Chất bêta-carotène trắng của trích xuất nội quả bì chưa chín có hệ số cao nhất so với trích xuất của những nội quả bỉ trái chín.  
Hơn nữa, trái chưa chín unripe có khả năng chống oxy hóa cao.
8 hợp chất phénoliques của trích xuất nội quả bì Nypa fruticans đã được xác định và định lượng bởi sắc ký lỏng liquit chromotography,  với siêu hiệu xuất cao ultra-haute performance.
- acide chlorogénique,
- acide protocatéchuique,
- và kaempferol là những chất chánh của  hợp chất phénoliques.
Cũng như, trái này có thể được sử dụng như nguồn có tiềm năng chống oxy hóa tự nhiên .
Những thành phần độc chất được biết :
- Hydrocyanur hay acide cyanhydrique toàn phần 0,63 ± 0,02 0,08 ± 0,01
- Oxalate 6,50 ± 0,25 9,90 ± 0,08
- Acide phytique 4,03 ± 0,09 8,50 ± 0,64
- và hàm lượng phytates là 0,63 ± 0,02, 6,50 ± 0,025 và 4,03 ± 0,09 mg/100g DM theo thứ tự, ( Phytates là  một chất tồn trử của phosphore mà người ta tìm thấy trong hạt của thực vật và trong một số rể và củ  ( Dipak et Mukherjee, 1986).
Các mức độ các hợp chất độc tương đối rất thấp trong hạt và vỏ.
Thành phần muối khoáng trong vỏ và hạt của dừa nước Nypa fructicans ( mg /100g ) :
- Sodium 3,50 ± 0,42 11,60 ± 0,13
- Potassium 147,28 ± 0,65 128,52 ± 0,64
- Calcium 9,58 ± 0,05 5,00 ± 0,40
- Magnésium 24,76 ± 0,59 11,32 ± 0,11
- Fer 16,15 ± 0,01 10,60 ± 0,08
- Cuivre 0,06 ± 0,01 0,60 ± 0,08
- Zinc 7,10 ± 0,08 7,67 ± 0,05
Hàm lượng của vitamine A chứa trong lớp vỏ bao của hạt ( trọng lượng khô ) và cho thấy rằng lượng chứa  30,50 ± 0,64 et 8,00 ± 0.21mg/100g DM theo thứ tự.
Hàm lượng vitamine A trong trái cao hơn ở hạt.
Đặc tính trị liệu :
Theo Đông y, dừa nước có công dụng tương đương với dừa trên cạn nhưng khí âm hàn nhiều hơn.
Dừa nước có đặc tính :
- ngọt mát,
- không độc,
- giúp tăng cường khí lực,
- tươi nhuận nhan sắc,
- giải nhiệt,
- cầm máu,
- rất tốt khi điều trị cảm nắng,
- thổ huyết,
- máu cam.
Theo truyền thống dùng thuốc lá cây ở Châu Á, người ta sử dụng gổ ( thân ) và dừa nước, Áp dụng ngoài cơ thể để chữa trị những vấn đề :
- thuộc da như herpès
- và chế biến để chữa trị bệnh đau đầu và đau răng.
Ứng dụng :
Dùng như thực phẩm :
Nội quả bì còn non của trái mềm và nhờn như keo ăn sống hoặc nấu chín, người ta còn dùng ngâm trong nước đường chế biến những hộp sirop.
Nhân khi khô cứng, dùng như ngà thực vật  và trong thủ công chế biến những mỹ phẩm trang sức v..v…
Những cụm hoa sau khi lên men được sử dụng làm sirop, thức uống có alcool ( như rượu whisky dừa nước ) hoặc làm dấm và đường.
Những màng mỏng bao phủ mặt dưới lá non được sử dụng tại địa phương sản xuất giấy vấn thuốc lá.
Phần lá dùng trong việc xây dựng như lợp mái nhà, phên tường nói chung thì tất cả bộ phận của dừa nước đều được sử dụng phục vụ cho đời sống con người như dây thừng, giỏ, mũ nón dụng cụ nhà bếp …v…v…
Trước khi cụm hoa trổ, người ta khai thác để lấy nhựa đường.
Đọt non có thể ăn, cánh hoa có thể dùng làm dùng ủ hương vị cho trà.
Những trái chưa chín có màu trắng mờ và cứng giống như thạch còn gọi là « attap » được dùng như món ăn khai vị ở địa phương.

Nguyễn thanh Vân