Tâm sự

Tâm sự

dimanche 18 décembre 2011

Rau má - Gotu kola

Gotu kola
Rau má
Centella asiatica (L.) Urb.
Apiaceae
Đại cương :
Rau má được dùng như một dược thảo trong y học ayurvédique của Ấn Độ và y học truyền thống của Trung Hoa. Rau má được biết dưới tên khoa học khác Hydrocotyl asiatica L. và những tên khác gọi là biệt ngữ hay tiếng bình dân như Gotu kola, Antanan, Pegaga .
Cây rau má đã được ghi trong danh sách dược điển và sử dụng từ hơn 3000 năm bởi y học ayurvédique, nhất là với đặc tính trị liệu được biết đến trong sự điều trị những bệnh về da và sự hoạt động trên sự vi tuần hoàn của mạng lưới vi tế quản.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Rau má centelle asiatica thuộc loại cỏ thân thảo, sống hằng niên thuộc họ apiaceae, có nguồn gốc ở Á Châu và Châu Đại Dương. Nguồn gốc trú ngụ thông thường ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Mô tả thực vật :
Cây trưởng thành khoảng 3 tháng và người ta thu hoặch tất cả ( kể cả rể )
Cây rau má được cấu tạo bởi một thân ngầm dài, sợi xanh đôi khi hồng tùy loại tạo thành một thực vật thân bò ( stolons ).
Những lá màu xanh lá cây cấu trúc mềm, hình dáng quả thận và một cuống ngắn khoảng 20 cm.
Hoa nhỏ ( dưới 3 mm ) lưỡng tính màu hồng đến xanh, hợp thành tán gần mặt đất. Mỗi hoa có một phần chứa trong lá bẹ. 5 nhụy đực và 2 vòi nhụy.
Bộ phận sử dụng :
Lá, rể.
Thành phận hóa học và dược chất :
Thành phần hóa học gồm :
- Acides :
- Acide madécassique,
- Acide asiatique
- Hétérosides:
- Madécossides
- Asiaticosides
- Alcaloïdes ( hydrocotyline ),
- Saponine,
- Génines
- Saponines triterpénique ( asiaticoside, brahmoside, thankuniside ),
- và một chất đắng vellarine.
Đặc tính trị liệu :
Rau má hoạt động trên hệ thống :
- Tuần hoàn,
- Thần kinh,
- Hệ tiêu hóa,
- và trên sự tái tạo mô tế bào.
Người ta cũng dùng trong :
- Những rối loạn tiêu hóa
- Phong thấp
- thậm chí điều trị chứng nan y bệnh phong cùi.
Hoạt động :
- Hưng phấn thần kinh nervine,
- Chống sốt  antipyrétique,
- Thuốc bổ tinh thần  tonique mental,
- Chống sự co thắc antispasmodique,
- Giảm đau  analgésique,
- Chống hen suyễn,
- Lọc máu  purifie le sang,
- Lợi tiểu diurétique,
- Ngăn ngừa xuất huyết trường hợp chứng Pitta cao. ( Pitta là danh từ y học ayurvédique chỉ người có tính khí mạnh mẽ, có xu hướng chịu áp lực bởi sự vượt quá sức hoạt động của mình, bực mình phát cáo và con người dể tức giận ).
Rau má có tác dụng cụ thể trên những mô liên kết và có một tác dụng chữa trị được biết trong sự điều trị :
- những vết phỏng
- những vết thương,
- nhất là những vết thương của sự giải phẫu
- và những chỗ loét ở da.
Ở Ấn Độ, rau má được sử dụng cho nhiều bệnh tật. Rau má được đánh giá cao cho năng tính tái tạo và những đặc tính hổ trợ tốt cho trí nhớ và sự tập trung.
Ở phuơng Tây, người ta đánh giá cao những tính năng của rau má :
- Làm cường kiện những màng thành mạch máu
- Cải thiện sự tuần hoàn,
- nhưng đồng thời cũng dùng trong những vấn đề của da.
Người ta dùng rau má để chữa trị chứng bệnh tĩnh mạch trướng ( giản tĩnh mạch ) đôi khi cho những kết quả làm cho người ta kinh ngạc.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy trong 80% những trường hợp bệnh nhân bị chứng tĩnh mạch trướng, đã đạt được sự cải thiện rất rỏ ràng.
Trong y học Ayurvédique Ấn Độ, rau má được dùng cho :
- Tất cả các bệnh về da ( kể cả bệnh phong cùi lèpre ),
- Tạo sẹo vết thương,
- Các vấn đề thuộc mao quản,
- Chứng động kinh épilepsie,
- Những lổ trống trí nhớ ( trous de mémoire ).
Câu tục ngữ của Tích Lan : « ăn 2 lá rau má mỗi ngày, đẩy lui được tuổi già », không nghi ngờ bởi vì rau má cũng đã được đánh gíá đặc biệt bởi những con voi thường sống rất già.
Rau má có những đặc tính :
- Thuốc bổ,
- Chống phong thấp,
- Lợi tiểu,
- An thấn sédative ( với liều lượng mạnh ),
Khi người ta ăn lá rau má sống như salade, rau má được coi như có hiệu quả làm trẻ hóa.
Dùng cách nấu sắc lá rau má có thể hạ huyết áp động mạch.
Dùng bên ngoài cơ thể : những chất stéroïdes của rau má làm cho :
- Giảm chứng phong cùi,
- Giảm ngứa,
- Làm mềm mát những vết phỏng,
- và dể dàng lành vết thương.
Năm 2001, một nhóm nghiên cứu Anh Quốc, chứng minh rằng rau má có thể điều trị chứng bệnh giản tĩnh mạch còn gọi là chứng tĩnh mạch trướng.
Người ta cũng cho rằng rau má có hiệu quả kích thích tình dục và chống sự oxy hóa.
Một nghiên cứu năm 2010 chỉ cho thấy, rau má có khả năng như một thuốc chống sự buồn chán tư lự.
Rau má tác dụng vào mô tế bào : ảnh hưởng tất cả các mô ngoại trừ mô sinh sản. Chủ yếu tác dụng vào máu, tủy cũng như thần kinh.
Chủ trị :
Đối với những dây thần kinh :
- Căng thẳng tinh thần,
- Mất ngủ insomnie,
- Chứng động kinh  épilepsie,
- Sự bồn chồn xúc cảm.
- Thư giản hệ thống thấn kinh trung ương.
Rau má hữu ích trong trường hợp :
- Mất cân bằng trong tư cách lối cư xử,
- Tự kỷ,
- Hội chứng Asperger ( sự rối loạn một chuổi phát triển tự kỷ ảnh hưởng bởi xả hội, đời sống ), bằng cách giãm căn thẳng để kéo dài tuổi thọ.
Tinh thấn :
- Giúp cải thiện sự tập trung,
- Thông minh,
- Trí nhớ
- và sức sống linh hoạt vui vẻ.
Rau má cũng được sử dụng trường hợp bệnh mất trí nhớ Alzheimer, tình trạng suy nhược và lão hóa sớm.
Da : Rau má đặc trưng cho những điều kiện viêm sưng của da :
- Lở chóc sang thấp,
- Mề đay urticaire,
- Mụn trứng cá acné,
- và dùng áp dụng bên ngoài cơ thể trường hợp rụng tóc.
Sử dụng rau má có hiệu quả trong trường hợp :
- viêm da
- và viêm mô tổ ong dưới da.
Chất flavonoïdes hoạt động như :
- Chất kích thích sự tuấn hoàn,
- Phát triển hệ thống mạch máu ở da,
- Gia tăng tĩ lượng sự giác chất hóa ( kératine hay gọi chất sừng) hay kératine hóa da, giúp tăng cường bảo vệ cơ thể.
Chất saponines hoạt động như tác nhân tẩy rửa và làm mềm, những oligosaccharides làm cho ẩm và những phytostérols là những chất bảo vệ.
Khớp xương :
Rau má theo truyền thống dùng cho :
- Bệnh viêm khớp,
- Bệnh thống phong
- và những viêm sưng những  khớp xương.
Điều này phản ảnh cho thấy rau má có khả năng loại bỏ độc tố và chống viêm sưng.
Rau má là một cây tuyệt vời để trẻ trung hóa và phục hồi chức năng nảo bộ.
Năng lượng đặc biệt tiềm ẩn của rau má làm tối ưu hóa chức năng nảo bộ.
Tóm lại rau má được sử dụng cho :
- Đẩy mạnh sự ghi nhớ và tập trung tư tưởng,
- Gắng sức chống sự tăng huyết áp tĩnh mạch,
- Đấu tranh chống lại các chứng bệnh liên quan mạch máu nhỏ ( micro angiopathie ),
- Làm chậm trễ lão hóa não,
- Được biết như là chất chống viêm anti-inflammatoire và tạo sẹo lành vết thương,
- Chữa viêm loét dạ dầy;
- Chống loét niêm mạc miệng, môi, má, lưỡi, cổ họng,
- Chống động kinh,
- Suy tĩnh mạch và chứng tĩnh mạch trướng ( giãn tĩnh mạch, nặng chân, mao quản dể bị tổn thương ),
- Chống lại sự lo âu và trầm cảm,
- Chữa lành vết thương và giản mạch,
- Gia tăng sản xuất chất keo collagène và hoạt động chống oxy hóa,
- Chữa lành da,
- Chất lợi tiểu nhẹ,
- Thuốc an thần.
- Đau bụng,
- Suyễn và viêm phế quản,
- Phong thấp
Trong y học Ayurvédique ở Ấn Độ, rau má được coi « ma thuật » và là truyền thống sử dụng để làm giảm ngứa và làm dịu mềm những vết phỏng.
Trong kỹ nghệ thẩm mỹ, người ta khám phá rau má có đặc tính chữa lành hóa sẹo vết thương.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
- Những phụ nữ mang thai và trong thời kỳ cho con bú tránh dùng, nên cẩn thận trong thai kỳ.
- Dùng rau má có thể một số người có nguy cơ dị ứng và phản ứng nhạy cãm với ánh sáng ( nên giảm tiếp xúc với ánh sáng và ánh nắng mặt trời ),
- Hổ tương và tác dụng thuốc với những thuốc chống tiểu đường và thuốc cholestérol cao,
- Dùng lượng rau má quá cao có thể là chất gây mê,


Nguyễn thanh Vân

mercredi 14 décembre 2011

Sứ ngọc lan - Champaca blanche

Champaca blanche
Sứ ngọc lan
Michelia alba DC
Magnolia alba( DC. ) Figlar
Magnoliaceae
Đại cương :
Đồng nghĩa: Cây có rất nhiều tên thông thường ở mọi quốc gia như :
 Michele, Michael White, Michelle Blanc, Champaka blanc, Gổ đàn hương trắng, Magnolia Trung hoa, Michelia longifolia Blume, Magnolia Alba, champaca, yunnanensis, Champa, White Leaf, blanc Champak, Ngọc lan trắng, Ngọc bích, Pak-Lan, Arbustes Banane, Cempaka Putih, Tsampakang-puti, Bai Yu Lan
Họ : Hoa Ngọc Lan Magnoliaceae
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Người ta giả định rằng nguồn gốc nhà nguyên thủy của cây sứ ngọc lan ở vùng núi Himalaya, và ở khu vực ấm nóng bờ biển vùng vịnh và Trung Mỹ. Sứ Ngọc Lan mọc và phát triển ở Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Tạng và Himalaya. Nơi trú ngụ chánh của cây là ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, cũng như lan tràn đến biển Đen và Tiểu Á.
Mô tả thực vật :
Sứ ngọc lan, thân đại mộc cao 10 – 15 m, nhánh non có lông,
Lá có phiến bầu dục thon, nhọn, to 15-20 x 4-9 cm, mọc xen, xanh tươi, bóng, xanh đậm ở mặt  trên, mặt dưới nhạt, có lông trắng.
Hoa trắng, ở chót một nhánh ngắn dạng cọng, ở nách lá, rất thơm cao 3 cm, cánh hoa 8 – 12,  mỏng, tiểu nhụy nhiều, hương vị của thơm mạnh vào những ngày nắng ấm.
Manh nang chín chứa 1 – 8 hột xám. Ít khi có trái.
Bộ phận sử dụng :
Hoa, lá, tinh dầu.
Thành phần hóa học và dược chất :
Tinh dầu thu hoạch bằng phương pháp chưng cất hơi nước.
Việc nghiên cứu thành phần hóa học lấy từ lá, cho thấy khoảng :
- 70% linalol,
- méthyleugenol 0,7%,
- 0,4% beta-bisabolol,
- 0,6 và 1,8 cineole,
- gần 18% những hydrocarbures sesquiterpéniques, trong đó 3,7% và 6,2% một số farnese
Đặc tính tinh dầu :
- Dạng : lỏng, trong suốt, chảy
- Màu : vàng nhạt đến nâu,
- Mùi : Trái cây tinh tế, ngọt ngào, hương vị nhẹ, tưởng như mùi của sứ chúa cananga với mùi vanille và chanh,
- Cường độ mùi: hương mạnh,
- Chỉ số khúc xạ: (20°C): 1,460-1,490.
- Rotation (20°C) :-9° - -13°
- Densité ( 20°C ) từ 0,870-0,910
- Indice acide : ≤ 7,0
- Độ hòa tan : Không tan trong nước, hòa tan trong éthanol, trộn lẩn với ether, chloroforme, với những loại dầu và những chất béo
Tinh dầu bay hơi 0,0125%
Thành phần hóa học tinh dầu trích từ hoa ngọc lan michelia được biết với kỹ thuật nghiên cứu phẩm chất cao :
Hầu hết tất cả những hydrocarbures terpéniques và sesquiterpénique, được tìm thấy như sau :
- linalol,
- linalooloksid,
- karveol
- méthyleugénol,
- acétate d'éthyle,
- acide acétique.
- Monoterpènes (E)-béta ocimène (2,34%)
- (Z)-béta-ocimène (1,74%),
- bêta-pinène (0,42%),
- limonène (0,09%)
Monoterpenoly:
- linalol (62.77%),
- terpinène 4 ol (0,52%)
Sesquiterpènes:
- béta-éléments (5,13%),
- bêta-caryophyllène (3,05%),
- germakren D (1,41%),
- delta-cadinène (0,97%),
- bêta-Céline (0,93%)
- alpha-Céline (0,93%),
- alpha-humulen (0,91%),
- alpha-creuse (0,39%),
- những bêta-bisabolen (0,52%),
- (E)-béta-Farnese (0 , 20%)
Oxydes:
- 1,8 cinéole (0,38%),
- oxyde de linalol, de trans-(0,22%),
- cis-oxyde de linalol (0,12%)
- Seksviterpenoly alpha-kadinol (0,56%),
- (E)-nérolidol (0,29%)
Méthyl éther de phénol:
- méthyl-eugénol (2,52%)
Alcool:
- alcool phényl-éthylique (0,31%)
Esters:
- Méthyl-2-méthyl butanoate (3,89%),
-  2-méthyl-phényl-butyrate d'éthyle (0,33%)
- Acide 2-méthyl-butanoïque (0,55%)
Đặc tính trị liệu :
Tác dụng :
- Kháng sinh antimicrobien,
- Chất làm mềm émolliente,
- Hạ sốt fébrifuge,
- Kích thích tình dục aphrodisiaque.
- Giải nhiệt,
- Nó giúp làm dịu,
- Làm giảm căng thẳng,
- Cải thiện tâm trạng,
- Cân bằng hệ thống thần kinh,
- Giảm sự kích động.
- Hít thở dễ dàng hơn.
- Hổ trợ sản xuất chất nhờn ở da,
- Ngăn chận mụn trứng cá ( ức chế sự tăng trưởng của Propionibactérium acnes ),
Theo y học dân gian :
- Hoa sứ Ngọc Lan ngâm trong nước sôi được sử dụng để rửa âm đạo phụ nữ.
Nghiên cứu :
- Chất chống oxy hoá/ức chế phân hoá tố tyrosinase con người :
Tyrosinase là phân hóa tố kích hoạt oxy hóa chất tyrosine cũng như trong quá trình tổng hợp sản xuất chất mélanin cho màu da tóc, da và mắt.
Nghiên cứu cho ta một sản phẩm tự nhiên, (-)-N-formilanonaine trích từ lá của sứ ngọc lan michelia alba.
Các hợp chất cho thấy những hoạt động chống oxy hóa, chất tyrosinase và mélanine giảm trong tế bào mélanocystes biểu bì con người, không độc tính rõ ràng đối với những tế bào con người.
- Hóa chất thực vật / Chống oxy hóa / Michephyll A :
Nghiên cứu thu được 10 hợp chất từ lá, bao gồm michephyll A, một hợp chất mới có hoặt tính chống oxy hóa.
- Kháng khuẩn :
Nghiên cứu của 22 loại tinh dầu thực vật ở Thái Lan, làm thuốc chủng chống 5 gốc Propionibacterium acnes, cho thấy 19 có hoạt tính ức chế trên sự tăng trưởng Propionibacterium acnes, và 4, bao gồm cả dầu sứ ngọc lan michelia, với hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất. Những tinh dầu có khả năng thay thế điều trị những loại mụn trứng cá.
- Phòng chống ánh nắng, bảo vệ da :
Những tia Ultra violet UV của mặt trời, có thể gây : phát triển các nếp nhăn, thành lập nếp nhăn, lão hóa da, bằng cách gây ra « métalloprotéasses matricielles » ( MMP ). Những nghiên cứu được chủ ý  trên những chất polyphénols của Michelia alba có hoạt tính bảo vệ. Những kết quả cho thấy sự điều trị với Michelia alba có thể ngăn chận những thiệt hại do những UVB  «UV-B (độ dài sóng 315-280 nm)» vào ngoại bào bằng cách ức chế những từ ngữ MMP-1 «matrix metalloproteinase-1» và MMP-3 «matrix metalloproteinase-3».
- Thành phần chất cytotoxique :
Nghiên cứu dung dịch trích méthanol từ lá của Ngọc Lan michelia alba, cho một chất chlorophylle mới là michephyll A và 28 hợp chất biết được (-)-Anonaine là thành phần chính và cho thấy chất độc tế bào « cytotoxicité » chống lại những tế bào HeLa.
 ( Tế bào HeLa là một dòng tế bào ung thư được sử dụng trong « tế bào sinh học » và nghiên cứu y học. Những tế bào này lấy từ mẫu tế bào di căn được thực hiện trên một bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung ).
Chủ trị :
- Căng thẳng stress,
- Lo âu anxiété,
- Cần để thư giản.
Phương pháp sử dụng :
- Dùng tinh dầu pha loãng thoa, bóp, hoặc ma sát,
- Có thể phối hợp với những dầu khác để hít, xông hơi.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
- Tránh trong 3 tháng đầu có thai kỳ,
- Không nên dùng cho trẻ sơ sinh hay trẻ em dưới 3 tuổi.
- Tránh tiếp xúc với mắt và những màng nhầy.
Không nên sữ dụng ở dạng nguyên chất tinh khiết và nhất là dùng quá liều.
Ứng dụng :
Trong kỹ nghệ mỷ phẩm :
Tinh dầu hoa ngọc lan, phối hợp vớ những những dược thảo khác hoặc những tinh dầu khác sẽ có hiệu quả tích cực trong :
- xoa bóp để giảm cân và chống viêm mô tổ ong dưới da cellulite.
Trong y học người ta khuyên, dùng với nồng độ pha loãng để chà xát trên da.
Đặc biệt rất phổ biến trong sản phẩm mỹ phẩm lý do là hương vị của nó.
Pha trộn với sửa, kem, dầu làm cho da trở nên mịn mềm đưa ra một mùi thơm dể chịu.
Mùi thơm cũng được sử dụng để khuếch tán hương thơm không khí trong phòng, hay trong nhà.
Tinh dầu thơm : Tinh dầu trích từ hoa Ngọc Lan được dùng để ướp trà mùi.

Nguyễn thanh Vân

mardi 13 décembre 2011

Cây Lá hẹ - Ciboule de Chine

Ciboule de Chine
Cây lá hẹ
Allium tuberosum Rottler ex Spreng.
Amaryllidaceae
Đại cương :
Hẹ còn gọi là ciboule de chine hay chiboulette chinoise, là một cỏ thân thảo thuộc họ Amaryllidaceae ( trước kia được xếp vào họ Liliaceae ), người ta trồng để ăn lá dùng như cỏ nhuyển.
Tên thông thường : hẹ, hành Tàu, tỏi lá phẳng, tỏi thơm, ….
Người ít biết về nguồn gốc của cây hẹ. Người ta cũng đặt tên là ciboulette chinoise, allium tuberosum, nhập vào gần đây ở phương Tây, nhưng rất thông thường ở phương Đông, phát sinh từ Trung Quốc từ nhiều ngàn năm.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Cây hẹ có nguồn gốc ở Châu Á ( Việt Nam, Trung Quốc, Mông cổ, Ấn Độ… ). Allium tuberosum hẹ trồng thường được xem là tứ bội, nghĩa là tế bào cho 4n nhiễm thễ, mỗi nhiễm thễ tập họp 4 ( 2n=4x=32 ), mặc dù hẹ hoang có lưỡng bội ( 2n = 2x = 16 ).
Mô tả thực vật :
Cây Hẹ là thảo mộc, bụi cao, có thân củ gọi là hành, nhỏ ( bulles ), trắng, ngoài nâu nâu, đa niên, khoảng 60 cm cao, phát triển thành củ nhỏ, từ củ này mọc thân đứng thẳng, và đặc không bọng.
Lá, song đính, phiến lá dẹp, đầu tròn, to 15-30 x 0,3-0,6 cm, màu xanh nhạt, hẹp, phẳng.
Phát hoa, trong năm đầu, trục dẹp dài 25-45 cm, hình tụ tán hình cầu, tổng bao trắng, hoa trắng hình ngôi sao, trên cộng dài 1,3 cm, rất thơm.
Nang, có hột đen 2-3 buồng, to 4 x 4 mm, dẹp dẹp.
Bộ phận sử dụng :
Lá, thân củ.
Thành phận hóa học và dược chất :
Hẹ chứa :
- 2.6% protein,
- 0.6% chất béo,
- 2.4% chất đường ( carbohydrate ),
 - 0.95%  tro,
Hẹ cũng chứa một lượng nhỏ:
- vitamine A,
- Vitamine B1 và
- Vitamine C
Thành phần tính bằng g hay mg cho 100 g thực phẩm:
Lá ( trọng lượng tươi ) :
- 0 Calories / 100g
- Nước : 0%
- Chất đạm protein: 2.6g;
- Chất béo lipide : 0.6g;
- Chất đường Carbohydrate: 2.4g;
- Chất xơ fibre: 0g;
- thành phần tro : 0.9g;
Khoáng chất:
- Calcium: 0mg;
- Phosphorus: 0mg;
- Sắt : 0mg;
- Magnesium: 0mg;
- Sodium Na: 0mg;
- Potassium : 0mg;
- Zinc: 0mg;
Vitamins:
- Vitamine A: 0mg;
- Thiamine (B1): 0mg;
- Riboflavin (B2): 0mg;
- Niacin: 0mg; B6: 0mg;
- Vitamine C: 0mg;
8 chất saponines stéroïdiens mới, bao gồm :
- 4 spirostanol,
- 3 furostanol và
- 1 saponine de cholestérol,
người ta đã phân lập từ allium tuberosum.
Đặc tính trị liệu :
Cây Hẹ allium tuberosum có những đặc tính trị liệu sau :
- Kháng khuẩn antibactérien,
- Tim,
- Lọc máu dépuratif,
- Kích thích,
- Thuốc chữa dạ dày stomachique và
- Thuốc bổ.
Hẹ cũng là dược thảo chống :
- Buồn nôn anti-émétique,
- Cải thiện chức năng của thận.
Dùng trong cơ thể  để điều trị :
- chứng không nín tiểu được incontinence,
- thận yếu và
- bàng quang yếu.
Hạt hẹ là vi thuốc :
- tống hơi carminative và
- thuốc bao tử.
Ở Ấn Độ người ta dùng để chữa chứng di tinh mộng tinh spermatorrhée.
Lá và phần củ phù ra áp dụng trường hợp bị côn trùng chích, vết cắn và vết thương.
Chất chống sự oxy hóa : Những chất chống sự oxy hóa là những hợp chất làm giãm những thiệt hại mà nguyên nhân do các gốc tự do có trong cơ thể. Loại thứ hai là các phân tử rất dể phản ứng cần có trong sự phát triển những bệnh về tim mạch, một vài chứng ung thư và những bệnh khác liên quan đến sự lão hóa.
Một số nhà nghiên cứu đánh giá khả năng chống oxy hóa của những cỏ nhuyễn ( như hành, hẹ …) và tất cả đều đồng ý rằng những cỏ nhuyễn tươi có một khả năng chống oxy hóa không phải là không quan trọng, thậm chí còn cao hơn so với trái cây và légume lớn.
Điều này cho thấy sự bổ sung những cỏ nhuyễn ( fines herbes ) là một cách thêm vào thường xuyên trong thực phẩm thức ăn, góp phần vào sự chống oxy hóa. Cụ thể hơn, hoạt động chống oxy hóa của hẹ ciboulette có thể do hàm lượng thấp vừa phải của vitamine C và caroténoïde, nhưng chủ yếu là sự hiện diện của flavonoïdes.   
Ung thư : Một nghiên cứu dịch tể học épidémiologique cho thấy sự tiêu dùng rau cải từ các họ Amaryllidaceae ( bao gồm hẹ ciboulette, tỏi ail và hành oignon ) có thể ngừa những bệnh ung thư dạ dày và thực quản. Thật vậy, trong những kết quả thu lượm được khi làm thống kê :
- Những người tiêu dùng hẹ ciboulette 3 lần trong tháng có 64% đến 74% có nguy cơ thấp, bị bệnh ung thư thực quản và dạ dày hơn đối với những người ăn hẹ ciboulette 1 lần trong tháng. Theo cơ chế hoạt động, những tác nhân gây nên đặc tính trị liệu kháng khuẩn và kháng nấm của rau cải thuộc họ Liliaceae. Thật vậy, sự ức chế tăng trưởng những vi khuẩn trong dạ dày có thể làm giãm sự cấu thành những hợp chất gây ung thư carcinogènes.
- Một nghiên cứu khác chỉ cho thấy sự tiêu dùng hẹ còn có tác dụng giãm nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến prostate.
Theo nghiên cứu những người đàn ông ăn rau cải nhiều hơn 10 g mỗi ngày ( bao gồm hẹ ciboulette ) có 49 % thấp hơn cơ nguy bị ung thư tiền liệt tuyến.
Lưu ý rằng 2 nghiên cứu trên được thực hiện ở Trung Quốc, sự đánh giá những hiệu quả trên ít được biết đến ở phương Tây. Những hợp chất lưu huỳnh có thể là tác nhân gây ra những hiệu quả quan sát, ngăn chận giữa các quá trình trao đổi biến dưởng dẫn đến sự xuất hiện ung thư. Các hiệu ứng này phải được kiểm tra trong những nghiên cứu trên cơ thể con người  trước khi thiết lập sự liên hệ nhân quả giữa các hoạt tính chính và sự ngăn ngùa ung thư.
Liên quan hẹ với VIH : Vi khuẩn suy giãm tính miễn dịch con người ( VIH ). Một phân tử gọi là lectine, một dạng của protéine, đã được xác định với một lượng nhỏ trong cây hẹ ciboulette. Được cô lập từ lá của cây hẹ ciboulette, Protéine này ức chế hoạt động những phân hóa tố cần có trong sự « sao chép » của vi khuẩn VIH, giai đoạn cần thiết cho sự thành lập và phân cắt nhân của virus VIH.
Sự lợi ích của sự nghiên cứu là cần thiết để làm sáng tỏ đầy đủ vai trò phức tạp của protéine này trong sự bổ sung và tiến triển của vi khuẩn VIH.
Hiện nay, không có một liên quan trực tiếp giửa sự tiêu dùng hẹ ciboulette và VIH.
Vitamine K : Ciboulette tươi là một nguồn vitamine K cho đàn bà. Vitamine K cần thiết để tổng hợp chất đạm protéine cần phải có trong sự đông máu ( cũng như trong sự kích thích ức chế ức chế sự đông máu ). Đồng thời cũng đóng một vai trò hình thành xương. Ngoài việc được tìm thấy trong thực phẩm, vitamine K còn được sản xuất bởi những vi khuẩn hiện diện trong ruột, do dó hiếm có những trường hợp nào thiếu hụt vitamine K.
Những người dùng thuốc chống đông máu, chẳng hạn như trong thị trường gọi là Coumadin®, Warfilone® et Sintrom®, phải chấp nhận một chế độ ăn uống trong đó có chứa vitamine K được ổn định ngày này qua ngày khác. Những lá cỏ mỏng, như hẹ ciboulette, chứa vitamine K và phải được dùng như một gia vị.
Đây là một đề nghị đối với những người dưới sự theo dỏi điều trị « chống đông máu liệu pháp », tham khảo với những nhà dinh dưởng diététicienne hay bác sỉ để tìm hiểu nguồn thực phẩm của vitamine K và bảo đảm một lượng hằng ngày ổn định nhất.
Ngoài việc cung cấp màu sắc và hương vị cho món ăn, hẹ ciboulette là một thức ăn thú vị và lợi ích cho dinh dưởng khi người ta ăn với một lượng lớn.
Thí dụ, 30 ml ( = 2 muỗng canh) hẹ tươi hoặc dạng bột kết tinh theo phương pháp lyophilisée cung cấp một số lượng đáng kể vitamine C và beta-caroten, 2 hợp chất cho một khả năng chống oxy hóa.
Thực phẩm và biến chế :
Người ta thường ăn phần hoa và lá thơm.
Lá ăn sống hoặc chín. Hương vị hẹ bị hủy nếu nấu chín hoặc kéo dài.
Hẹ chứa nhiều chất dinh dưởng và vitamine. Các hành, củ khá nhỏ khoảng 10 mm đường kính được mọc thành cụm dưới có rể ngắn. Hoa và nụ ăn sống hoặc chín, có mùi thơm và dùng để trang trí mâm dỉa thức ăn.
Có giống hẹ tốt, lá lớn, hay trung bình. Ngoài ra còn có những giống trồng lá nhuyễn nhỏ.
Người ta có thể trồng hẹ trong nhà, chỉ cần hạt giống tốt và đất tốt phong phú, được để nơi có ánh sáng hướng về phía Bắc và Tây Bắc. Việc sản xuất không quan trọng nửa nếu người ta cung cấp đủ chậu.
Ở thời điểm ra hoa, những lá cho một hương vị nồng. Người ta có thể cắt nhánh cuống hoa dần dần sẽ mọc lại hoặc để tự nhiên cho cây trổ hoa đến cuói mùa lá sẽ cho hương vị mới tinh tế hơn. 
Người ta dùng hương vị và màu sắc này để trình bày món ăn, salade và có mùi hương tương tự như hành nhưng ít nồng hơn.

Nguyễn thanh Vân

lundi 12 décembre 2011

Cây đu đủ - Papaye

Papaye
Cây đu đủ
Carica papaya L.
Caricaceae
Đại cương :
Carica papaya, gọi là papaya hay Cây đu đủ tên gọi Việt Nam, được trồng rộng rải, là một cây ăn trái vùng nhiệt đới.
Đối với vùng núi Nam Mỹ, có giống gọi « đu đủ núi » tên khoa học Vasconcellea pebescens A.DC. có hình dạng giống trái đu đủ cùng họ Caricaceae. Cùng tên gọi ở miền Đông Bắc Mỹ trái cũng được gọi là « papaye » nhưng từ hình dạng đến cơ cấu đều khác xa Asimina triloba và cũng khác họ, thuộc họ Annonaceae.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Cây đu đủ có nguồn gốc từ Caraibes qua Tây ban Nha, Đu đủ là trái của cây đu đủ Carica papaya, papaya là một loài duy nhất của giống Carica thuộc họ Caricaceae. Có nguồn gốc nguyên thủy ở Mỹ Amérique, và lần đầu tiên được trồng ở Mexique từ nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện trong văn hóa Trung Mỹ cổ điển.
Mô tả thực vật :
Cây đu đủ là một cây giống như một cây lớn, với một thân duy nhất thẳng đứng không phân nhánh 5 – 10 m chiều cao,
Lá mọc vòng luân sinh sắp xếp hạn chế ở đầu cây. Ở phần thân ở phía trước còn dấu vết của lá và trái đã mọc gắn vào và rụng đi. Lá lớn, 50 – 70 cm đường kính, hình chân vịt, xẻ sâu với 7 thùy. Cây thường không phân nhánh trừ khi tỉa.
Hoa giống như hoa sứ plumeria nhưng nhỏ hơn nhiều và giống như sáp. Mọc ở nách lá, khi trưởng thành khoảng 15 – 45 cm cao và trái khoảng 10 – 30 cm đường kính.
Trái chín khi cảm thấy mềm và da đổi màu vàng đến cam.
Bộ phận sử dụng :
Lá, trái, hạt và mủ trắng của thân
Thành phận hóa học và dược chất :
Đu đủ papaye giàu :
- chất sucre (5 à 8%)
những chất sinh tố vitamines :
- vitamine C (60 à 70 mg/100 g),
- vitamine A (100 microgrammes/100 g)
Mủ trắng latex lấy được ở những đường rạch của những trái còn xanh, nó đông đặc rất nhanh, người ta thu thập bằng cách cạo và phơi khô.
Mủ hiện diện bởi những mảnh nhỏ trắng trắng đến nâu, mùi gần như thịt nướng và hương vị hơi mặn và đắng.
Latex được tìm thấy trong tất cả các bộ phận thân cây đặc biệt trong lá.
Đây là một hỗn hợp phân hóa tố gây ra sự phân hủy chất đạm protéing thành những chuổi acides amines ( peptides ) kế đó cắt thành nhiều acides amine .
Hai thành phần hoạt tính sinh học là những phân hóa tố papaïne và chymopapaïne.
Hợp chất phénolique tăng cao ở cây đu đủ đực và cái.
Trong lá, trái, thân và rể chứa :
- Papaïne,
- Phytokinase,
- Acide malique,
- Maléate de calcium.
Trong mủ trắng latex chứa :
- Chymopapaïne.
Lá :
- Carpaïne ( ( alcaloïde ),
- Carposide ( glucoside ),
- Saccharose 0,85 %,
- Dextrose 2,6 %,
- Lévulose 2,1 %,
- Citrates.
- Pectine
Trong hạt : hiện diện một tinh dầu bay hơi.
Trái đu đủ là nguồn giàu chất dinh dưởng như :
- Tiền vitamine A ( caroténoïdes ) ,
- Vitamine C,
- Vitamines B,
- Khoáng chất
- và thành phần chất xơ thực phẩm.
Da đu đủ, nạt đu đủ màu vàng hồng và hạt đu đủ màu đen cũng chứa những thành phần khác nhau « hóa thực vật » phytochimique, bao gồm chất phytophénols.
Đặc tính trị liệu :
Điều đáng chú ý là trong tất cả bộ phận của đu đủ đều chứa chất độc papaïne và Chymopapaïne, cho nên khi dùng TRONG CƠ THỂ tuyệt đối không dùng LÁ TƯƠI mà chỉ dùng lá KHÔ với liều lượng nhỏ thích hợp.
Liều lượng dùng lá tươi có thể đưa đến kết quả MORTEL chết
Hạt đu đủ được xem như :
- Chất kháng viêm sưng  anti-inflammatoire,
- Xổ lải ,
- Giảm đau,
- Kiện vị, bổ bao tử stomachique
- và kháng khuẩn.
Lá đu đủ dùng như :
- Thuốc bổ,
- Thuốc giảm đau,
-  Những bệnh thuộc bao tử.
- Lá đu đủ khô chữa trị các loại ung thư cancer.
Rễ đu đủ dùng như thuốc giảm đau.

Y học dân gian :

- Mở rộng vết thương ( loại bỏ chất dịch mủ và những cục máu ở vết thương và vết loét ) :

Đắp mủ trắng ( latex ) của trái đu đủ chín hay thân lên trên vết thương hay vết loét ulcère

- Thuốc nhuận trường : Ăn trái đu đủ chín thường xuyên ( có thể là nguyên nhân chứng vàng da, đặc biệt là lòng bàn tay và lòng bàn chân, nhưng không ở mắt ).

- Mụn trứng cá : Pha trộn 3 muỗng soup trái đu đủ chín xay đặc với 1 muỗng soup nước ép của kalamansi ( trái quấc hay trái tắc ) ; đắp hỗn hợp trên mặt trong vòng 30 phút, kế đó rửa mặt bằng nước ấm.

Thuốc cao bôi : Đập giả nát lá đu đủ thành cao, dùng bôi trên chổ đau thấp khớp.

Nấu sắc như trà : Sử dụng lá khô dùng cho những sự rối loạn dạ dày khác nhau.

Nấu sắc : Sử dụng những hoa nấu sôi hay hạt dưới dạng bột để thúc đẩy kinh nguyệt.

Ngâm trong nước sôi : hoa đực với mật ong dùng để trị :

- chứng ho,

- khàn giọng enrouement,

- viêm phế quản bronchite,

- viêm thanh quản laryngite,

- viêm khí quản trachéite : Dùng 1 muỗng mỗi giờ . 

Dùng thuốc cao bôi : Chế biến rể thành cao sử dụng trường hợp bị rít cắn,

Ở Ấn Độ và Tích Lan, trái đu đủ xanh được dùng như ngừa thai và phá thai.

Hai chất chánh yếu trong đu đủ là papaïne và chymopapaïne.

Chất mủ trắng latex, nhưng là chất độc và là một chất tẩy xổ mạnh với một liều hiệu quả.

Hạt chín đen cũng có chứa một chất chống lại giun sán nhưng hương vị lại cay nồng nên không được sử dụng.

Người ta tìm thấy trong tất cả bộ phận của cây đu đủ một ít :

- acide cyahydrique,

- một hétéroside có chứa chất lưu huỳnh ( glycotropoline ) trong cây và nhất là trong hạt,

- và nhiều alcaloïdes trong lá.

Đu đủ đã được thương mại hóa dưới hình thức thuốc viên để chữa trị vấn đề hệ tiêu hóa.
Đu đủ cũng áp dụng tại địa phương ( trong những nước trồng đu đủ ) để chữa những vết cắt, phát ban ở da, những vết chích và phỏng.
Mùi thơm đu đủ được lấy từ thịt của trái đu đủ lên men và được áp dụng chế ra bột keo nhảo
- Lá đu đủ được dùng như một dược liệu trợ giúp những trường hợp đau dạ dày, do hàm lượng phân hóa tố có trong lá.
- Lá đu đủ giúp dạ dày nhất là trong sự tiêu hóa đạm protéine, mà còn giúp tiêu hóa glucides và những chất béo lipides.
- Lá đu dủ cũng cho thấy như là một phương tiện chống ung loét.
Tất cả vị thuốc từ lá đã được chế biến cẩn thận hoặc dùng lá phơi khô hoặc xấy khô.
Ung thư cancer :
Lá khô còn dùng để chữa trị ung thư
Dùng lá đu đủ phơi khô nghiền nát như trà ( cẩn thận khi cắt lá tươi, chất papaïne và chymopapaïne có thể là lỡ loét da tay, nên dùng bao tay, tránh tiếp xúc với mắt ), uống như trà ( tuyệt đốt không dùng lá tươi, gây tử vong rất nguy hiễm ), theo kinh nghiệm dân gian mới đây nhận thấy lá papaye có thể có hiệu quả với nhiều loại ung thư như :
- Ung thư ngực, gan, phổi, vú, máu, thận, cuống họng, ung thư óc do di truyền... v...v...
Lá đu đủ khô khi sử dụng sẽ làm :
- tăng biến dưởng,
- tăng tính miễn nhiễm tức gia tăng mạnh lưọng bạch huyết cầu và có khả năng tiêu diệt và thải tế bào ung thư ra ngoài cơ thể, phân có màu đen .
Lá đu đủ khô, dùng uống như trà không hại, người ta có thể thử và theo dỏi sự tăng trưởng, kích thước của những khối u và màu sắc phân để biết hiệu quả hay không. Tất cả những dược thảo đều cẩn thận khi dùng với những bệnh nan y.
Sốt xuất huyết
« Một trang web blog vườn nho » nói về sử dụng nước ép lá đu đủ cho những bệnh nhân mắc phải bệnh sốt xuất huyết :
Dùng 2 lá đu đủ, rửa sạch và ép bằng tấm vải thưa để lấy được 2 muỗng soup nước dung dịch ép để dùng. Uống 1 lần / ngày.
Kết quả đã được cải thiện trong số lượng tiểu cầu giãm ( plaquettes ). Một số dữ kiện khá ngoạn mục được cho là do việc sử dụng nước ép lá đu đủ.
Hoạt tính sinh học của những chất hóa học được kể là :
- Carpaine,
- Carposide,
- Dehydrocarpaine,
- những flavonols,
- Pseuudocarpaine
- và tanins.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Trái quả :
- Quả đu đủ, hạt, mủ nhựa latex và lá chứa chất carpaine, một alcaloïde anthelmique, một chất chống diệt giun sán ký sinh trong cơ thể, có thể nguy hiểm với liều lượng cao.
Tuy nhiên, một liều mạnh được sử dụng, trái đu đủ chứa 6% mức bêta-carotène, chất này được tìm thấy trong carotte ( nguyên nhân thường phổ biến caroténémie )
Hạt :
- Chất trích từ hạt đu đủ ở liều lượng lớn có hiệu quả ngừa thai trên chuột và khỉ, nhưng với liều nhỏ không có hiệu quả nào trên những động vật sinh ra.
Nhựa trắng latex :
- Đu đủ phóng thích một chất nhựa trắng latex khi trái không được chín mùi, có thể gây sự kích ứng ngứa đau và gây ra phản ứng dị ứng ở một số người.
- Đu đủ, trong tất cả mọi trường hợp những người bị dị ứng với chất mủ latex không được dùng.
Nồng độ hoá chất papaïne chymopapaïne :
- Những phụ nữ mang thai tuyệt đối tránh không dùng đu đủ. Bởi vì có thể bị kích thích tử cung ( papaïne dường như làm tan một loại protéine phù hợp với cấu tạo mới được thụ tinh trên màng vách tử cung ).
- Đu đủ thường được dùng như thuốc gội đầu chẳng hạn, nhưng phải dùng với lượng nhỏ.
- Một sự suy đoán, nồng độ của đu đủ chín có thể gây ra những cơn co thắc tử cung, có thể dẩn đến sẩy thai.
- Tiêu thụ với lượng quá mạnh có thể là nguyên nhân tĩ lượng carotene đu đủ trong máu caroténémie, màu vàng thực vật.vấn đề này vô hại.
- Những người dùng thuốc có trong máu ( sulfinpyrazone ), thuốc làm loãng máu như ( Coumadine, aspirin… ) nên tham khảo ý kiến với Bác sỉ vì đu đủ có thể có đặc tính chống đông máu.
- Hít bột đu đủ, ( giàu chất kích thích tố, papaïne và chymopapaïne ) có thể gây ra những dị ứng. Mặc dù papaïne tiêu hóa đường glucides, protides, những protéine của khoai tây pomme de terre có thể không được tốt lắm.
Ứng dụng :
Lá :
- Lá non :Trong một vài nơi ở Á Châu, lá non đu đủ được hấp và ăn như rau dền épinard.
- Ở một và nước trên thế giới, lá đu đủ được dùng để ngừa bệnh sốt rét, mặc dù không có bằng chứng cụ thể và kết quả điều trị. ??
Rể - vỏ:
Trong y học truyền thống Creole Guyana và Caboclos Brazil, rể đu đủ hoặc vỏ cây hoặc phần trong của rể  được sử dụng như chất kích thích tình dục nhưng sự dùng này có thể liên quan đến biểu tượng tình dục của trái.
Trái :
- Quả đu đủ chỉ thường ăn sống, có hạt hoặc không hạt tùy thích để nhuận trường.
- Quả đu đủ sống xanh có thể dùng nấu chín, như cà ri, salades hay ragoûts.
Hạt :
- Hạt đen của đu đủ là hột ăn được, vị cay nồng. đôi khi chúng được dùng để thay thế tiêu.
Hoa đực :
Ở Brésil, những bông tươi của cây đực đã được dùng ngâm trong nước sôi infusion chống bệnh viêm phế quản và chứng viên khí quản trachéite nhưng người ta dùng cách nấu sắc cho « những bệnh về gan » và « tiêu hóa không tốt »
Mủ trắng latex :
- Mủ trắng latex có thể dùng để làm tiêu vết chai cứng ở da ( cors ) và mụn cốc ( verrues )
Chất papaïne - Chymopapaïne :
- Chất papaïne thô hay được làm tinh khiết được dùng trong liệu pháp để bù đấp cho sự thiếu hụt dịch tiêu hóa của dạ dày và tụy tạng pancréatique.
- Chymopapaïne được sử dụng để làm giảm hoặc lành những bệnh đau dây thần kinh của các dây thần kinh tọa ( nerf sciatique ) do kết quả một sự nén bởi đỉa sụn sống trật khớp hernie discale. Người ta tiêm thẳng vào trong nhân của đỉa, kỹ thuật rất mỏng manh bởi vì  phân hòa tố là « thần kinh độc tố » và có thể gây phản ứng dị ứng quan trọng, nhưng cách chữa bệnh này có hiệu quả .
Papaïne cũng được sử dụng như thành phần sản phẩm về da.
- Dùng bên ngoài cơ thể, là một chất chống sự viêm sưng và tẩy rửa sạch vết thương và có thể kết hợp với thuốc kháng sinh.

Nguyễn thanh Vân

mercredi 7 décembre 2011

Cây thầu dầu - đu đủ tía - Ricin

Ricin commun
Cây thầu dầu – đu đủ tía
Ricinus communis L.
Euphorbiaceae
Đại cương :
Cây đu đủ tía ( Ricinus communis ), cây duy nhất của giống Ricinus ), một tiểu mộc có nguồn gốc vùng nhiệt đới của họ Euphorbiaceae. Nguồn dầu racin, có những ứng dụng khác nhau và chất ricine là một chất độc.
Tên gọi ricinus do tên Tiques, tên một loại bọ ve trong nhóm arachnides, ( theo tiếng latin : Ixodes ricinus), hạt thầu dầu đã được đặt tên như vậy là vì những lằn dấu trên hạt và một mồng vết phồng lên giống như con bọ ve.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Đu đủ tía ricinus communis có nguồn gốc vùng nhiệt đới Phi Châu. Nay đã được lan rộng trên khắp thế giới, nơi mà khí hậu cho phép. Người ta cũng tìm thấy ở vùng cận nhiệt đới và vùng khí hậu ôn đới.
Mô tả thực vật :
Cây thầu dầu hiện diện dưới dạng một cây thân thảo hay một tiểu mộc, nhất niên hoặc đa niên tùy theo điều kiện khí hậu vùng cây mọc.
Chiều cao có thể đạt tới 2 đến 5 m ở Pháp (ở những nước phần gốc có thể đạt tới 10 m )
Lá hình chân vịt  ( 5 – 12 thùy ) mang bởi một cuống dài, không lông và có răng. Lá màu xanh lá cây hay màu đỏ tím, mọc vòng và rụng lá . Một vài giống thuộc loại cây cảnh những lá mặt dưới và cuống lá có màu đỏ.
Hoa, vô cánh, tụ họp thành chùm tụ tán ở chót nhánh, những hoa đực ở trên, những hoa cái ở dưới, hoa đồng chu tức hoa đực và hoa cái trên cùng một cây, lá đài 4 – 5, nhiều tiểu nhụy, màu vàng, đơm thành như một cây chia nhánh ; hoa cái cũng vô cánh, noản sào có gai, vòi nhụy 2, chẻ 2.
Trái là những nang, có gai, 3 mảnh.
Hột láng, có bông, màu đỏ hay nâu, có một đường dây nổi bật phía bụng và nổi lên bởi élaiosome gọi mồng trắng nạt gắn liền với hạt..
Bộ phận sử dụng :
Hạt, dầu ricin
Thành phận hóa học và dược chất :
Toàn cây hình như đều là độc chất, lý do bởi sự hiện diện :
Lá chứa :
- một alcaloïde, chất ricinine, chất này có thể gây ngộ độc cho thú vật chăn nuôi.
Hạt giàu chất dầu và chất đạm protéine :
- 40 đến 60 % dầu giàu chất triglycérides,
- 15 đến 20 %  chất đạm protéines,
- Nước
- Chứa một toxalbumine rất nguy hiễm : chất  ricine.
 Tinh dầu ricin chủ yếu gồm chất triacylglycérol là một chất béo C18 ( không bảo hòa và hydroxyle hóa ) :  acide ricinoléique.
Những bã dầu protéine còn lại dùng làm thức ăn ( sau khi ép lấy dầu ) cho gia cầm nhưng trước tiên phải khử chất toxalbumine ( chất ricine ). Đây là thành phần hợp chất gồm 2 chuổi polypeptidiques ( chuỗi A và B ), chuỗi B dùng chỉ bám độc chất vào bề mặt tế bào, chuỗi A mới chính là thành phần chất độc, nó can thiệp trong quá trình tổng hợp chất protéines của tế bào, sửa đổi ( trên phương diện phân hóa tố ) những hoạt động của một số ribosome.
Đặc tính trị liệu :
Cây thầu dầu được trồng ở nhiều nước ( Việt Nam, Trung quốc, Brésil … ) Tinh dầu Ricin thu được bằng phương ép lạnh những hạt.
- là một loại thuốc xổ mạnh,
- rất kích ứng nên tuyệt đối tránh dùng dầu ricin.
Về dược phẩm, dầu này được dùng có hiệu quả :
- nhuận trường
- và gây mê.
Hiệu quả thật là rất lớn và mạnh, liều lượng có thể gây tử vong 1 chuột : 0,4 microgramme khi tiêm vào trong phúc mạc, tương đương với liều 0,03 mg cho người cân nặng 75 kg.
Hiệu quả xấu và rủi ro :
- Dầu ricin có chứa ricinoléique, có ảnh hưởng trên niêm mạc ruột và gây ra sự thất thoát quan trọng nước và điện giải électrolysei ( muối khoáng ), nơi môi trường này xảy ra sự hoạt động tẩy xổ và kích ứng. Chất ricine có hiện trong cây và trong hạt là một độc chất ghê gớm.
- Ngoài ra còn chứa một chất gây dị ứng, khó khăn lắm mới ngăn được hoạt tính của nó và có thể gây quá mẫn đối với người khi tiếp xúc với chất này. Hiệu quả dị ứng này hình như không ảnh hưởng đến động vật. Chất ricine sẽ bị tiêu hủy khi qua giai đoạn trong nồi áp suất,  khoảng 15 phút với 125 ° C.
- Nuốt hạt thầu dầu, thường xảy ra tai nạn ở trẻ em, có thể gây ra ngộ độc nặng ( hiện diện chất ricin trong hạt ), khi gặp phải phải chở khẩn cấp đến bệnh viện. Người ta dự trù 3 hạt có thẻ làm ngộ độc 1 trẻ em, 4 hạt ngộ độc nghiêm trọng ở người lớn và 6 hạt có thể gây ra tử vong .
Con số định ra trên lý thuyết, nhưng thực tế vấn đề còn lệ thuộc vào độ nhạy cảm của từng cá nhân đối với ricin, hơn nữa tùy thuộc vào hạt được nhai hay không, nên mức độ nghiêm trọng sẽ không giống nhau ở mỗi trường hợp.
Ứng dụng :
Chất độc ( ricin ) không hòa tan trong dầu mặt khác nó rất nhạy đối với nhiệt độ,
Dùng bên ngoài cơ thể ( dùng ngoài da ) được sử dụng trong kỹ nghệ dầu thơm và dầu để xoa bóp, làm dịu đau hay thư giản bắp cơ.
Lá thầu dầu dùng theo truyền thống đắp thuốc trên chỗ sưng đau để chống lại những cơn đau  thấp khớp.
Dùng bên trong cơ thể : tác dụng nhuận trường được thực hiện với 1 hay 2 muỗng cà phê.
Nếu tẩy mạnh thì dùng 1 hay 2 muỗng soup. Những cách sử dụng này không được khuyến cáo cho mấy, nên cẩn thận nguy hiễm.
- Người ta sử dụng trước đây như một nguyên liệu thắp sáng, dùng như nguyên liệu mới, nhiên liệu sinh học.
- Dùng như một nguyên liệu để điều chế acide undécylénique, một chất diệt khuẩn dùng ngoài da.
- Trong kỹ nghệ điều chế dầu nhớt, nó được dùng trong một thời gian dài để bôi trơn động cơ xe đua và động cơ 2 thì.
- Ricin cũng được dùng để điều chế vật liệu nhựa của nhớm polyamides.
- Người ta còn dùng trong kỹ nghệ dầu sơn.
- Trong ngành trồng trọt, sản phẩm sau khi ép dầu, còn lại dùng như phân hữu cơ và như một loại thuốc trừ những loài gậm nhấm.


Nguyễn thanh Vân