Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

dimanche 3 juillet 2011

Dum dâu - Ronce a mûre

Ronce à Mure
Dum dâu
  Rubus fruticosus L.
Rosaceae
Đại cương :
Dạng bụi dọc bờ rào và trong rừng, trảng, cao khoảng 0,20 đến 2 m. Người ta dùng lá, hoa, trái.
Lá cây mâm sôi còn gọi là ronce hay mûre, tác dụng giảm co thắc mạnh và có thể dùng để chữa trị loét loang mạnh nướu răng.
Cây ronce thông thường ( hay mûrier hoang dại ) là một loại bụi gai có họ với họ hồng rosaceae, gặp nhiều trong vùng ôn đới, cây cho trái ăn được, gọi tên là mûron hay mûre, tên việt nam gọi trái mâm sôi.
Không nên lầm lẫn với mûrier cây «  dâu tằm ăn » cho ra trái cũng gọi là  « mûre » mặc dù trái rất hơi giống nhau cã ngoại hình lẫn hương vị có hơi khác.
 Tên thông dụng bản xứ : Ronce thông thường, ronce hàng rào, ronce rừng, cây mâm sôi, mûrier hoang dại, mûrier hàng rào, cây mûrier cáo,…
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Vùng ôn đới Âu Châu, đồng cháy bỏ hoang, bờ dậu hàng rào, rừng cây.
Mô tả thực vật :
Cây mâm sôi, hay ronce thông thường là một tiểu mộc, dạng bụi nhất niên bởi thân ngầm dưới đất, phát triển mỗi năm thân mới trên không, nhiều nhánh trường có gai nhiều, sống khoảng 2 năm, chỉ đậu trái ở nhánh năm thứ hai. Thân và lá phụ mang nhiều gai nhọn.
- Thân bò trường có thể đạt đến 4 thước chiều dài và đầu ngọn có thể chúi xuống đất năm thứ hai và mọc rể bởi sự chiết cành, cho ra một cây mới phát triển lan ra thành tập đoàn rộng lớn trên đất.   
Đây là loại cây chịu đạm phát triển nhanh tạo thành bụi rậm gai dày khó cho sinh vật xuyên qua .
- Lá kép  lẽ, lá phụ mọc đối, hình soan, có răng cưa thường có 5 hay 7 lá gọi là « bụi mâm sôi ».
- Hoa trắng hay màu hồng nhạt, 2 hay 3 cm đường kính, tập họp thành tản phòng ( corymbe ). 5 cánh 5 đài và nhiều nhụy đực nhiều tâm bì. Hoa xuất hiện trên thân từ năm trước.
- Trái chùm, quả nạt, màu đỏ hồng rồi đen xanh khi chín, khoảng tháng 9, ngọt hay chua tùy vùng và đất, ăn được, người ta gọi là trái « mûre ». Đây là những trái tập họp của những tâm bì sửa đổi và biến thành  những nhóm nhỏ quả hột cứng tập họp kết dính lại cùng chung một cuống hoa.
Bộ phận sử dụng :
Lá - quả nạt
Thành phần hoá học và dược chất :
Lá :
▪ Tanins hydrolysables (= gallotanins và ellagitanins, 8 đến  14 % )
▪ Acides hữu cơ :
- citrique,
- isocitrique
▪ Flavonoïdes
▪ và acides triterpéniques pentacycliques
Trái :
- Anthocyanes
- Pectine
- Vitamine C
- Acides trái cây
Đặc tính trị liệu :
- Giảm sự co thắc
- Chống lại chứng tiêu chảy nhờ tác dụng của tanin
- Kháng trùng
- Bảo vệ mạch máu
- Giúp  thần kinh co mạch
- lành vết thương hóa sẹo .
Lá cây mâm sôi phơi khô và đọt non mới mọc lên men dùng thay trà công dụng làm :
- giảm sự co thắc.
Cây chứa nhiều chất taninsinh tố C.
Lá non mọc vào mùa xuân được chủ ý dùng trong « mầm non liệu pháp - gemmothérapie », y học không quy ước ( non conventionnelle )
Ứng dụng :
- Tiêu chảy
- Súc miệng bằng lá mâm sôi ( mûre ) chữa trị bệnh viêm tuyến nước bọt và viêm yết hầu, loét miệng, sưng nướu.
- rửa sạch và hóa sẹo vết thương.
- tĩnh mạch trương và bảo vệ mao mạch .
- trái chín chữa trị chứng viêm sưng cổ họng.
Trong « mầm non liệu pháp », được chỉ định đặc biệt là chồi non.
- hô hấp yếu, tắc nghẽn.
- viêm cuống phổi mãn tính, nghẽn.
- khí thũng
- và giảm VEMS ( Volume expiré maximal par seconde )
Trong cách nấu sắc, được dùng làm ngưng :
- tiêu chảy
- và dịu những chứng trĩ.
Trong cách dùng như trà hay dung dịch súc miệng chữa trị :
- ho,
- đau cổ họng
- và viêm miệng.
Đồng thời cũng chữa trị :
- Tiêu chảy,
- viêm yết hầu,
- bạch đới khí hư,
- tiểu đường,
- xuất huyết,
- kết thạch,
- bần niệu ( tiểu ít ).
Dùng ngoài cơ thể :
- Loét miệng,
- viêm nướu,
- khàn tiếng,
- viêm cổ họng,
- lở loét,
- vết thương, bạch đới khí hư,
- lác hắc lào. 
- Ngâm : nấu 1 muỗng súp lá, đun sôi 2 phút, đoạn ngâm trong 10 phút ; 3 tách / ngày giữa bữa ăn .
- Nấu sắc : Đun 1 nắm lá trong 1 lít nước đun sôi trong 15 phút, thêm vào 2 hoặc 3 muỗng mật ong ; dùng để súc miệng ( gargarismes và bains de bouche )
Gia chánh và biến chế :
Trái « mûres », rất giàu nhiều hình thức khác nhau của Vitamine B ( trừ B12 ) và vitamine C ( 36 mg / 100 gr ), ăn sống riêng hay dùng chung « salades trái cây », hay  dùng chín, làm tartes, chế tạo sirops, thạch, mứt… . Ngoài ra còn biến chế như rượu mûre, crème mûre, v…v…
Những trái cũa những loài khác cũng ăn được như « ronce »
Đối với các nhà trồng vườn, cây mâm sôi có nhiều chất đạm nên người ta dùng :
Cắt nhỏ rể, phần rể của những cành chiết, màu trắng, cắt nhỏ và ngâm trong nước. Dung dịch sẽ cho chất kích thích tố nẩy chồi rất tốt.
Ngoài ra toàn cây cắt nhỏ ngâm trong nước nhiều ngày, mục nát dùng phân bón cây rất tốt.
Phản ứng xấu và phụ :
Không thấy ghi nhận.


Nguyễn thanh Vân