Tâm sự

Tâm sự

mercredi 18 avril 2018

Bé bé Quinoa - Kaniiwa

Cañihua - Kaniiwa
Bébé Quinoa
Chenopodium pallidicaule Aellen
Chenopodiaceae
Đại cương :
▪ Tên gọi thông thường.
- France : qariiwa;
- Espagnol : qarliwa,                                                           
- Pérou : cariihua,
- Bolivie : catiahua
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule, có nguồn gốc của những vùng Andes miền nam Pérou và Solivie, đã được thuần hóa bởi những những dân tộc văn minh Tiahuanaco, những người này đã cài đặt canh tác trên những vùng cao nguyên của Collao plateau du Collao.
Người ta không tìm thấy những mẩu vết tích khảo cổ vestiges archéologiques liên quan đến Cây này và những vết nứt còn tồn tại của những hạt cho thấy rằng sự thuần hóa của nó không hoàn chỉnh.
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là quan trọng trên những vùng cao nguyên của Pérou và Bolivie, bởi vì nó sản xuất những hạt cho thực phẩm con người ở độ cao giữa 3800 và 4300 nhờ ở sức đề kháng với nhiệt độ lạnh trong những giai đoạn khác nhau của thực vật khí hậu phénologiques.
Hiện nay, sự trồng trọt của nó và sự sử dụng được duy trì trong những vùng có những mức dộ tự tiêu thụ autoconsommation.
Một trong những nguyên nhân của sự cách ly quan trọng là :
- nhân công cần thiết để thu hoạch,
- và kích thước nhỏ của hạt, đưa đến khó khăn trong thao tác xử lý.
● Những yêu cầu của môi trưòng environnementales :
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule rất phù hợp với khí hậu của vùng Andin và do đó nó đề kháng với khí hậu lạnh ở tất cả giai đoạn của sự tăng trưởng.
Những Cây trưởng thành cũng đề kháng với giá đông ban đêm gelées nocturnes.
- Ở giai đoạn thực vật dinh dưởng, Cây có thể sống sót cho đến -10 ° C,
- giai đoạn sinh dục phát hoa cho đến -3 ° C,
- và giai đoạn nẩy chồi đến những nhiệt độ 28 ° C với một độ ẩm đầy đủ.
▪ Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule có thể canh tác từ 1500 m đến 4400 m, nhưng nó hiếm khi được canh tác dưới 3800 m.
▪ Cây có sức đề kháng với gió lạnh, với mưa lớn, với phần lớn những loài ký sinh parasites và những bệnh và thậm chí những thời kỳ hạn hán kéo dài.
▪ Những lượng nước mưa từ 500 đến 800 mm trong thời gian mùa tăng trưởng đưa đến việc tưới tiêu không cần thiết nữa.
Cây không thích :
- bóng râm,
- tiếp xúc phơi trực tiếp vủng biển,
- hoặc độ ẩm quá mức.
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule có thể canh tác trên bất cứ loại đất mầu mỡ vừa phải, bao gồm những đất cạn không sâu, đất acide, đất kiềm alcalins hoặc đất mặn.
▪ Sinh thái học Ecologie và địa lý thực vật phytogéographie
Sự canh tác này trải rộng từ trung tâm của Pérou (Huaraz) đến Cochabamba  ở Bolivie và tập trung đặc biệt ở những vùng cao, nó sống rời rạc lẻ tẻ, trong từng nhóm nhỏ, trên vùng cao của Bombón (Junfn, Pérou).
Nó đòi hỏi những nhu cầu như sau :
Chu kỳ ánh sáng photopériode.
Cây không không nhạy cảm với thời lượng trong ngày và cho thấy thích ứng với sự khác nhau của môi trường, người ta sản xuất những hạt thực nghiệm trong Finlande ở 40° vĩ độ Bắc.
◦ Độ ẩm Humidité.
Cây đòi hỏi từ 500 đến 800 mm lượng nước mưa, nhưng có thể dung nạp nhỏ ở những thời kỳ hạn hán kéo dài, nó cho thấy một tính nhạy cảm cực kỳ đối với ẩm độ quá mức humidité trong những giai đoạn đầu của sự phát triển của nó.
◦ Nhiệt độ temperature.
Cây rất đề kháng với độ lạnh, nó chịu đựng những nhiệt độ lên đến 10 °C trong quá trình phân nhánh bởi vì, bởi một cơ chế thích ứng, những lá bao phủ và bảo vệ những chồi nụ hoa và những trục phát hoa khi khi ban ngày buông xuống, điều này để tránh giá đông của những bộ phận quan trọng của cây.
Ở những cực khác, nó có thể chịu đựng đến 28 °C, nếu nó được hưởng những độ ẩm cần thiết. Vì vậy, nó thích những đất sét sols francs argileux, với hàm lượng đủ thành phần phosphore P và potassium K.
Độ pH chính xác thay đổi giữa 4,8 và 8,5; nó dung nạp với độ mặn.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Thân thảo  sống hằng niên, loài này có lưỡng nhiễm diploïde với số nhiễm thể 2n = 18.
Có 2 loại của loài này, khác nhau bởi sự phân nhánh.
Loại lasta cho thấy một sự phân nhánh cao, trong khi loại saguia đặc trưng bởi một số phân nhánh và sự tăng trưởng thẳng đứng hơn.
Cây mọc cao khoảng từ 20 đến 60 cm và do đó ngắn hơn Cây quinoa, giống gần với nó.
Rễ cái phân nhánh nhiều và mịn.
Một khi sự trưởng thành đạt được, thân và những của Cây thay đổi màu để trở nên vàng, đỏ,  xanh lá cây hoặc tím.
, có cuống, có hình bình hành, 3 thùy và mọc cách.
Phát hoa, cũng khác nhau với Quinoa trong phát hoa của nó và những tính năng của hoa. Những phát hoa được cài đặt trên những chùm ở ngọn và ở nách lá, được bao phủ bởi những tàn lá.
Hoa, nhỏ và vô cánh.
Có 3 loại hoa khác nhau,
- Hoa lưỡng phái hermaphrodites bao gồm cho cả hai tiểu nhụy và nhụy cái.
- Một loại khác của hoa, là những hoa có nhụy cái pistillées, có những nhụy cái pistil, nhưng không có tiểu nhụy ( nhụy đực ).
- Loại thứ 3 của hoa là những hoa vô sinh đực androsteriles.
Bộ phận thụ đực androcée, có từ 1 đến 3 tiểu nhụy.
Bộ phận sinh dục cái gynécée, 1 bầu noãn thượng, 1 buồng.
Trái, rụng sớm, điều này có nghĩa là những hạt sẽ rời một cách tự nhiên và sau đó phát tán, kích thước nhỏ và màu sậm, có chứa những hạt màu nâu hoặc đen, đường kính khoảng từ 0,5 đến 1,5 mm nhưng sự sản xuất rất phong phú..
Những hạt có thể tồn tại trong nhiều năm trong đất và người ta có thể trồng với những hạt này.
Bộ phận sử dụng :
Hạt và những sản phẩm của hạt.
Lá, ăn được.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Giá trị dinh dưởng nutritionnelle
Những canh tác Cây lương thực bản địa Andines, hạt quinoa (Chenopodium quinoa), hạt kiwicha (Amaranthus caudatus) và hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule có một hàm lượng cao thành phần giá trị dinh dưởng nutritionnelle cơ bản chủ yếu trên :
- hàm lượng chất đạm protéines đáng kể của chúng,
- và giá trị trong thành phần chất xơ thực phẩm fibres alimentaires.  
▪ Hàm lượng của những thành phần :
- chất đạm protéines,
- calcium Ca,
- kẽm Zn,
- và sắt Fe.
là cao hơn so với những loại ngủ cốc céréales được thương mại hóa rộng rãi hơn.
▪ Hàm lượng :
- chất đạm protéines (15,3%) của hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule
là cao hơn so với những hạt quinoa và hạt Dền đuôi ngấn kiwicha Amaranthus caudatus và tương tự với lúa mì blé (12,6%) và yến mạch avoine (16,9%).
▪ Những chất béo lipides chủ yếu được cấu tạo bởi :
- acides béo không bảo hòa gras insaturés.
Khác với những hạt quinoa, hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule chứa một lượng thấp hoặc không những thành phần saponines có hương vị đắng amer, nó ảnh hưởng đến hương vị và cấu trúc.
● Kho báu của những flavonoïdes :
▪ Những flavonoïdes là một trong những chất chống oxy hóa antioxydants được nghiên cứu nhiều nhất, và nó được chứng minh rằng hạt kaniwa Bê bê Quinoa Chenopodium pallidicaule  chứa những mức độ cao ngoại lệ của thành phần flavonoïdes, trong đặc biệt :
- isorhamnétine,
- và quercétine.
Thật vậy, nó đã được chứng minh rằng Hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule còn chứa nhiều flavonoïdes hơn hạt quinoa, bà con gần của nó.
▪ Ngoài việc cung cấp những lợi ích :
- chống lão hóa anti-âge cho da peau,
những thành phần flavonoïdes có thể giúp ngăn ngừa :
- những bệnh tim mạch cardiovasculaires,
- ức chế sự tăng trưởng của một số nhất định vi khuẩn bactéries,
- và siêu vi khuẩn virus,
và giảm nguy cơ của một số bệnh viêm inflammatoires.
● Hợp chất hóa học :
▪ Bảy (7) chất saponines triterpénoïdes đã được phân lập từ những hạt của Cây Bé bé Quinoa  Chenopodium pallidicaule (Chenopodiaceae).
▪ Trong số những hợp chất này, bốn (4) đã được xác định như những saponine được biết :
- acide oléanolique,
- và acide phytolaccagenique.
▪ Ba (3) hợp chất khác, có tên từ 1 đến 3, là những saponine mới. Những cấu trúc của những saponine này đã được xác định như là :
- (1) hédéragenine 3-O- [α-l-arabinopyranosyl- (1 → 3) -β-d-glucuronopyranosyl] -28-O-β-d-glucopyranoside;
- (2) acide phytolaccagenique 3-O- [β-d-glucopyranosyl- (1 → 4) -β-d-glucopyranosyl] -28-O-β-d-glucopyranoside;
- và (3) acide phytolaccagenique 3-O- [β-d-glucopyranosyl- (1 → 4) -β-d-glucopyranosyl- (1 → 4) -β-d-glucopyranosyl] -28-O-β-d -glucopyranoside.
Tất cả những cấu trúc đã được làm sáng tỏ bởi những phhương pháp hóa học chimiques và quang phổ spectroscopiques.
Hai (2) flavonols triglycosides mới đã được xác định từ những hạt Cây Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule.
Cấu trúc của nó đã được thiết lập như :
- isorhamnétine 3-O-β-D-apiofuranosyle (1 dẫn đến 2) -O- [α-L-rhamnopyranosyle (1 dẫn đến 6)] - β-D-glucopyranoside,
- và quercétine 3-O-β-D-apiofuranosyle (1 dẫn đến 2) -O- [α-L-rhamnopyranosyle (1 dẫn đến 6)] - β-D-galactopyranoside.
▪ Những hợp chất quercétine đã biết :
- 3- (2G-β-D-apiosyl) rutinoside,
- 3- (2GAL-α-L-rhamnosyl) robinobioside,
- 3-rutinoside,
- 3-robinobioside,
- 3- (2GAL-α-L-rhamnosyl) robinobioside d'isorhamnétine,
- 3-rutinoside,
- 3-robinobioside,
và kaempférol 3-robinobioside cũng đã được tìm thấy .
Tất cả những cấu trúc đã được làm sáng tỏ bởi những phương pháp hóa học chimiques và quang phổ spectroscopiques.
▪ Thông tin trên giá trị dinh duởng cho những hạt Kaniwa Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule
Như hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule còn là thực phẩm tương đối chưa được biết đến, những nghiên cứu mang lại trên giá trị dinh dưởng của nó là giới hạn.
Do đó, những dữ liệu dinh dưởng của hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule chỉ có sẳn cho một số dinh dưởng nhất định.
▪ Thành phần dinh dưởng số lượng lớn Macronutriments
◦ chất đạm protéine: 15,4 g (31%)
◦ chất béo thô grasse brute: 6,2 g
◦ đường glucides: 61 g (20%)
◦ chất xơ thực phẩm thô fibre brute: 7,7 g (31%)
▪ Vitamines
◦ Thiamine (B1): 0,7 mg (48%)
◦ Riboflavine (B2): 0,4 mg (25%)
◦ Niacine (B3): 1,4 mg (7%)
▪ Nguyên tố khoáng minéraux
◦ calcium Ca : 134 mg (13%)
◦ sắt Fe : 15 mg (86%)
◦ phosphore P : 424 mg (42%)
● Nguồn chất đạm protéines phẩm chất cao :
Nhiều lợi ích tốt của sự dinh dưởng nutritionnels và cho sức khỏe của hạt quinoa là do hàm lượng của nó tương đối cao thành phần chất đạm protéines.
Ngoài ra, những chất đạm của hạt quinoa được xem như có phẩm chất đặc biệt cao, cung cấp một số lượng đáng kể của tất cả những acides aminés thiết yếu ( như acides aminés là những thành phần cấu tạo của khối chất đạm protéines).
Như Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là quan hệ mật thiết với hạt quinoa, nó không lấy làm ngạc nhiên rằng kaniwa cũng chứa đầy những chất đạm protéines có phẩm chất qualité cao, chứa một số lượng đáng chú ý của tất cả những acides aminés thiết yếu, bao gồm  lysine thường được thấy trong một số lượng nhỏ trong những hạt.
 Thật vậy, nó đã được chứng minh rằng Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule còn chứa nhiều chất đạm protéines hơn hạt quinoa (khoảng 16% so với 13% cho hạt quinoa).
● Một chất thay thế giàu dinh dưởng nutriments và không gluten cho lúa mì blé :
▪ Lúa mì blé nguyên chất là một nguồn tuyệt hảo của :
- vitamines B
và nguyên tố khoáng thiết yếu minéraux essentiels như là :
- magnésium Mg, kẽm Zn, sélénium Se, đồng Cu, sắt Fe, phosphore P và manganèse Mn.
▪ Nhưng lúa mì blé cũng chứa :
- gluten,
một chất đạm protéique có thể là nguyên nhân của những vấn đề tiêu hóa dạ dầy ruột gastro-intestinaux như là :
- trướng bụng, sình bụng ballonnements,
- hội chứng kích ứng đường ruột syndrome de l’intestin irritable (IBS),
- và  những đầy hơi flatulences ở một số người nhất định.
Nhiều hạt thông thường khác, như là :
- lúa mạch orge và lúa mạch đen seigle, cũng chứa gluten.
Hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule, như người anh em họ với quinoa, trong tự nhiên :
- không gluten.
Tuy nhiên, nó siêu nạp suralimenté với :
- những vitamines B,
và một lượng lớn của những nguyên tố khoáng minéraux, bao gồm :
- calcium Ca, sắt Fe và phosphore P,
▪ Với điều kiện người ta sử dụng hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule không bị ô nhiễm chéo croix contaminée bkởi lúa mì blé hoặc những ngủ cốc khác chứa gluten, người ta có thể sử dụng hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule như một thay thế những hạt có chứa gluten.
Đặc tính trị liệu :
● Những đặc tính dinh dưởng đặc biệt
Hạt nhỏ này có những hiệu năng nhờ thành phần của nó giàu thành phần chất đạm protéïnes và acide amines, nguyên tố kháng sắt Fe, calcium Ca, kẽm Zn, và chất xơ thực phẩm fibres.
▪ Ngắn gọn, Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule, có những hạt nhỏ hơn bạn nổi tiếng nhất của nó là hạt quinoa được biết cho thấy liên hệ quan trọng cho sức khỏe của nó.
▪ Nguồn chống oxy hóa anti-oxydants, nó cho phép những tế bào bảo tồn nguồn vốn sức khỏe của con người.
▪ Đặc tính khác quan trọng non négligeable, nó không chứa thành phần gluten. Do đó, những người mắc phải chứng không dung nạp gluten có thể tiêu dùng không có nguy cơ nào.
▪ Và nó được đề nghị cho những người mắc phải :
- chứng thiếu máu anémie,
- và thiếu nguyên tố sắt Fe.
Cái nhìn bên ngoài, Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là nhỏ và dễ thương, màu đỏ đậm do đó có biệt danh là ( em bé ) bébé quinoa.
● 7 lợi ích cho sức khỏe của siêu thực phẩm Kaniwa
Hầu hết mọi người đã nghe danh từ hạt quinoa, nhưng có nghe nói đến Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule ?  Đây là một hạt thay thế một trò chơi của những hạt khỏe mạnh.
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là một hạt nhỏ, ngọt, của Nam Mỹ Amérique du Sud và bởi vì nó chứa số lượng nhỏ thành phần saponines, cho một hương vị xà phòng savonneux ở hạt Quinoa.
Hơn nữa, Bébé Quinoa kaniwa Chenopodium pallidicaule, rất phong phú những lợi ích cho sức khỏe mà ngưới ta có thể không biết.
▪ Nhiều chất đạm hơn protéines :
Cho mỗi khẩu phần, người ta thu được 7 grammes chất đạm protéines mạnh, chỉ với 160 calories.
Điều này là lý tưởng cho những người ăn chay tuyệt đối ( không ăn cả những sản phẩm động vật ) végétaliens, những người ăn chay tương đối ( có thể ăn những sản phẩm động vật ) végétariens và thậm chí những người ăn thịt viande, người thích một phương cách lành mạnh hơn của sự tiêu dùng những chất đạm protéines không ăn quá nhiều thịt viande.
Có nhiều chất đạm protéines trong Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule mà trong gạo nâu riz brun hoặc cũng như quinoa.
▪ Không gluten
Cho những người không dung nạp intolérantes với gluten hoặc mắc phải :
- bệnh liên quan đến khoang bụng cœliaque,
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là một sự lựa chọn tuyệt hảo cho một thực phẩm làm đầy (no) mà không gây ra :
- rối loạn đường ruột troubles intestinaux.
▪ Nguyên tố sắt cao Fe .
Nguyên tố sắt Fe là quan trọng đối với cơ thể chúng ta có một chức năng hoạt động bình thường.
Một khẩu phần của Bé bé Quinoa kaniwa cho chúng ta 60% của giá trị hằng ngày được đề nghị cho nguyên tố sắt Fe, điều này là nhiều hơn ở hạt Quinoa.
▪ Bao gói với những chất dinh dưởng nutriments
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule đầy những thứ khác tốt , như là :
- calcium Ca, kẽm Zn và những xơ thực phẩm fibres.
Nhiều chất xơ hơn hạt millet hoặc lúa gạo hoang riz sauvage. Chất xơ giúp người ta cảm thấy đáp ứng sự đầy đủ lâu hơn, điều này lợi ích cho những ai muốn giảm cân.
▪ Đấy đủ chất chống oxy hóa antioxydants
Có nhiều chất chống oxy hóa antioxydants trong thức ăn của chúng ta, nó là tốt. Nó giúp bảo vệ những tế bào chống lại :
- những gốc tự do có hại radicaux libres nocifs.
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là nguồn tuyệt hảo của chất chống oxy hóa antioxydants, rất tốt cho sức khỏe của chúng ta.
▪ Chế độ ăn kiêng-thân thiện Diète-amicale
Cho mỗi khẩu phần của Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule, nó chỉ có 1 gramme của chất béo. Nó không có đường và với 3 gr chất xơ thực phẩm fibres, điều này giúp người ta cảm thấy đầy đủ no lâu.
Ngoài ra, đây là một hạt thực vật, do đó nó không có :
- cholestérol,
- hoặc chất béo bảo hòa graisse saturée.
▪ Giảm nguy cơ mắc bệnh maladies
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là một hạt hoàn toàn cho sức khỏe có thể giúp giảm thiểu những nguy cơ cho :
- bệnh tiểu đường diabète,
- tai biến mạch máu não (đột quỵ) accident vasculaire cérébral,
- huyết áp cao hypertension,
- những bệnh tim maladie de coeur,
- một số  loai ung thư cancer, và nhiều nữa.
Đây là một trong những lợi ích cho sức khỏe của Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule, một siêu thực phẩm mới.
Kinh nghiệm dân gian :
● Thu hoạch và sau thu hoạch :
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule phải được thu hoạch khi nó đã đổi màu, trước khi trưởng thành chín hoàn toàn, để tránh thất thoát năng xuất cao do sự phát tán của những hạt.
Sự thu hoạch phải được cắt, sấy khô và đập bằng tay hoặc với sự trợ giúp của một máy đập lúa mì.
Những bao mỏng như giấy bao chung quanh hạt và phải được rửa sạch và loại bỏ.
Năng xuất trung bình của hạt từ 400 đến 900 kg / ha trong hệ thống canh tác truyền thống.
Trong những hệ thống thâm canh, những năng xuất 2-3 t có thể thu được.
Khối lượng của 1000 hạt chỉ có 480 mg, so với 1900 mg - 4000 mg của quinoa.
● Tiềm năng và rủi ro :
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule thường được xem như một Cây canh tác bị lãng quên đã một lần được sử dụng trong những vùng Andes, nhưng ngày nay được thay thế bởi Cây trồng khác như Cây hạt millet.
Ngày nay, Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule chỉ có ý nghĩa của những độ cao cao hơn, nơi đây không Cây quinoa cũng không Cây millet không thể phát triển tăng trưởng được.
Bởi tương tự với sự thành công của Cây quinoa và nhu cầu gia tăng trong những nước ở phương Tây, Kaniiwa Bé bé Quinoa Chenopodium pallidicaule có một tiềm năng của thị trường phát triển.
Cây trồng đã được thí nghiệm sản xuất trong Finlande và đã mang lại kết quả tốt.
Nguy cơ của sự thụ phần chéo là rất thấp, bởi vì Cây Kaniiwa Bé bé Quinoa Chenopodium pallidicaule tự thụ phần auto-pollinise.
Nguy cơ còn lại trở thành một sự xâm chiếm.
Những đối tượng của sự chọn lọc của chúng quan trọng hơn là :
- sự giảm của sự phát tán của những hạt,
- và sự gia tăng kích thước của những hạt.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Những và những hạt của tất cả những thành viên của giống Chenopodium, nhiều hay ít là ăn được.
▪ Tuy nhiên nhiều loài trong giống nầy có chứa những thành phần saponines, mặc dù, thường trong những số lượng quá nhỏ để gây bất kỳ tác hại nào.
Mặc dù độc hại toxiques, những thành phần saponines là hấp thu kém với số lượng rất thấp  bởi cơ thể và phần lớn đi qua trực tiếp không có vấn đề.
Nó cũng bị phân hủy trong một mức độ lớn trong quá trình nấu chín ? Những thành phần saponines được tìm thấy trong nhiều thực phẩm, như là một số đậu Hà lan.
Những chất saponines là nhiều độc hại toxiques hơn đối với một số sinh vật, như những loài cá poissons, và những bộ lạc săn bắn, trong truyền thống  đã đem một số lượng lớn vào trong dòng nước, những hồ ...v...v... để làm tê mê hoặc giết những loài cá.
▪ Những Cây cũng chứa thành phần acide oxalique, trong một số lượng lớn có thể ngăn chận một số nhất định của những thành phần dinh dưởng éléments nutritifs trong thực phẩm.
Tuy nhiên, ngay cả tính đến những điều này, nó là những rau cải légumes rất dinh dưởng nutritifs trong một số lượng hợp lý.
Nấu chín những Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule sẽ giảm hàm lượng acide oxalique của nó.
Những người có xu hướng bị bệnh :
- thấp khớp rhumatismes,
- viêm khớp arthrite,
- chứng thống phong goutte,
- với những kết thạch thận calculs rénaux,
- hoặc tính acides tăng cao hyperacidité
nên có một sự thận trọng đặc biệt nếu Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule này đi vào trong thực phẩm, bởi vỉ nó có thể làm nghiêm trọng thêm tình trạng của chúng.
Ứng dụng :
● Những sự sử dụng :
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule có thể dễ dàng nghiền nhuyễn thành bột farine và có thể được chế biến xa hơn như bột Caniiwa farine de cañihua rang được gọi là cañihuaco.
Cañihuaco có một hương vị đậm đà và có thể pha trộn với nước và sữa để có một bữa ăn sáng petit-déjeuner. Như nó giàu năng lượng calories và chất đạm protéines, người địa phương dùng trong những chuyến du lịch lâu dài.
Ngoài ra, bột farine Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule có thể được sử dụng cho nhiều mục đích, như làm bánh mì, làm bánh ngọt pâtisserie và chế tạo mì nouilles.
Một số loại variété của Cañihua Bé bé Quinoa Chenopodium pallidicaule có thể thậm chí là bao gồm trong những kẹo bonbons, những món ăn nhẹ và những hỗn hợp thực phẩm cai sữa nourriture de sevrage.
▪ Tầm quan trọng cho an toàn thực phẩm
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule là một canh tác trồng trọt quan trọng cho an toàn thực phẩm trong vùng Andine nơi đây có nhiều vấn đề cho sự dinh dưởng.
Nhóm người bị ảnh hưởng nhiều nhất là những gia đình ở nông thôn có một sự tiếp cận giới hạn với những sản phẩm do ở sự nghèo đói và hạn hán.
Cañihua Bé bé Quinoa Chenopodium pallidicaule dễ dàng tiêp cận cho cả hai và đề kháng với khô hạn sécheresse, cung cấp một tiềm năng thực phẩm và tạo thu nhập cho những người nông dân ở những vùng cao.
Để mà giảm bớt những vấn đề an toàn thực phẩm, kỹ thuật mới và sản phẩm thực phẩm nông nghiệp agroalimentaires được phát triển để khuyến khích những công ty biến đổi những canh tác trồng trọt bản địa vùng Andines và gia tăng sự tiêu dùng của họ cũng như những cơ hội của thị trường mở bằng cách sử dụng Kaniiwa Bé bé quinoa.
▪ Sự sử dụng và giá trị dinh dưởng :
Hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule nầy có một hàm lượng cao chất đạm protéines (từ 15 % đến 19 % ) và, như hạt Quinoa và hạt dền duôi ngấn amarante caudée Amaranthus caudatus, một tĩ lệ quan trọng của những acides aminés chứa lưu huỳnh soufres. Nó có lợi ích là không chứa thành phần saponine, khác với hạt quinoa, điều nầy tạo thuận lợi cho sự sử dụng nó.
Sự tiêu thụ truyền thống phổ biến nhất là ở dưới dạng rang lên và nghiền nát thành bột nhuyễn, sản xuất ra một bột dễ chịu ngon được gọi tên là canihuaco. Người ta tiêu dùng một mình, trong những thức uống lạnh hoặc nóng hoặc nấu chín.
Người ta còn biết hơn 15 phương cách khác nhau để chế biến hạt nguyên và bột caliihuaco ( trong thức ăn khai vị, súp soupes, món hầm ragoilts, món tráng miệng desserts và đồ uống boissons).
Trong ngành công nghiệp bánh nướng, người ta thu được một kết quả tốt bằng cách thêm vào 20 % bột caliihitaco với bột mì farine de blé, điều này làm cho sản phẩm ( bánh mì pain, bánh galette) có màu sắc và một hương vị đặc trưng và dễ chịu.
Bột cafiihuaco có một giá trị y học : nó chống lại :
- bệnh tật của những độ cao mal des hauteurs,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie;
▪ Những tro của thân Cây Kaniiwa Bé bé Quinoa có thể phục vụ như chất làm xa lánh répulsif chống lại :
- những loài côn trùng chích piqûre d' insectes,
- và loài nhện araignées.
▪ Như vậy, làm thế nào để sử dụng và thưởng thức Kaniiwa ?
Người ta chuẩn bị biến chế như quinoa, nhưng nhanh hơn đơn giản một chút bởi vì không cần phải rủa trước.
Người ta sử dụng 2 tách nước cho mỗi tách hạt Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule khô.
Để trên lửa nhỏ từ 15 đến 20 phút.
◦ Người ta rang trong thời gian 20 phút trên một tấm vĩ khô sẽ mang lại một hương vị thơm ngon của nó nhiều hơn trước khi người ta nấu hạt Kaniiwa.
▪ Phương pháp nấu dễ dàng .
Về phương diện nấu ăn, Bébé quinoa người ta dễ dàng làm công việc này. Không cần phải rửa trước khi chuẩn bị bởi vì trái ngược với hạt quinoa, nó không chứa nhiều chất saponines, có thể làm thay đổi hương vị bằng cách cho ra vị đắng amertume.
Và bên cạnh tĩ lệ, nó chỉ cần pha trộn với một lượng hạt cho 2 lượng nước 1 : 2, đun sôi sau đó vặn lửa nhỏ khoảng ¼ giờ ( 15 phút ) để cho những hạt hấp thu nước.
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule, giống như Quinoa có thể tiếp sau đó chia thành nhiều công thức nấu ăn mặn và ngọt.
Người ta có thể tiêu thụ chín kèm theo thịt viande hoặc cá poisson, trong salade gồm vbới những cà chua tomates, dưa leo concombre và cá ngừ thon cho một món ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và tươi mát hoặc tô điểm trong những chế biến của loại sữa chua lên men yoghourt, bánh ngọt gâteaux và biscuits.
Người ta cũng có thể nghiền nhuyễn làm thành bột farine.
Và Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule phù hợp tuyệt vời trong những sinh tố tổng hợp smoothies và nó cũng có thể làm đặc những món súp soupes.
Một lợi ích khác thú vị khác, Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule được  đánh giá cao đối vnới những trẻ em và những trẻ sơ sinh bébés tại thời điểm đa dạng hóa diversification.
Vì vậy để con em không bị thiếu hụt, nghĩa đến nấu ăn những hạt nhỏ này bằng  cách trộn chung với những bột nhuyễn purées chẳng hạn như (khoai tây pommes de terre, cà rốt carottes, đậu Hà lan petits pois).
Đây là phương cách tuyệt hảo để làm cho chúng ăn ngũ cốc.
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule chứng tỏ hương vị thật ngon, cung cấp món ăn giòn và có mọt hương vị hấp dẫn.
Thực phẩm và biến chế :
- nấu chín và sử dụng như rau dền tây épinards.
▪ Những lá sống chỉ được dùng với một số lượng nhỏ, vì nó có độc tính toxicité.
Những lá non chứa đến 30% chất đạm protéines (trọng lượng khô).
Hạt, sử dụng chín.
▪ Nó có thể rang lên và nghiền nát thành bột nhuyễn với hương vị hấp dẫn có thể được sử dụng như ngủ cốc céréale trong bữa ăn sáng petit-déjeuner.
Nó cũng có thể được dùng để chế tạo những bánh biscuits, pha trộn với bột , nó được sử dụng để làm những bánh mì và những thức uống nóng tương tự như chocolat nóng cũng có thể được làm từ đó.
Hạt chứa ít hoặc không có thành phần saponines do đó có thể được sử dụng mà không cần phải tiền xử lý.
▪ Những hạt cực kỳ dinh dưởng, nó chứa khoảng 16% chất đạm protéines có phẩm chất cao (đặc biệt nó giàu thành phần lysine, isoleucine và tryptophane), gần 60% đường glucides và 8% chất béo graisses.
▪ Hảy thử nó như một cháo hoặc người ta cũng có thể nghiền nhuyễn trong một bột farine để sử dụng làm bánh mì pains.
Cho những bữa ăn sáng petit déjeuner, hảy thử như một thay thế phù hợp với bột của yến mạch farine d'avoine và trang trí thêm những trái cây nhỏ tươi.
Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule cũng là một thay thế rất tốt cho những thực phẩm có nhiều chất bột féculents.
Hảy thử thực hiện Kaniiwa Bébé Quinoa Chenopodium pallidicaule cho những bữa ăn sắp tới của ngày hôm nay để gặt hái những lợi ích cho sức khỏe.

Nguyễn thanh Vân

samedi 14 avril 2018

Gáo lá - African Peach

African Peach
Gáo lá
Nauclea latifolia - Sm.
Rubiaceae
Đại cương :
Danh pháp đồng nghĩa :
- Cephalina esculenta (Afzel. ex Sabine) Schumach. & Thonn.,
- Nauclea esculenta (Afzel. ex Sabine) Merr.,
- Nauclea latifolia Sm., Nauclea sambucina T.Winterb.,
- Sarcocephalus esculentus Afzel. ex Sabine
esculenta => ăn được, làm thức ăn cho người.
esculentus => ăn được, làm thức ăn cho người.
latifolia => với những lá rộng.
latifolius => với những lá rộng.
sambucina => ngưòi cao tuổi, giống như giống Sambucus.
▪ Cây Gáo lá Nauclea latifolia là tên khoa học thực vật của một cây nhỏ thường gọi là “ Cây đào Phi châu ” hoặc “ arbre à coussinets ”.
▪ Ở  tên gọi chung Sarcocephalus esculentus của Cây Gáo lá Sarcocephalus do tiếng Hy lạp "sarco" (nạt thịt charnu) và "đầu céphale", căn cứ vào hình thái của những hoa.
Tên loài đặc biệt là do tiến Latin Latifolius "lati" (rộng large) và "folius" (lá feuillu) (Arbonnier, 2000).
▪ Trong y học dân gian, những loài Nauclea diderichii và Nauclea orientalis được sử dụng cùng một cách với Cây Gáo lá Nauclea latifolia.
Một trong số đó, bao gồm Cây Gao lá Nauclea latifolia, được sử dụng trong hệ thống y học truyền thống cận Sahara subsaharien để chữa trị nhiều bệnh, điều này cho thấy rằng chúng có thể đại diện cho một nguồn tự nhiên của thành phần hoạt động dược lý pharmacologiquement actives (Karou và al., 2011).
Cây Gáo lá Nauclea latifolia có nguồn gốc ở Châu Phi Afrique và Châu Á Asie (Gidado và al., 2005).
Phạm vi phân phối của Cây Gáo lá Sarcocephalus latifolius giới hạn ở một số vùng nhất định của Châu Phi cận sahara Afrique subsaharienne.
Người ta gặp tiểu mộc này đặc biệt trong Tây Phi Afrique occidentale ở Bénin, trong Côte d'Ivoire, Gambie, Ghana, Guinée, Guinée-Bissau, ở Liberia, Mali, Nigeria, ở Sénégal, Sierra Leone, Togo, và trong Châu Phi xích đạo ở Cameroun, Congo, Gabon, Zaire (République démocratique du Congo) và trong Ouganda.
Cây Gáo lá Nauclea latifolia thường được tìm thấy ở Sénégal, Cameroun, Nigéria và cho đến Soudan, trong vùng nhiệt đới và Nam Phi (Michel, 2004).
Ở Nigeria, người ta tìm thấy trong những vùng như Kontagora, Abuja, Shaki, Akwa Ibom, Cross River, Enugu, Abakaliki và những vùng khác của nước này.
Sarcocephalus latifolius phát triển trong những thảo nguyên giữa 0 và 200 mètres độ cao, nhưng người ta cũng có thể gặp trong những rừng những tán kết nối qua những sông nhỏ dọc theo những dòng nước.
Những điều kiện khí hậu tối ưu là một nhiệt độ trung bình 27 °C và một lượng nước mưa hằng năm trung bình 2700 mm.
Những rễ, những vỏ Cây Gáo lá Nauclea latifolia thường được sử dụng trong y học truyền thống Nigeria.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây Gáo lá Nauclea latifolia thuộc họ Rubiaceae, một họ lớn bao gồm hơn 630 giống và khoảng 13000 loài thực vật.
Một tiểu mộc bụi tỏa rộng, thân láng hoặc có lông mịn với những nhánh dài, lá không rụng, thân nhiều hoặc một Cây nhỏ.
Nó mang những hóa rất là thú vị, trái lớn như quả bóng màu đỏ với những tiểu nhụy dài dư ra.
Nó mọc cho đến 200 m độ cao.
Nó ít khi mọc cao quá 6 m, xoắn, hoặc hjoặc một Cây lớn hơn 30 m và đường kính khoảng 2,5 m, trong một khu rừng cấm .
Cây có vỏ sần sùi và những lá do được 0,17 m x 0,10-0,12 m (Duke, 2008), có những vết nứt, màu nâu xám đậm với những đường sọc màu đỏ nhạt xơ.
, láng, mọc đối, hình tròn-bầu dục, mũi nhọn, thu hẹp nhỏ lại hoặc gần như tròn ở đáy, với khoảng từ 7 đến 8 gân lá phụ ở mỗi bên, màu xanh lá cây bóng với những chùm lông tơ. Cuống lá 0,5 cm đến 2 cm, lá kép ngắn, nghiêng, có những lông nhỏ mịn.
Phát hoa, tán với đầu hình cầu ở đỉnh ngọn như những chùm tụ tán của những hoa màu trắng nhạt.
Đầu của hoa đo được đến 2 mm đường kính, thơm và thu hút những loài ong đến.
Những hoa được gắn với những đài hoa của chúng (Michel, 2004).
Răng của đài hoa cung cấp một phụ tùng hình sợi thật mỏng-phù lên ở đỉnh như cây gậy mọc xen khoảng 0,16 cm dài, sớm được tách rời sự mắc dính bởi sự tăng trường của vành hoa thơm màu trắng, hồng hoặc màu vàng nhạt.
- Vòi nhụy, màu hồng nâu nhạt, nuốm trắng như tuyết.
Trái, những trái thường nạt thịt, không hấp dẫn, nhưng ăn được, ít sâu, với nhiều hạt chôn sâu bao phủ chung quanh bởi những bột nạt màu hồng ăn được chiếm khoảng ¼ đường kính của trái..
Hạt, thường nhỏ, hình trứng, nhiều, màu nâu nhạt với một hương vị dễ chịu, nhưng chúng có thể gây ói mữa nếu nó được dùng quá mức (Iwu, 1993).
Bộ phận sử dụng :
Những bộ phận thường được sử dụng của thảo dược này bao gồm những , những rễ, thân và những trái.
Thành phần hóa học và dược chất :
Cây Gáo lá Nauclea latifolia chứa những thành phần hoạt động : tannins, alcaloïdes và saponines.
● Alcaloïdes :
▪ Tất cả những bộ phận của giống Nauclea là nguồn giàu thành phần :
- alcaloïdes monoterpéniques indoliques.
▪ Có nhiều công trình. Trong sự phong phú của những ấn phẩm này, tất cã những công bố không thể kể hết, chỉ kể đến trên :
- những alcaloïdes indoles của vỏ của Cây Gáo lá Nauclea orientalis,
- và trên những thành phần naucleamides A - E trong vỏgỗ của Cây Gáo lá Nauclea latifolia.
▪ Alcaloïde indole strictosamine
đã được tìm thấy trong rễ, những , những vỏ của thân Cây Gáo lá Nauclea latifolia.
▪ Trong trích xuất hòa tan trong nước hydrosoluble của Cây Gáo lá Nauclea latifolia, 7 ( bảy) glycosides indoliques alcaloïdes đã được phân lập, trong đó :
- swerosid,
- và loganine.
Vỏgỗ của Cây Gáo lá Nauclea latifolia, có chứa :
- những alcaloïdes naucleactonine A và B,
- naucleficine,
- và nauclefidine, đã được phân lập.
▪ Để xác định định lượng của những trích xuất này, phương pháp sau đây được đề nghị :
- Nước / acétonitrile 5%, 10%, 50%, tốc độ dòng chảy 0,7 ml / phút, độ dài sóng phát hiện 245 nm, tổng số thời gian rửa 70 min).
▪ Trong những Cây Gáo lá Nauclea orientalis :
- strictoseamide,
- vincoseamid,
- và glycosides 10-hydroxy-strictosamide của nó,
- và 6`-O-acétylstrictosamide
có thể được tìm thấy.
● Saponines
▪ Hợp chất cơ bản của phần lớn những chất saponines là :
- acide quinovic,
- một triterpène 5 vòng.
Sự khác biệt cấu trúc giữa những saponines đơn giản bao gồm một sự glycoside hóa glycosidation; điều này có nghĩa là mối liên quan giữa chất liên kết glycoside với những đường trong sự hình thành stériques khác nhau.
▪ Trong một trích xuất méthanolique của vỏ Cây Nauclea diderichii, 11 ( mười một ) chất saponines đơn giản có thể tìm được.
Sự xác định định lượng là 4,62% ​​của trích xuất và 0,18% của vỏ .
▪ Hai (2) trong những saponines là :
- ester de l'acide quinovic-3-O-α-L-rhamnosyl (28→1) β-D-glucopyranosyle,
- và acide quinovino-3-O- (β-D-glucopyranosyle). (1→2) β-D-glucopyranoside).
▪ Vỏ của rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia, có chứa những thành phần :
- flavonoïdes,
- alcaloïdes,
- saponines,
- glycosides cardiaques,
- terpénoïdes,
- stéroïdes,
- glucides,
- glycoalcaloïdes :
(3-a-dihydrocadambine, acide cyanhydrique, indolo-quinolizidine (anguistine, angustoline) (Hottellier và al., 1975, Yesufu và al. 2010, Maitera và al., 2011, Egbung và al., 2013).
▪ Vỏ của thân Cây Gáo lá Nauclea latifolia, gồm những thành phần như :
- Alcaloïdes,
- glycosides cardiaques,
- terpènes,
- saponines,
- tanins,
- flavonoïdes,
- anthraquinones,
- stérols,
- glycoalcaloïdes,
- acide cyanhydrique,
- phénols,
- résines,
- polyphénols,
- caroténoïdes,
- limonoïdes,
- xanthonoïdes,
- baume,
- phlobatannins.
(Hotellier và al., 1979, Morah 1995, Maitera và al., 2011, Anowi và al., 2012, Udobre và al., 2012, Egbung và al., 2013, Ikpeme và al., 2013, Ifemeje và al. ., 2014).
Vỏ và gỗ Cây Gáo lá Nauclea latifolia
- Monoterpènes indoliques alcaloïdes-naucleamides A-E. (Shigemori et al., 2003).
▪ Lá Cây Gáo lá Nauclea latifolia, chứa :
- alcaloïdes,
- tannins,
- saponines,
- glycosides,
- anthraquinones,
- glucides,
- flavonoïdes,
- phytates,
- isoflavonoïdes (indicanine B và C),
- phlobatannines,
- cardénolides,
- phénols,
- terpénoïdes,
- glycoside cardiaque
(Borrelli và Izzo, 2001; El-Mahmood và al., 2008) Ahuocha, 2010, Ogueke và al., 2011, Orole và al., 2013, Edet và al., 2013, Balogun và al., 2015, Onu và al., 2015).
▪ Trái Cây Gáo lá Nauclea latifolia, chứa :
- tannins,
- alcaloïdes,
- flavonoïdes,
- saponines,
- phytates,
- glycosides cyanogéniques,
- phosphate,
- anthraquinones,
- coumarines,
- monoterpènes,
- esters d'acides gras :
(acide palmitique, ester éthylique, acide isopalmitique, ester méthylique, acide élaïdique, ester méthylique)
(Fadipe và al., 2013) Eze và Obinwa, 2014, Fadipe và al., 2014, Brown và al., 1997).
▪ Rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia, chứa :
- tanins,
- saponines,
- alcaloïdes,
- terpènes,
- glycosides cardiaques,
- flavonoïdes,
- anthraquinones,
- đường sucres,
- alcaloïdes indoliques :
(strictosamide, vincosamide, pumiloside, glycoside d'acide quinovique),
- phénols.
(Nworgu và al., 2008, Taiwe và al., 2011, Manuela và al., 2013, Bamidele và al., 2014, Antia và Okon, 2014).
Đặc tính trị liệu :
● Hành động điều trị thérapeutiques và đặc tính :
- chống oxy hóa antioxydant
- chống viêm anti-inflammatoire
- chống bệnh sốt rét anti-paludisme
- kháng khuẩn anti-bactérien
như thuốc :
- chống bệnh tiểu đường antidiabétique,
- và chống ký sinh trùng antiparasitaire.
- chống co thắt antispasmodique
- chống siêu vi khuẩn anti-viral
-  chống trầm cảm anti-dépressif
- hạ huyết áp hypotensive
- hạ đường máu hypoglycémique
- bảo vệ gan hépatoprotecteur
Cây Gáo lá Nauclea latifolia nó được sử dụng trong :
- những chi ( chân và tay ) lạnh gây ra bởi những cơn sốt pyrexie,
- chữa trị đau nhức trong những chân và những tay,
- làm giảm viêm phế quản bronchite;
Nó cũng hành động như :
- kích thích stimulant và phục hồi réparatrice,
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- và giảm đau analgésique.
được sử dụng để chữa trị :
- bệnh vàng da jaunisse,
- mất khẩu vị bữa ăn perte d'appétit,
- những bệnh thấp khớp rhumatismes,
- bệnh viêm gan hépatite,
- sốt vàng da fièvre jaune, ( do vi khuẩn nhiệt đới ảnh hưởng đến ganthận gây sốt và vàng da, lây truyền bởi loài muỗi ).
- bệnh tiểu đường diabète,
- và huyết áp cao hypertension.
Cây Gáo lá Nauclea latifolia cũng được sử dụng để chữa trị bệnh đường hô hấp maladies respiratoires như là :
- bệnh lao tuberculose,
- hen suyễn asthme,
như :
- chống trầm cảm antidépresseur,
- tẩy xổ purgatif,
trong chữa trị sự co thắt sớm contraction prématurée ở những phụ nữ mang thai femmes enceintes và để :
- gây ra sẩy thai avortement.
Vasileva, 1969, Oye, 1990; Deeni và Hussain, 1991; Lamidi và al., 1995; Adjanohoun và al., 1996; Pedro và Antonio, 1998; Arbonnier, 2000; Gidado và al .; 2005; Okwori và al., 2008; Duke, 2008.
▪ Rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh sốt rét paludisme,
như một thuốc bổ tonique và phương thuốc chống lại :
- sốt fièvre,
- những đau răng maux de dents,
- sâu răng caries dentaires,
- miệng nhiễm  khuẩn bouche septique,
- ho toux,
- những rối loạn dạ dày troubles gastriques,
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- chữa trị bệnh lậu gonorrhée,
- và vết thương loét plaie.
▪ Thân Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng trong chữa trị :
- đau nhức dạ dày douleur d'estomac,
- táo bón constipation,
- sốt fièvre,
- tiêu chảy diarrhée.
hành động như :
- thuốc hạ huyết áp antihypertenseur,
- chống ký sinh trùng antiparasitaire,
- chống tiêu chảy antidiabétique,
cũng như :
- tác nhân lợi tiểu agents diurétiques,
- và diệt trùng giun anthelminthiques.
cũng đóng một vai trò trong chữa trị :
- bệnh vàng da jaunisse,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- sốt rét paludisme,
- sự co thắt sớm contraction prématurée ở những phụ nữ mang thai femmes enceintes,
- và dùng như kích thích tình dục aphrodisiaque.
Deeni và Hussain, 1991; Esimore và  al., 2003; Etukudoh, 2003; Ademola và al., 2007; Okwori và al., 2008; Duke, 2008.
▪ Vỏ Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh sốt rét paludisme,
- những vết thương loét plaies,
- ho toux,
- và bệnh lậu gonorrhée.
Vỏ Cây Gáo lá Nauclea latifolia dùng như thuốc bổ tonique và là phương thuốc chống :
- sốt fièvre,
- những đau răng maux de dents,
- những sâu răng caries dentaires,
- miệng nhiễm khuẩn bouche septique,
và những rối loạn của dạ dày estomac như là :
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie.
Nó cũng được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh lậu gonorrhée,
- và những vết thương loét plaie,
cũng như trong chữa trị :
- sự co thắt sớm contraction prématurée ở những phụ nữ mang thai enceintes
Oye, 1990; Lamidi và  al., 1995, Pedro và Antonio, 1998; Duke, 2008; Isah và al., 2012.
Vỏ của rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng như :
- thuốc bổ tonique,
- hạ sốt antipyrétique,
- chống trầm cảm antidépresseur,
- và giảm đau analgésique.
▪ Lá Cây Gáo lá Nauclea latifolia hoạt động như thuốc :
- chống bệnh sốt rét antipaludique,
- chống bệnh tiểu đường antidiabétique,
- và hạ sốt antipyrétique.
được sử dụng trong chữa trị :
- những đau dạ dày maux d'estomac,
- táo bón constipation,
- sốt fièvre,
- những vết thương loét plaies,
- lo âu anxiété,
- trầm cảm dépression,
- và động kinh épilepsie.
Abbiw, 1990; Pedro và  Antonio, 1998; Esimore và al., 2003; Orwa và al., 2009
có tiềm năng chửa trị :
- bệnh kiềt lỵ dysenterie,
- và tiêu chảy diarrhée (Etukudoh, 2003).
▪ Trái Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng trong chữa trị :
- ho toux,
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- những đau bụng quặn tiêu chảy coliques abdominales,
- ói mữa vomissements,
- những rối loạn kinh nguyệt troubles menstruels,
và sự nhiễm trùng bởi những siêu vi khuẩn virus của sự suy giảm miễn nhiễm immunodéficience ở người.
Gill, 1992; Hussein và al., 1999; Orwa và al., 2009.
▪ Gỗ :
Kích thích stimulant và thuốc bổ tonique Orwa và al., 2009
Kinh nghiệm dân gian :
Những thảo dược, Cây Gáo lá Nauclea latifolia đã được sử dụng rộng rãi trong những văn hóa khác nhau trong suốt lịch sử dài và sự sử dụng luôn là phương tiện chủ yếu để chữa trị y học  médical thérapeutique (Deeni và Hussain, 1991).
▪ Trong nhiều nước Phi Châu africains, Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng rộng rãi như phương thuốc chống :
- tiêu chảy diarrhée,
- đau nhức douleur,
- những sâu răng caries dentaires,
- miệng nhiễm khuẩn bouche septique,
- và bệnh tiểu đường diabète (Gidado và al., 2004).
▪ Những sự sử dụng khác bao gồm chữa trị :
- bệnh sốt rét paludisme,
- phong cùi lèpre,
- suy nhược débilité,
- huyết áp cao hypertension,
- những rối loạn dạ dày ruột troubles gastro-intestinaux,
- dòng chảy kinh nguyệt écoulement menstruel kéo dài,
- và bệnh của giấc ngủ maladie du sommeil (Kerharo, 1974, Elujoba, 1995).
▪ Trong Tây Phi Afrique de l'Ouest và trong nam Afrique du Sud, những nước ngâm trong nước sôi infusions và nước nấu sắc décoctions của vỏ và của Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- những đau dạ dày maux d'estomac,
- bệnh sốt fièvre,
- tiêu chảy diarrhée,
và những ký sinh trùng parasites như là :
- những tuyến trùng nématodes ở những con người và những động vật,
và những bệnh nhiệt đới như :
- bệnh sốt rét paludisme. Deeni và Hussain, 1991.
▪ Trong Tây Phi Afrique de l'OuestTrung Phi Centre, Cây Nauclea diderichii được sử dụng cho những đặc tính của nó :
- thuốc trừ sâu insecticides,
- và chống ký sinh trùng antiparasitaires.
▪ Trong Côte d'Ivoire, những nước ngâm trong nước đun sôi infusions và nước nấu sắc décoctions của thânrễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng chống lại :
- bệnh sốt rét paludisme
bởi những thầy lang ( người chữa bệnh ) truyền thống.
▪ Ở Gabon, ở Congo và ở Nigeria, những nước ngâm trong nước đun sôi infusions của vỏ được dùng chống lại :
- sốt fièvres.
Congo, Cây Gáo lá Nauclea latifolia dùng như thuốc :
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- và giảm đau analgésique,
được sử dụng trong chữa trị :
- chứng suy nhược tình dục asthénie sexuelle,
- tiêu chảy diarrhée
Tona et al., 2000.
▪ Ở Kinshasa, của RD Congo những trích xuất và những chế phẩm phối hợp với những thảo dược khác được áp dụng chống lại :
- bệnh tiêu chảy diarrhée.
▪ Trong y học truyền thống nigériane, vỏ thân và những rễ của Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng chống lại :
- bệnh sốt fièvre,
- vàng da jaunisse,
- bệnh sốt rét paludisme,
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- huyết áp cao hypertension,
- và bệnh tiểu đường diabète (Okwori và al., 2008).
▪ Trong miền Bắc Nigeria, ngâm trong nước lạnh infusion froide của vỏ thân Cây Gáo lá Nauclea latifolia được xem như :
- lợi tiểu diurétique,
- và diệt trùng giun anthelminthique (Ademola và al., 2007).
▪ Những FulanisNigeria sử dụng trích xuất của Cây Gáo lá Nauclea latifolia để :
- diệt giun sán vermifuger thường xuyên ở những động vật (Adebowale và al., 1993).
▪ Những rễ và những thành phần chánh của Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng trong chữa trị những bệnh đường hô hấp respiratoires như là :
- bệnh lao tuberculose,
- hen suyễn asthme,
- viêm phế quản bronchite,
- ho toux,
- và cảm lạnh rhume
trong quốc gia Niger (Abdullahi và al., 2007).
▪ Ở Kano (Nigéria), Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng như thanh gậy để nhai bâton à mâcher và như phương thuốc chống :
- đau dạ dày maux d'estomac,
- và bệnh lao tuberculose (Deeni & Hussain 1991).
▪ Nữ hộ sinh truyền thống ( Bà mụ ) ở Nigeria được sử dụng trích xuất éthanolique của vỏ thân và rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia để :
- làm ngưng sự co thắt sớp contraction prématurée
ở những phụ nữ mang thai femmes enceintes (Duke, 2008).
▪ Ở Hong, trong tiểu bang Adamawa, những pha chế concoctions, những nước ngâm trong nước đun sôi infusions và những nước nấu sắc décoctions với cơ bản của vỏ thân và rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng chống lại :
- bệnh vàng da jaunisse,
- sốt fièvre,
- những đau dạ dày maux d'estomac,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie (Maitera và al., 2011).
▪ Trong Tiểu bang Benue, nước nấu sắc décoction của Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- bệnh sốt fièvre,
- chứng bệnh nhiễm ty trùng filariose,
- và bệnh thủy đậu varicelle
trong khi vỏ thân Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- chứng vô sinh infertilité.
▪ Trong số những Ibibios của Nam-Nam Sud-Sud của Nigeria, vỏ thân Cây Gáo lá Nauclea latifolia, hoặc là trong nước ngâm trong nước đun sôi infusion hoặc trong nước nấu sắc décoction, được sử dụng như :
- chống bệnh sốt rét antipaludique,
- hạ sốt antipyrétique,
- và kích thích tình dục aphrodisiaque.
▪ Những người dân bản địa của tiểu bang Abia ở Đông-Nam của Nigéria sử dụng rộng rãi Cây Gáo lá Nauclea latifolia để quản lý và chữa trị :
- những loét ulcères dạ dày-ruột gastro-intestinaux (Alaribe và al., 2014).
Những bộ phận của Cây Gáo lá Nauclea latifolia thường được quy định theo truyền thống như phương thuốc chống :
- bệnh tiểu đường diabète ngọt (Akabue et Mittal, 1982, Boye, 1990).
Hầu như tất cả những bộ phận của Cây Gáo lá Nauclea latifolia là lợi ích trong chữa trị của những bệnh (Arbonnier, 2000).
▪ Tuy nhiên, những bộ phận thường được sử dụng là những rễ, tiếp theo sau là thân, vỏ và những Cây Gáo lá Nauclea latifolia.
▪ Ở Soudan, Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- những vết thương loét plaies,
- và bệnh lậu gonorrhée Irvine, 1961.
▪ Ở Ghana, Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- những vết thương loét plaies,
- và bệnh lậu gonorrhée, Irvine, 1961.
▪ Ở Côte d'Ivoire, Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- những vết thương loét plaies,
- và bệnh lậu gonorrhée Irvine, 1961.
▪ Ở Nigéria Cây Gáo lá Nauclea latifolia đưọc sử dụng để chữa trị :
- những vết thương loét plaies,
- và bệnh lậu gonorrhée,
- sốt fièvre,
- bệnh vàng da jaunisse,
- sốt rét paludisme,
- bệnh sởi rougeole,
- huyết áp cao hypertension,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- bệnh tiểu đường diabète,
- những bệnh đường hô hấp maladies respiratoires,
- bệnh của giấc ngủ maladie du sommeil,
- và dòng chảy kinh nguyệt kéo dài flux menstruel prolongé.
Cây Gáo lá Nauclea latifolia cũng dùng cho :
- lợi tiểu diurétique,
- diệt trùng giun anthelminthique,
- chống trầm cảm antidépresseur,
- và giảm đau analgésique.
Irvine, 1961; Elujoba, 1995; Abdullahi và al., 2007; Okwori và al., 2008.
▪ Ở Guinée Cây Gáo lá Nauclea latifolia hoạt động như :
- thuốc bổ tonique,
- chất kích thích stimulant,
- và phục hồi réparatrice.
Nó cũng được sử dụng trong chữa trị của những bệnh nhiễm trùng infectieuses, bao gồm :
- những bệnh lây truyền qua đường tình dục maladies sexuellement transmissibles,
Cournal và  al., 1998; Magassouba và  al., 2007.
▪ Ở Cameroun Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- bệnh sốt rét não cộ paludisme cérébral,
- thâm hụt não bộ déficit cérébral,
- rối loạn hành vi tâm tánh của những trẻ em phát triể chậm tâm thần enfants retardés mentaux,
- chứng động kinh épilepsie,
- lo âu anxiété,
- trầm cảm dépression,
- bệnh vàng da jaunisse,
- bệnh sốt vàng da fièvre jaune,
- bệnh thấp khớp rhumatismes,
- đau bụng douleurs abdominales,
- viêm gan hépatite,
- mất khẩu vị bữa ăn perte d'appétit,
phương thuốc chống :
- đau nhức thần kinh douleur neuropathique,
và chữa trị :
- những đau đầu maux de tête,
- đau nữa đầu migraines,
- những viêm đau nhức douleurs inflammatoires,
- và co giật convulsions.
Adjanohoun và al., 1996; Taiwe và  al., 2013.
Mali, Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng để chữa trị :
- những đau bụng douleurs abdominales,
- và bệnh sốt rét paludisme Maiga và al., 2005.
Nghiên cứu :
● Hoạt động chống ký sinh trùng panosomia antitrypanosomienne :
Hoạt động chống ký sinh trùng trypasonoma antitrypanosomienne trong ống nghiệm của trích xuất méthanoliques và nước của vỏ thân của Cây Gáo lá Nauclea latifolia đã được đánh giá trên loài ký sinh trùng Trypanosoma congolense (Maikai và Kobo, 2008).
Trong nghiên cứu này, máu thu được từ chuột bị nhiễm trùng mạnh với Tripanosoma congolense (107) đã được ủ với những trích xuất méthanoliques và nước 20 mg, 10 mg và 5 mg / ml và DiminivetR (một thuốc tiêu chuẩn ) ở 10 mg, 200 và 50 μg / ml trong một tấm đĩa với 96 vi chuẩn microtitre.
Những trích xuất có một hoạt động chống ký sinh trùng tripanosoma antitrypanosomienne ở 20 mg / ml bởi so với thuốc tiêu chuẩn ở 10 mg / ml.
Làm tinh khiết hơn những trích xuất có thể dẫn đến phân lập những hợp chất tinh khiết với một hoạt tính gia tăng như thuốc tiêu chuẩn.
● Hiệu quả hạ đường máu hypolipidémique :
Trích xuất éthanol và những phần đoạn của nó đã đánh giá trong nghiên cứu này để làm sáng tỏ hiệu quả của nó trên hồ sơ chất béo lipidique của những chuốt bệnh tiểu đường diabétiques sau một sự quản lý dùng hằng ngày trong một thời gian 2 tuần lễ (Edet và al., 2013).
Những kết quả cho thấy rằng nó có một sự giảm đáng kể (p <0,05) của những nồng độ HDL-cholestérol và tổng số cholestérol (total) trong tất cả những nhóm chữa trị.
Những sự ghiảm không đáng kể (p> 0,05) trong những mức độ triglyceride TG đã được ghi nhận trong tất cả những nhóm chữa trị trong khi đó những mức độ của VLDL-C giảm một cách đáng kể (p <0,05) trong những nhóm chữa trị bởi glibenclamide, phần đoạn méthanolique (100 mg / kg), butanol và phần đoạn éthyle d'acétate.
Ngoài ra, những phần đoạn của n-hexane và acétate d'éthyle cũng như trích xuất éthanol đã cho một hy vọng trong việc ngăn chận mỡ máu cao hyperlipidémie kết quả của bệnh tiểu đường ngọt diabète sucré ở những chuột bệnh tiểu đường diabétiques.
● Hiệu quả trên hệ thống tim mạch cardiovasculaire :
Akpanabiatu và al., (2005) đã khảo sát hiệu quả của trích xuất Cây Gáo lá Nauclea latifolia trên hồ sơ chất béo lipidique và hoạt động tim mạch cardiovasculaire của những loài chuột rats.
Những kết quả cho thấy rằng trích xuất éthanol của Cây Gáo lá Nauclea latifolia có một hành động giản mạch vasodilatatrice trên động mạch chủ aorte và những hồ sơ chất béo lipidiques của những chuột thí nghiệm không bị ảnh hưởng.
Hơn nữa, sự gia tăng của ion K + có thể hớp phần vào hiệu quả giản mạch vasodilatateur của Cây Gáo lá Nauclea latifolia.
● Hoạt động hạ cholestérole hypocholestérolémique :
Omale và Ugede, 2011 đã nghiên cứu hiệu quả giảm hạ cholestérol máu hypocholestérolémiant của trái Cây Gáo lá Nauclea latifolia cũng như độc tính toxicité của nó và hiệu quả của nó trên huyết sắc tố hémoglobine, số lượng của hồng huyết cầu globules rouges và bạch huyết cầu globules blancs ở những chuột albinos.
Những động vật thí nghiệm đã đuợc nuôi với thức ăn thương mại bổ sung 40, 60 và 80% trái Cây Gáo lá Nauclea latifolia, trong khi những nhóm kiểm chứng chỉ được nuôi bằng thức ăn thương mại ở những chuột hằng ngày trong thời gian 28 ngày.
Mẩu vật của trái méthanolique thô làm giảm hạ cholestérol huyết tương plasmatique ở 40, 60 và 80% của bổ sung thực phẩm nghiên cứu trong chức năng của liều.
Nó cũng có một sự gia tăng phụ thuộc vào liều của những bạch huyết cầu globules blancs ở 40, 60 và 80% của bổ sung thực phẩm (4,23 ± 0,01, 4,38 ± 0,01, 4,40 ± 0,03 (X109 / L), tương ứng ).
Huyết sắc tố hémoglobine và số lượng hồng huyết cầu globules rouges giảm theo tĩ lệ với liều. CL50 của trích xuất thực vật là 1240,73 μg / ml cho ra một độc tính thấp toxicité inférieure bởi so sánh với tiêu chuẩn tham chiếu, dichromate de potassium (CL50 = 176,86 mg / ml).
Nghiên cứu cho thấy rằng Cây Gáo lá Nauclea latifolia có một tiềm năng giảm hạ cholesterol hypocholestérolémiant (85,20 ± 0,05 mg / dl bởi so với nhóm đối chứng 136,25 ± 0,005 mg / dl) và tương đối không độc hại non toxique (CL50 = 1240,73 μg / ml).
● Hoạt động chống co giật anticonvulsivante, giải lo âu anxiolytique và an thần sédative :
Ngo Bum và al., (2009) đã báo cáo hoạt động chống co giật anticonvulsivante, giải lo âu anxiolytique và an thần sédative của vỏ của rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia Smith (Rubiaceae) ở chuột.
Trong mô hình nghiên cứu, sự co giật convulsions gây ra bởi sốc điện électrochoc tối đa, pentylenetetrazol và strychnine;
Hành vi quay vòng gây ra bởi thành phần N-méthyl-D-aspartate; mê cung labyrinthe cao hơn; thân nhiệt tăng cao hyperthermie gây ra bởi sự căng thẳng stress; hiện trường champ mở; và giấc ngủ gây ra bởi thuốc diazépam đã được đánh giá.
Nước nấu sắc décoction của vỏ rễ của Cây Gáo lá Nauclea latifolia gia tăng mạnh tổng số thời gian giấc ngủ  gây ra bởi thuốc diazépam.
Nó cũng bảo vệ những chuột chống lại tối đa những cơn động kinh crise épilepsie gây ra bởi choc điện électrochoc, pentylenetetrazolstrychnine.
Ngoài ra, hành vi quay vòng gây ra bởi N-méthyl-D-aspartate đã được ức chế.
Trích xuất đối kháng antagonise, theo cách phụ thuộc vào liều, thân nhiệt tăng cao hyperthermie gây ra bởi sự căng thẳng stress và nhiệt độ cơ thể giảm.
Trong mê cung labyrinthe tăng cao hơn, Cây Gáo lá Nauclea latifolia đã :
- gia tăng số lượng nhập vào,
- tĩ lệ phần trăm nhập vào,
- và tĩ lệ phần trăm thời gian của những cánh tay mở ra,
- và giảm hành động dựng đứng,
- nghiên lệch inclinaison cái đầu,
- và tĩ lệ phần trăm thời gian trong những cánh tay khép lại.
Trong thử nghiệm hiện trường mở rộng, nó gia tăng sự tăng trưởng và giảm hành động dựng đứng và đi cầu défécation.
Những tác giả kết luận rằng nước nấu sắc décoction của Cây Gáo lá Nauclea latifolia, được sử dụng trong y học truyền thống ở Cameroun để chữa trị sốt fièvre, bệnh sốt rét paludisme, chứng mất ngủ insomnie, lo âu anxiété và chứng động kinh épilepsie dường như có những đặc tính an thần sédatives, chống co giật anticonvulsivantes, giải lo âu anxiolytiques và hạ sốt antipyrétiques ở những chuột.
● Hoạt động chống siêu vi khuẩn antivirale :
Manuela và al., (2013) đã báo cáo hoạt tính trong ống nghiệm in vitro của siêu vi khuẩn chống siêu vi khuẩn chống mụn phỏng ghẻ phỏng đơn giản anti-herpès simplex của trích xuất thô CH2CL2 / MeOH của rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia.
Hoạt động chống anti-HSV-2 đã được định liều lượng trong ống nghiệm in vitro bởi những thử nghiệm của sự giảm của mảng bám và năng xuất của virus và cơ chế hành động chánh đã được nghiên cứu bởi những thử nghiệm thuốc diệt virus virucides và thời gian xét nghiệm bổ sung.
Kết quả cho thấy rằng trích xuất thô Cây Gáo lá Nauclea latifolia ức chế cho cả hai những cũng nhạy cảm souches sensibles acyclovir và đề kháng với chủng HVS-2, với một nồng độ chất ức chế sản xuất 50% sự giảm trong đĩa hình thành CI50 giá trị 5,38 μg / ml và 7,17 μg / ml tương ứng.
Trích xuất được cho là hoạt động mạnh nhất khi được bổ sung sau khi nhiễm trùng infection, với một IC50 là 3,63 ug / ml.
Những thử nghiệm thuốc diệt siêu vi khuẩn virucides đã loại trừ khả năng có thể có hoạt động chống siêu vi khuẩn antivirale của trích xuất được thực hiện bởi một bất hoạt inactivation trực tiếp của hạt siêu vi khuẩn particule virale.
Nó vẫn còn tiếp tục làm việc để phân lập nguyên hoạt chất và làm rõ cơ chế hành động hoặc để phát triển một thuốc thảo dược phyto-médicament từ trích xuất của Cây Gáo lá Nauclea latifolia CH2CL2 / MeOH.
Nó cũng cho thấy rằng những trích xuất éthanoliques và nước của Cây Gáo lá Nauclea latifolia có một hoạt động chống siêu vi khuẩn antivirale trên siêu vi khuẩn virus của bệnh Newcastle (loại hoang ) trong những trứng gà có phôi poule embryonnés (Onu và al., 2015).
Trích xuất éthanoliquecủa Cây có một độc tính toxicité lớn và những hiệu quả chống siêu vi khuẩn antiviraux hơn trích xuất của nước nóng.
Những tác giả khác cho thấy rằng Cây Gáo lá Nauclea latifolia có thể được sử dụng trong phòng ngừa prophylaxie bệnh Newcastle.
● Hiệu quả dược lý thần kinh neuropharmacologique :
Amos và al. (2005) đã đánh giá những hiệu quả dược lý thần kinh neuropharmacologiques của trích xuất nước của vỏ rễ của Cây Gáo lá Nauclea latifolia ở những loài gậm nhấm rongeurs.
Những hiệu quả trên hoạt động chuyển động tự phát motrice spontanée (AMS), hành vi tâm tánh khám phá comportement exploratoire, thời gian của giấc ngủ của thuốc an thần pentobarbital, hành vi khuôn mẫu stéréotypique gây ra bởi thuốc thuốc apomorphine và sự phối hợp chuyễn động (hiệu ứng rota-rod, phương pháp thử nghiệm của hoạt động chuyển động của loài gậm nhấm) đã được nghiên cứu.
Trích xuất (50-200mg / kg, p.o.) đáng kể (P <0,05) làm giảm SMA và hành vi tâm tánh khai thác comportement exploratoire ở những chuột và thời gian ngủ kéo dài của thuốc pentobarbital ở những chuột trong chức năng của liều.
Trích xuất cũng làm giảm đáng kể cường độ của hành vi khuôn mẫu stéréotypie gây ra bởi một hợp chất tinh thể nhầy và trong để chữa trị bệnh Parkinson apomorphine phụ thuộc liều ở những chuột, nhưng không có hiệu quả nào trên sự phối hợp chuyển động như xác định bởi hiệu xuất trên hiệu ứng rota-rod.
Những tác giả cho thấy rằng có sự hiện diện của chất hoạt động tâm thấn psychoactives trong trích xuất nước của vỏ rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia có bản chất an thần sédative.
Nghiên cứu khác để xác định và phân lập những thành phần hoạt động đang được tiến hành.
Edagha và al., (2015) đã khảo sát hiệu quả của trích xuất éthanolique của Cây Gáo lá Nauclea latifolia và Cây Cỏ Chua lè Emilia sonchifolia (dttd) trên sự lo lắng anxiété, lo sợ peur và chuyển động locomotion ở những chuột bị nhiễm trùng bởi ký sinh trùng Plasmodium berghei berghei bằng cách sử dụng một mê cung labyrinthe mở rộng và mê cung tăng cao.
Những kết quả thu được cho thấy rằng tần số của chải lông toilettage và tần số kéo dài là thấp hơn đáng kể (p <0,001) trong những nhóm tiền chữa trị so với những nhóm kiểm chứng.
Chữa trị kết hợp trích xuất trong nhóm 5 là giảm đáng kể (p <0,001) bởi so với nhóm ký sinh trùng không được chữa trị.
Thời gian vượt qua của những đường dây là thấp hơn đáng kể (p <0,001) trong những nhóm 2 và 4, nhưng cao đáng kể hơn trong những nhóm 3 và 5 bởi so với nhóm kiểm chứng.
Nghiên cứu này kết luận rằng những hai trích xuất là có khả năng làm giảm sợ peur và lo âu anxiété ở những chuột nhiễm ký sinh trùng parasitées trong khi gia tăng chuyển động locomotion và hoạt động thăm dò của nó.
● Chống trầm cảm Antidépresseur, thư giãn cơ myorelaxant và hoạt động chống lo âu anti-anxiété :
Ngo Bum và al., (2010) đã báo cáo hoạt động hành vi tâm tánh comportementale của nước nấu sắc décoction của những rễ của Cây Gáo lá Nauclea latifolia ở chuột.
Trong nghiên cứu này, của những mô hình cho sự suy thoái, một sự liên hợp paradigmes trong cơ thể sinh vật sống in vivo, được biết  một thử nghiệm của bắt buộc bơi lội, một thử nghiệm của sợi dây ngang và một thử nghiệm tấm đỉa khoan lỗ được sử dụng để phát hiện những đặc tính chống trầm cảm antidépressives, thư giản cơ myorelaxantes và chống lo âu anti-anxiété trong những mô hình động vật.
Sự quan hệ giữa hành động dược lý thần kinh neuropharmacologique của trích xuất và những thay đổi trong nồng độ của GABA trong não cũng đã được khảo sát.
Trích xuất được quản lý dùng với một liều của 16, 40, 86, 160 và 360 mg / kg bởi đường uống 1 giờ trước khi thử nghiệm.
Kết quả cho thấy rằng trích xuất gây ra một sự giảm tình trạng bất động một cách tương tự với thuốc fluoxétine, với một sự giảm đáng kể của phần trăm của thời gian đi qua trong hành vi tâm tánh bơi lội.
Trích xuất cũng cho thấy một hoạt động thư giản cơ myorelaxante trong thử nghiệm đường dây ngang fil horizontal và gia tăng một cách đáng kể số lượng và thời gian của những nhúng đầu xuống trong thử nghiệm của những lỗ khoan.
Sự khám phá này cho thấy rằng trích xuất có những đặc tính chống trầm cảm antidépressives, thư giản cơ myorelaxantes và chống lo âu anti-anxiété.
Trích xuất có thể có tiềm năng hành động bởi kích hoạt GABAergique và / hoặc bằng cách điều biến những mức độ sérotoninergiques ( là hội chứng sérotonin tác dụng có liên quan đến sự phá vở sự cân bằng hóa học của hệ thống thần kinh trung ương do sự dư thừa chất serotonin trong não ) trong hệ thống thần kinh trung ương système nerveux central.
Nghiên cứu khác là cần thiết để khẳng định cơ chế hành động này.
● Hiệu quả chống bệnh tiểu đường antidiabétique :
Gidado và al., 2009 đã nghiên cứu những hiệu quà chống bệnh tiểu đường antidiabétiques và những hiệu quả độc hại toxiques có thể của trích xuất éthanolique của Cây Gáo lá Nauclea latifolia ở những chuột bệnh tiều đường diabétiques gây ra bởi streptozotocine.
Những liếu của trích xuất 100, 200 và 400 mg / kg trên trọng lượng cơ thể đã được quản lý uống ở những chuột bệnh tiểu đường diabétiques gây ra bởi STZ hàng ngày trong thời gian 45 ngày.
Trích xuất cho thấy một hiệu quả hạ đường máu hypoglycémique đáng kể mà không liên quan với liều dùng.
Những chỉ số của những chức năng gan hépatiques và thận rénales được nghiên cứu không ảnh hường về mặt thống kê bởi sự quản lý dùng của trích xuất.
Trích xuất éthanolique của lá Cây Gáo lá Nauclea latifolia cũng thể hiện một hành động chống bệnh tiểu đường antidiabétique ở những chuột bệnh tiểu đường diabétiques gây ra bởi STZ với một độc tính toxicité tối thiểu.
Antia và Okon, 2014 cũng đã báo cáo hoạt động chống bệnh tiểu đường antidiabétique của trích xuất éthanolique của rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia ở những chuột bệnh tiểu đường diabétiques gây ra bởi alloxane sau một liều duy nhất (nghiên cứu ở giai đoạn cấp tính ) và một chữa trị kéo dài (nghiên cứu mãn tính ).
Những chuột bệnh tiểu đường diabétiques đã được chữa trị với trích xuất của rễ (150 - 450 mg / kg) và đường máu glycémie (BGL) đã được đo lường bằng cách sử dụng một đường kế glucomètre.
Chữa trị của những chuột bệnh tiểu đường alloxan diabétiques alloxan với trích xuất của rễ (150 - 450 mg / kg, po) dẫn đến một sự giảm đáng kể (P <0,05 - 0,001) của những nống độ đường máu lúc đói glycémie à jeun ở những chuột bệnh tiểu đường diabétiques trong nghiên cứu cấp tính aiguë (7 giờ) và một chữa trị kéo dài (2 tuần ) của một cách phụ thuộc vào liều dùng dose-dépendante so sánh với liều thuốc tham khảo, glibenclamide (10 mg / kg của trọng lượng cơ thể, po).
Nghiên cứu cho thấy rằng trích xuất rễ Cây Gáo lá Nauclea latifolia có một hiệu quả chống bệnh tiểu đường antidiabétique trên những chuột bệnh tiểu đường diabétiques gây ra bởi chất alloxane,  có thể được khai thác trong quản lý bệnh tiểu đường diabète.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Lợi ích và những vấn đề của  của NaucLea hoặc Pêcher Africain
Họ Rubiaceae có nhiều lợi ích :
- chống bệnh sốt rét anti-paludique,
- kháng sinh antibiotique,
- chống ký sinh trùng leischmania anti-leischmanoise,
- viêm gan hépatite.
Đặc tính giảm đau antalgique với thành phần Tramadol được bảo đảm của nguồn trong kỹ nghệ nhưng đặc biệt, sự hiện diện của nó trong tự nhiên không bảo đảm là không hại trong sự sử dụng, thậm chí nó được cho rằng 20 gr của rễ đại diện cho 1 viên thuốc Tramadol.
Những chống chỉ định và tương tác của Tramadol phải được xem lại.
Một số nhất định trở ngại, là những dấu hiệu khác có thể liên quan đến quá liều vốn có với một sản phẩm của hành động của loại thuốc phiện morphinique
● Mang thai và cho con bú :
- gây độc phôi nhì fétotoxicity.
● Hiệu quả không mong muốn.
▪ Thần kinh Neurologique:
- Đặc biệt ở những đối tượng lớn tuồi, nhầm lẫn confusion, ảo giác hallucination, mê sảng délire, và co giật convulsion
- Nhức đầu Céphalée, buồn ngủ Somnolence, chóng mặt vertiges, rối loạn sự chú ý troubles de l’attention ( lái xe conduite automobile)
▪ Tim Cardiaques :
- Hạ huyết áp động mạch Hypotension artérielle
▪ Phản ứng dị ứng Réaction Allergique, nổi ban Rash, phù nề oedème de Quincke, sốc choc
▪ Phụ thuộc với những vấn đề lâm sàng của việc cai sữa cliniques du sevrage.
Ứng dụng :
●Ứng dụng y học :
Vỏ của thân Cây Gáo lá Nauclea latifolia chứa thành phần tramadol, một chất giảm đau analgésique dưới hình thức tự nhiên.
Cây Gáo lá Nauclea latifolia rất được sử dụng ở Nigeria đặc biệt trong Tây-nam Nam do nhiều đặc tính điểu trị của nó.
▪ Những nhánh nhỏ được sử dụng như thanh gậy nhỏ để nhai bâtonnets à mâcher (Burkil, 1985, Esimore và al., 2003).
▪ một thuốc nhuộm vàng thu được từ những rễ.
Rễ cũng được nhai như thanh gậy nhỏ để nhai bâton à mâcher (Gill, 1992).
▪ Những trái Cây Gáo lá Nauclea latifolia đôi khi được sử dụng trong chữa trị :
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
- và bệnh kiết lỵ dysenterie (Reitman và al., 1957).
▪ Ngoài ra, thảo dược được sử dụng trong chữa trị :
- những bệnh của giấc ngủ maladie du sommeil,
- và dòng chảy kinh nguyệt kéo dài écoulement menstruel prolongé (Elujoba, 1995).
Cây Gáo lá Nauclea latifolia được biết dưới tên «Cây Quinin Phi Châu Africa quinquina» hoặc «Africa quinine» do hoạt động :
- chống bệnh sốt rét antipaludéenne của nó đã được báo cáo (Abbiw 1990).
● Sử dụng khác của những bộ phận của Cây Gáo lá Nauclea latifolia:
• Những trái Cây Gáo lá Nauclea latifolia được tiêu dùng như thực phẩm và cũng được sử dụng để chữa trị :
- ho toux.
• Cây cho những bóng mát và che phủ.
• Những rễ cho một thuốc nhuộm màu vàng.
• Những nhánh được sử dụng như :
- một thanh gậy để nhai bâtonnets à mâcher.
Cây Gáo lá Nauclea latifolia là một loài thích hợp cho hệ thống trồng cây để bảo tồn và ổn định của những đất.
▪ Những lá Cây Gáo lá Nauclea latifolia được sử dụng như rơm phủ paillis.
Gỗ của Cây Gáo lá Nauclea latifolia được đề kháng với loài mối termites và được sử dụng như một phần trong cuộc sống trong những trang trại.
Gổ cũng được sử dụng để làm nhiên liệu.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Sự sử dụng không y học :
Cây Gáo lá Nauclea latifolia được biết cho những áp dụng không y học.
▪ Vitamine và những kết quả tức khắc cho thấy một tiềm năng của những bộ phận của cây như thành phần thực phẩm cho động vật .
▪ Những trái của Cây Gáo lá Nauclea latifolia là giàu thành phần vitamine C và điều này làm cho nó trở thành một nguồn tốt của nước ép jus của trái (Amoo và Lajide, 1999).
▪ Những trái là nguồn chủ yếu của thực phẩm cho :
- những loài khỉ đầu chó babouins, gia súc bétail, những loài bò sát reptiles, những loài chim oiseaux và con người (Omale và Ugbede, 2011).
▪ Những loài khỉ đầu chó babouins ăn và phát tán những hạt.
▪ Những gia súc ăn những chồi non và những . ▪ Ở Soudan, những trái chín Cây Gáo lá Nauclea latifolia được tiêu dùng và những thức uống ngọt được chế biến từ những trái trong khi những trái quá chín đôi khi được sấy khô và một bột được chế biến từ chúng và được sử dụng như căn bản cho những thức uống có khí gaz (Abdelmuti, 1991).
▪ Những hoa đầu được nấu chín ăn như rau xanh légume.

Nguyễn thanh Vân