Tâm sự

Tâm sự

samedi 24 mars 2018

Rong Mứt - Nori

Nori
Rong Mứt
Porphyra umbilicalis (L.) Kütz.,
Bangiaceae
Đại cương :
Danh pháp đồng nghĩa Heterotypic Synonym(s)
- Ulva umbilicalis Linnaeus 1753
- Ulva umbilicata S.F.Gray 1821
- Ulva latissima var. umbilicalis (Linnaeus) C.Agardh 1823
- Porphyra laciniata var. umbilicalis C.Agardh 1829
- Porphyra umbilicata Ruprecht 1850
- Porphyra umbilicalis (Linnaeus) J.Agardh 1883
- Wildemania laciniata (Lightfoot) DeToni 1892
- Wildemania umbilicalis (Linnaeus) De Toni 1897
Danh pháp thông thường :
( như Nori Rong mứt Porphyra umbilicalis Kützing)
Anh English :
- Laverbread (Ohmi 1968),
- Purple laver, Sloak, Slook, Laver (Madlener 1977),
- Tough Laver (Bunker và al. 2010).
Pháp French :
- Laitue rouge (Boisvert 1984).
Nhật Japanese :
- Chishima-kuronori (Arasaki & Arasaki 1983),
- Nori (McConnaughey 1985).
Bồ đào Nha Portuguese :
- Folhuda (Morton và al., 1998).
Tên thông thường dùng trong thương mại, thường cho những rong biển ăn được :
- purple laver {Anh Eng};
- chishima-kuro-nori {Nhật Jap};
- laver {Anh Eng};
- porphyrtang {Đức Ger};
- pink laver {Anh Eng};
◦ Trong hầu hết của những nước Âu Châu, người ta gọi Nori như những loài rong khác ăn được của nấu ăn Nhật Bản .
Trong Anh quốc Grande-Bretagne, người ta gọi là laver (tiếng Anh anglais) hoặc lawr/lafwr (trong tiếng gallois)
◦ Tại Việt Nam, được gọi là Rong Mứt.
◦ Nori Rong mứt Porphyra gần khoảng 133 loài phân bố trên khắp thề giới, trong đó chỉ có sáu (6) loài được biết như :
- Porphyra yezoensis,
- Porphyra tenera,
- Porphyra haitensis,
- Porphyra pseudolinearis,
- Porphyra dentata,
- và Porphyra angusta,
thường được trồng.
◦ Rong này là loài phụ sinh, không làm hại ký chủ Epilite ( Epiphyte ),  móc trên những đài vật cứng rắn ( như đá, gỗ, vỏa sò ốc ...) và sống ở mức độ thượng tầng duyên hải supralittoral và trung tầng duyên hải médiolittoral.
Trong Châu Âu, người ta tìm thấy ở biển miền bắc Địa Trung Hải Nord à la Méditerranée thông qua Đại Tây Dương, nó không hiện diện ở biển Baltique.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Tản giao tử thực vật gamétophyte thalle, có màu nâu tím khoảng 10 cm và có hình dạng không đều nhau, dễ dàng bị xé vỡ. Hiện lộ ra khi mực thủy triều thấp màu sắc sẽ chuyển sang màu xanh olive và có xu hướng biến thành đen, nâu nhạt, xám nâu trong những bãi rong, khi xấy khô biến thành tím nâu nhạt, nhưng nó sẽ phục hồi nguyên trạng màu sắc ban đầu khi thủy triều bao phủ trở lại.
Tản thalle được cấu tạo thành một phiến chỉ có một lớp tế bào  monostromatique, 58-70 μm độ dầy với những tế bào nhìn thấy bằng mắt thường ở bề mặt 8-16 × 6-8 μm và phẩu thức cắt ngang 30-34 × 9-10 μm.
Thường đơn phái biệt chu dioïque, 2 tản đực và cái ( giao tử thực vật ) khác nhau, ở bìa phiến những giao tử phòng đực gamétangie mâle trong những bó từ 4 × 4 nhìn bề mặt và × 8 trong phẩu thức cắt ngang (= 128 giao tử gamètes);
Tiếp hợp tử phòng zygotosporanges thành bó từ 2 × 4 nhìn bề mặt và × 2 trong phẩu thức cắt ngang (= 16 tiếp hợp tử zygotospores).
Đôi khi có sự hiện diện của những bào tử phòng sporangia trung tính.
Những tế bào được bố trí trong một hình vuông và cố định bởi một đĩa từ đó có thể hình thành những lá với bìa có nhiều gấp nếp, với những vết lồi lõm ở bìa phiến ( tản đực bìa biên sáng, tản cái bìa biên sậm tối ), phiến đơn giản hoặc nhiều kết hợp với nhau hình thành như một đóa hoa hồng.
Tản gắn vào đài vật bởi một mấu căn trạng nhỏ nhưng cứng, thân không phân biệt,
Tuy nhiên, hình thái học rất thay đổi khác nhau, điều này có thể dẫn đến sự lẩm lẫn với những loài khác của giống Porphyra spp.
▪ Chu kỳ sinh sống :
Nori Rong Mứt Porphyra có một chu kỳ sinh sống dị dạng hétéromorphe với một xen kẻ giữa giai đoạn to lớn nhìn bằng mắt trần macroscopique dạng hình lá giao tử thực vật gamétophytique và một bào tử thực vật sporophyte hình sợi được gọi là giai đoạn conchocelis Porphyra Nori Rong mứt Porphyra sinh sản thông qua cả hai phương thức sinh sản hữu phái sexuée và vô phái asexuée.
Trong sự sinh sản hữu phái sexuée, một số tế bào thực vật trưởng thành khác biệt trong cơ quan sinh dục cái carpogonie, và một số khác trên cùng một tản hoặc khác tản thalle trong cơ quan sinh dục đực spermatanges không màu.
Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục cái carpogonie phân chia để hình thành những bó bào tử spores được gôi là tiếp hợp tử zygotospores ( quả bào tử carpospores).
Sau khi được phóng thích, những quả bào tử zygotspores thường nảy mầm đơn cực unipolaire để sản xuất cho ra một gai đoạn hình sợi filamenteuse gọi là tiền ty tản  conchocelis.
( conchocelis do quả bào tử mọc cho ra một tiền ty tản hình sợi có chia nhánh mọc ăn luồn trong vỏ ốc, đá vôi, từ lâu người ta tưởng là một giống đặc biệt có tên riêng là Conchocelis, cấy conchocelis trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng tiền ty tản này sẽ mọc cho ra những chồi, chồi sẽ cho ra một tản thalles dẹp của Rong Mứt Porphyra.) .
◦ Những tiền ty tản conchocèles có thể sống sót trong những điều kiện của môi trường bất lợi, nhưng chúng sinh sản cho ra những tiền ty tản phòng conchosporanges và những tiền ty bào tử conchospores trong những điểu kiện thích hợp.
Những tiền ty bào tử conchospores nẩy mầm bởi những phương thức lưỡng cực bipolaires để sinh sản cho ra những tản non hư ảo thalles chimériques, do đó hoàn tất chu kỳ sinh sống cycle de vie.
▪ Trong sự sinh sản vô phái asexuée, những tế bào thực vật của một số loài hình thành trực tiếp những bào tử spores gọi là cổ bào tử  archéospores, có thể nẩy mầm trực tiếp để hình thành một tản  thalle (Sahoo và al., 2002, 2006).
Gần đây, người ta cũng đã phát hiện rằng cả hai phương thức sinh sản này, Nori Rong mứt Porphyra cũng sinh sản bởi nội bào tử phòng endosporanges hoặc những nội bào tử endospores, dẫn đến cuối cùng nảy sinh một tản thalle.
Những giai đoạn khác nhau của chu kỳ sinh sống của Nori Rong mứt Porphyra có thể là được vận dụng trong phòng thí nghiệm cũng như trên quy mô công nghiệp.
Những tiền ty tản conchocelis với một quy mô lớn canh tác trong những điều kiện môi trường phù hợp bởi những công nori khác nhau.
Những số lượng lớn của tiền ty bào tử conchospores có thể được phóng thích, gieo mầm trên những mạng lưới Nori filets de nori và sau đó được cấy vào trong biển để nuôi trồng với một quy mô lớn.
Theo truyền thống, một số lượng lớn của vỏ sò ốc coquilles (coquilles (1-2) × 106) là cần thiết để duy trì và nẩy mầm phát triển của những tiền ty tản conchocelis trên một quy mô thương mại.
◦ Nuôi cấy Rong Mứt porphyre cần thiết một máy tinh vi machines sophistiquées, những lưới gieo giống, vốn đầu tư lớn đặc biệt trong chế biến sau khi thu hoạch, những phân bón và những xử lý hóa học.
Mặc dù những phương pháp truyền thống của sự canh tác Rong Mứt Porphyra (gieo giống tự nhiên của những tiền ty bào tử conchospores trên những cọc và những lưới tre) vẫn còn được thực hiện trong một số vùng, phần lớn sản xuất Rong Mứt Nori ở Nhật Bản Japon, trong Tàu và trong Đại Hàn Corée phụ thuộc vào sự gieo giống nhân tạo của những tiền ty tản conchocelis.
◦ Những Nori Rong mứt Porphyra mọc và tăng trưởng nhanh chóng, điều này cần thiết khoảng 45 ngày từ khi bắt đầu gieo giống cho đến thu hoạch lần đầu tiên.
Những tản còn lại tự động mọc và có thể sẵn sàng thu hoạch cho vụ mùa lần thứ hai sau từ 15 đến 20 ngày bổ sung.
Nhiều vụ thu hoạch có thể được thực hiện từ cùng một lưới trong một mùa vụ của sự tăng trưởng.
◦ Thời vụ thu hoạch được rửa sạch và chuyển sang một thiết bị tự động để xử lý Nori Rong mứt Porphyra, cắt những phiến thành ra những mãnh nhỏ.
Nori Rong mứt Porphyra umbilicalis sau đó được xử lý thông thường bởi một hợp tác xã đánh cá coopérative de pêche, trong một máy chế tạo những phiến lá mỏng nori, thành những lá vuông sấy khô hoặc được chế biến theo nhu cầu của thị trường.
Sản phẩm cuối cùng là một lá khô, mỏng, màu đen, cạnh khoảng 18 x 20 cm và cân nặng 3 g.
Bộ phận sử dụng :
Phiến lá.
Thành phần hóa học và dược chất :
Nori Rong mứt Porphyra umbilicalis chứa 10 acides aminés
Phẩm chất qualité của những acides aminés thiết yếu của Nori Rong Mứt Porphyra là những sinh vật lân cận như là những cá, trứng và những ấu trùng ......
Nó chứa một số lượng lớn của :
- chất đạm protéines,
- acides béo oméga3
rất quan trọng cho :
- sự tuần hoàn máu circulation sanguine,
nhưng cũng :
- bệnh thiếu máu anémie,
- những vấn đề của tầm nhìn ban đêm vue nocturne,
- chống lại những sự nhiễm trùng infections,
- và để giảm cholestérol.
● Thành phần trung bình cho 100g, rong biển algue tươi sau khi đã khử muối dessalée, ( hoặc kèm theo cho 10 khẩu phần ăn ) :
- chất đạm protéines : 29%,
- chất béo graisses : 0,3%,
- hydrates de Carbone : 43,1%,
- chất xơ thực phẩm fibre : 34,7%,
- potassium K : 2030mg,
- calcium Ca : 330mg,
- magnésium Mg : 370mg ,
- phosphore P : 235mg,
- sắt Fe : 23mg,
- Iode I: 17,3mg,
- vitamine A: 3,6mg,
- vitamine B12: 2,9mg,
- vitamine C: 4,2mg.
( thông tin tùy thuộc, lấy từ trong tài liệu không đưa ra nguồn khoa học ).
▪ Thành phần được so sánh như sau :
- Đường glucides : 40%,
- Acides aminés đồng hóa bởi một người vượt trội so với thịt đỏ viande rouge
Nguyên tố khoáng minéraux gồm có :
- Calcium Ca (từ 10 đến 20 lần hơn so với sữa lait) ;
- Vitamine B12 bình thường không tìm thấy trong nguyên liệu thực vật.
- Chất béo Lipides, điều này ngoại lệ ở những loài rong biển lớn macroalgues.
đặc biệt :
- acide arachidonique,
- và acide eicosapentaénoïque
● Đặt tính thành phần dinh dưởng nutritives của Rong biển nói chung :
 ▪ Diệp lục tố Chlorophylle :
Những rong biển algues chứa hàm lượng cao nhất :
- chlorophylle trong tất cả những thức phẩm.
Cần thiết cho một sự oxy hóa oxygénation tốt của máu sang, chlorophylle cũng thiết yếu cho nhiều chức năng tốt trong cơ thể của chúng ta.
▪ Nguyên tố khoáng minéraux :
Những tảo algues là một nguồn lớn nhất của muối khoáng sels minéraux trong số những thực phẩm (25%).
Trong số này, tảo algue chứa :
- 20 lần hơn calcium Ca so với sữa lait (wakame và dulse) kết hợp với số lượng tốt của potassium K và magnésium Mg giúp sự đồng hóa và điều này hơn nữa trong một môi trường đất kiềm alcalin thuận lợi.
- Rong sà lách biển laitue de mer chứa 2 lần lớn hơn nguyên tố sắt Fe của mầm lúa mì germe de blé và 12 lần hơn những đậu lăng lentilles.
- Những tảo algues chứa từ 5 đến 10 lần magnésium Mg hơn so với mầm lúa mì germe de blé.
Mặt khác, nó là vô địch cho tất cả những loại đối với sự đóng góp của magnésium Mg.
◦ 5 gr khô bao phủ 100% của những nhu cầu hằng ngày.
- Những muối khoáng sels minéraux chứa trong những rong biển algues có một nguồn gốc hữu cơ organique, là đồng hóa được tốt hơn. Do đó lợi ích của sự tiêu dùng của những rong biển algues.
▪ Chất xơ thực phẩm Fibres :
Những Tảo algues chứa 35% của chất xơ thực phẩm fibres, hiệu quả chống lại :
- sự lười biếng đường ruột paresse intestinale.
Những chất xơ thực phầm fibres alimentaires góp phần làm giảm :
- nồng độ cholestérol trong máu sang.
nó cho phép làm giảm những nhu cầu của kích thích tố nội tiết insuline.
▪ Nghèo năng lượng calories, những rong biển đóng góp năng lượng énergie, hoà tan những chất béo dư thừa graisses nhờ những thành phần đặc biệt của rong biển algue, nó là :
- thành phần algine,
một hợp chất đường glucidique với đặc trưng của một chất nhầy mucilagineux.
Chất nầy hành động như  :
- một sự thu hút trên những chất độc toxines của cơ thể,
do những kim loại nặng métaux lourds,
- và góp phần vào sự vận chuyển đường ruột transit intestinal.
▪ Acides aminés và Chất đạm  protéines :
Những chất đạm protéines là bao gồm của những acides aminés.
Rõ ràng cao hơn so với thịt viande, với cá poisson và đậu nành soja, với hàm lượng cao của chất đạm protéines những rong biển algues là theo thứ tự từ 25 đến 35% .
Thí dụ : 30 gr rong biển algues (nori hoặc dulse), cung cấp càng nhiều acides aminés  100 gr của thịt viande.
◦ Hơn nữa, nó không phải như số lượng quantité của những chất dinh dưởng nutriments là quan trọng, nhưng mà là phương cách mà nó kết hợp tự nhiên với acides aminés, làm việc trong sự hiệp lực đầy đủ.
Ngoài ra, những acides aminés này bổ sung những acides aminés của những thực phẩm khác.
◦ Những chất đạm protéines của những rong biển algues là không có chất béo grasses và là trong một môi trường kiềm hóa alcalinisant, do đó khử tính acide désacidifiant, ngược lại với thịt viande.
◦ Tính khả dụng sinh học biodisponibilité của chúng là tức khắc.
◦ Những rong biển algues chứa tất cả những acides aminés thiết yếu và 9 không thiết yếu, trong một sự phân bố gần với những nhu cầu của cơ thể.
◦ Những rong đỏ ( Hồng tảo ) là giàu nhất chất đạm protéines, sau đó đến Tảo xanh ( Lục tảo ) kế đến những tảo nâu ( cát tảo ).
Nori Rong mứt Porphyra umbilicalis chứa 50% chất đạm protéines, rong xoắn spiruline 70%.
▪ Rong biển ( Tảo ) algue hay sữa  lait :
Thâm nhập từ từ và dần dần những rong biển algues trong thực phẩm của chúng ta cho phép làm giảm những nhu cầu ở những sản phẩm từ sữa laitiers.
Nó được tìm thấy rằng sữa bò lait de vache không có 2 trong những acides aminés thiết yếu, được biết là :
- histidine,
- và arginine,
nơi đây một sự tiêu hóa không đúng và không đầy đủ.
Mặt khác, nguyên tố khoáng calcium Ca chứa trong những rong biển algues được tìm thấy trong những môi trường đất kiềm alcalin, điều nầy cho phép chuyển hóa chất biến dưởng métabolisme của nó, trong khi những môi trường đất acide của những sản phẩm từ sữa laitiers ức chế nó.
▪ Chất béo Lipides :
- nghèo chất béo graisse, 2 đến 3%,
- giàu acides béo gras đa bảo hòa polyinsaturés, oméga 3 và 6,
những rong biển algues là lợi ích cho :
- tim cœur,
- những tĩnh mạch veines,
- và những động mạch artères,
- não bộ cerveau,
- và da peau v...v...
Hàm lượng calories và trong chất mỡ graisse là thấp trong khi hàm lượng chất dinh dưởng nutriments của chúng  cao.
▪ Vitamines :
Giàu những vitamines như :
- vitamines A (hồng tảo algues rouges),
- vitamines E (cát tảo algues brunes),
- vitamines C (lục tảo algues vertes),
- và vitamines B.
Chỉ tảo nori Nori Rong mứt Porphyra umbilicalis có thể chứa :
- vitamine B12.
Đặc tính trị liệu :
● Lợi ích của những rong biển algues
▪ Những rong biển algues đem lại sức sống cho cơ quan organisme đồng thời tăng cường những khả năng phòng vệ tự nhiên.
▪ Nó kích thích hoạt động :
- kích thích tố nội tiết hormonale,
- và sự tuần hoàn circulation,
- bảo vệ những niêm mạc muqueuses,
và là thuốc :
- chống viêm anti inflammatoires,
- và nhuận trường laxatives.
▪ Những rong biển algues tranh đấu chống lại :
- những bệnh thấp khớp rhumatismes,
- và mệt mỏi fatigue,
- làm chậm sự lão hóa vieillissement.
▪ Rong biển chất giải độc détoxifiantes và cũng cho phép :
- loại bỏ những chất độc élimination des toxines,
- chất thải déchets,
- và những thành phần kim loại nặng métaux lourds.
▪ Chống nấm Anti mycosiques và chống siêu vi khuẩn anti virales, những rong biển algues có những thành phần :
- kháng sinh antibiotiques,
- và có những hiệu quả chống khối u anti tumoraux.
▪ Những rong biển algues cải thiện phẩm chất qualité của sự tiêu hóa digestion bằng cách hành động trên :
- vận chuyển đường ruột transit intestinal.
▪ Nó giúp làm :
- giảm cholestérol trong máu sanguin,
- điều chỉnh nồng độ insuline,
- và đường trong máu sucre dans le sang,
lợi ích cho :
- bệnh tiểu đường diabétiques.
▪ Những rong biển algues, giảm :
- những nguy cơ tim mạch cardio-vasculaires,
- và tái cân bằng hoạt động của gan activité hépatique.
▪ Thức ăn kiềm alcalin, những rong biển algues bảo vệ :
- độ acide acidose, ( acidosis đề cập đến tính acide của máu (có độ pH thấp hơn 7.40)).
cải thiện những vấn đề của :
- táo bón constipation,
- và bệnh béo phì obésité.
▪ Những rong biển algues tranh đấu chống lại :
- tăng huyết áp hypertension
và là rất tuyệt vời để làm :
- cường kiện của những tóc fortifiant des cheveux,
- của những móng ongles,
- và da peau.
▪ Hàm lượng thành phần iode của những Rong biển algues  
Như tất cả những thực vật qu   ang tổng hợp photosynthétique, thành phần hợp chất của những rong biển thay đổi theo chức năng của mùa saison.
◦ Những loài nhuyến thể mollusques, những giáp xác crustacés, và những loài cá poissons có nguồn gốc ở biển là những thức ăn giàu nhất chất iode sau những rong biển từ 0.3 đến 3 ppm (trọng lượng tươi).
◦ Những trái và những rau cải là nghèo thành phần iode, những nồng độ khác nhau tùy thuộc vào độ phong phú của những môi trường đất và thời gian của chu kỳ thực vật.
◦ Rong biển, nó là quan trọng được nhấn mạnh rằng, do sự phong phú thành phần iode này của rong biển algues là có sẵn để cung cấp cho cơ thể.
Những sự tham gia dinh dưởng implications nutritionnelles của sự phong phú đặc biệt chất iode này là tức khắc cho một người trưởng thành, sự đóng góp được đề nghị (150 µg/ngày) có thể được bao gồm bởi những số lượng rất thấp, theo thứ tự của vài grammes khô.. “
Nguồn : Trung tâm nghiên cứu và đánh giá của những Rong biển Centre d'Etude et de Valorisation des Algues
▪ Tính năng đặc biệt khác :
 Người ta biết rằng sự ô nhiễm của Iode hạt nhân iode nucléaire (nhớ lại vấn đề của nhà máy hạt nhân Tchernobyl) cấu thành một mối đe dọa đối với sư cân bằng của tinh cầu planète và của những người dân của nó.
Để tránh những vấn đề do bởi Iode hạt nhân iode nucléaire, iode tự nhiên từ sự tiêu dùng của những rong biển algues, bằng cách :
- đặt để nó trên tuyến giáp trạng thyroïde,
- ngăn chận iode phóng xạ iode radioactif để làm tương tự.
Một tuyến giáp trạng bảo hòa thyroïde saturé, thành phần iode tự nhiên iode naturel là bảo vệ tốt và ngăn ngừa đối diện với nguy cơ hạt nhân nucléaire, (khử nhiễm với tia phóng xạ X rayons X hoặc sản xuất phóng xạ radioactifs).
Sự tiêu dùng vài grammes của Rong biển khô để bảo vệ cho vấn đề này.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Tầm quan trọng của iode tự nhiên.
Những rong biển algues đầy dẫy iode tự nhiên.
▪ Những điều quan trọng cần biết.
◦ Iode là một thành phần vi lượng oligoélément cần thiết cho chức năng hoạt động tốt của :
- tuyến giáp trạng glande thyroïde
không chất này, không thể sản xuất ra những kích thích tố nội thiết hormones của nó.
◦ Thiếu iode có thể gây ra sự tổn thương nghiêm trọng cho cơ thể.
Báo cáo mới của thế giới OMS (Organisation Mondiale de la Santé) cho biết rằng con số những nước, nơi đây thiếu chất iode biểu hiện một vấn đề của sức khỏe công cộng là theo thứ hạng khoảng 54.
Cũng như sự giải thích của Dr Lee Jong-Wook, Tổng giám đốc directeur général của OMS :
« Thiếu chất iode biểu hiện một sự đe dọa lớn cho sức khỏe và sự phát triển của những người dân trên toàn thế giới, cho những trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo và những phụ nữ mang thai femmes enceintes ».
Sự thiếu hụt này là do sự nghèo thành phần iode của những môi trường đất, nơi đây một nồng độ thấp của thành phần vi lượng oligoélément trong thực phẩm của chúng ta và do đó một sự đóng góp không đủ cho người dân.
◦ Sự thiếu hụt thành phần iode góp phần đáng kể cho những rối loạn :
- của sự phát triển tâm thần của những trẻ em mental de l'enfant.
Đặc biệt là khi mới bắt đầu trong đời sống của bào thai vie fœtale, thời kỳ mà số lượng đóng góp iode là quan trọng nhất cho sự phát triển tốt của não bộ của bào thai cerveau du fœtus.
◦ Người mẹ cần dùng một mức độ quan trọng hơn chất iode trong thời gian mang thai grossesse, không kể một số lượng lớn iode đã được loại bỏ trong nước tiểu urines.
▪ Những rong biển algues là những thức ăn chứa nhiều thành phần Iode nhất. Ngoài ra thành phần Iode tử những rong biển là trong trạng thái tự nhiên, do đó được đồng hóa hoàn toàn bởi cơ thể chúng ta.
◦ Nếu chức năng tuyến giáp trạng thyroïde một cách chính xác bình thường, một liều vượt quá có thể là không một sự gây hại nào sẽ được loại bỏ sau đó.
◦ Chỉ những người mắc phải bệnh cường giáp hyperthyroïdie phải tránh tiêu dùng những rong biển algues.
◦ Nếu tuyến giáp thyroïde hoạt động bình thường, quá liều có thể không gây hại vì lượng dư thừa sẽ được loại bỏ ngay lập tức.
Chỉ những người bị chứng tăng năng tuyến giáp nên tránh ăn Rong biển.
Vài grammes rong biển sấy khô algues séchées mỗi ngày đủ để đáp ứng nhu cầu iode cho cơ thể.
Những Rong phổ tai laminaires, như là Kombu royal và Kombu breton,, những rong biển này có chứa nhiều Iode nhất.
Ứng dụng :
● Sự canh tác trồng :
▪ Rong biển liên quan đến Nhật Bản Japon
Rong biển màu tím xanh (Porphyra Purpurea) được trồng ở Nhật Bản và bán dưới hình thức một lá mỏng để cuốn những món ăn đặc trưng của Nhật Bản sushis.
Nori Rong mứt Porphyra umbilicalis có nghĩa là “ Tảo algue" trong tiếng nhật-bản japonais. Cũng nên hiểu rằng thuật ngử Nori để chỉ một sản phẩm ở Nhật Bản Japon  được chế biến từ những loại khác nhau của Nori Rong Mứt Porphyra, và được trồng ở đó.
Những Rong biển này được rửa trong một thời gian dài với nước ngọt, được nghiền nát, sau đó được đặt một lớp mỏng trong một khuông và được sấy khô sau đó.
Những lá Nori Rong mứt Porphyra umbilicalis thu hoạch được dùng để như một bao bì cuộn lấy cơm gạo nấu chín riz cuit (sushi). Loại sản phẩm này được cung cấp trong những cửa hàng đặc sản thường được nhập từ Nhật hoặc Đại Hàn....
Trong Galice, người ta tìm thấy trong trạng thái hoang dả tự nhiên ở mực thủy triều thấp basse mer.
Nó là cần thiết cho việc chế biến những món ăn makis (cơm gạo riz và cá poisson  cuống trong một lá Rong Mứt ).
▪ Nori - Rong mứt Porphyra umbilicalis – thu hoạch phía nam Bretagne sud
Những Nori Rong Mứt Porphyra nhỏ thu hoạch này ở vùng biển phía nam Bretagne sud là một Rong biển màu nâu đỏ, kích thước nhỏ và nhiều nếp gấp.
Nori Rong Mứt Porphyra được thu hoạch bởi nhà sản xuất và chế biến Scarlette le Corre được bán tươi ( uớp muối để bào quản ) hoặc sấy khô, dưới hình thức mảnh paillettes, được trộn lẫn trong những " gia vị của biển ".
Thời gian thu hoạch dài hơn so với những tảo khác, dẫn đến giá thành bán cao hơn. Nhưng sự phong phú của những thành phần chứa trong nó làm cho nó có hệ thống tích hợp, lồng vào trong  tartare d'algues ( một hỗn hợp món ăn xay ....trộn với Rong biển ??? ) hoặc những hỗn hợp khác.
Ở Pháp không có truyền thống thương mại loài Rong biển, Nori Rong Mứt Porphyra, đây là dưới tên gọi Nori mà nó được thương mại hóa commercialisée.
Nó có một hương vị mạnh và tính tế cùng lúc, gợi lên một chút hạt dẻ noisette,  và người ta ít tiêu dùng sống và nó có thể ăn sống hoặc nướng nhẹ và sau đó xay nhỏ và rắc lên thức ăn .
Thực phẩm và biến chế :
Bên cạnh nấu ăn :
Ở Nhật Bản Japon Rong Mứt porphyra được chế biến và ăn sống, sau khi làm khô, trong khi ở trong Irlande và xứ Galles Pays de Galles, nó được nấu chín trong nước trong khoảng 6 giờ để trộn lẫn với những món ăn khác.
Đến nay, Rong biển algue được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới, nó là đối tượng canh tác sâu rộng (thâm canh) để chuyển biến thành những lá mỏng.
Những lá Nori Rong Mứt Porphyra nầy được sử dụng trong chuẩn bị những món sushis Nhật bản nổi tiếng.

Nguyễn thanh Vân

lundi 19 mars 2018

Bông Hồng Tàu - Rosier de Chine ( xem Bông Hồng damas )

Rosier de Chine
Bông Hồng Tàu
Rosa chinensis Jacq
Rosaceae
Đại cương :
Rosa chinensis var. chinensis là một thực vật cổ đại Cây cảnh của Cây cảnh Tàu ornementale từ đây dưới có nhiều hình thức đã được trồng rộng rãi.
Rosa chinensis var. spontanea là một loại variété hoang, (đây là một trong những dòng họ của Cây Hoa Hồng Rosa odorata, do đó tất cả những Hoa Hồng giống lai của trà là kết quả phần lớn của những Hoa Hồng hiện đại) và được thu hoạch về bởi Augustine Henry gần những hẽm núi Ichang của Hồ Bắc ouest du Hubei và được mô tả như một loại vào năm 1914. Mặc dù đã đuợc thu hoạch nhiều lần vào đầu thế kỷ 20 ème, nhưng nó không được những nhà thực vật học nước ngoài nhìn thấy, mãi đến năm 1983 khi nó được khám phá lại bởi nhà thực vật học người Nhật japonais Mikinori Ogisu trên 1700 m ở Leibo, phía Tây nam của Tứ Xuyên Sichuan.
Cây Hoa Hồng Rosea chinensis var. spontanea có nguồn gốc ở trung tâm Tàu, trong vùng Cam túc, Quý Châu, Hồ Bắc và Tứ Xuyên, thường gặp trên những vùng đất đá vôi calcaire và đá diệp thạch schistes ở những độ cao bao gồm giữa 500 và 1950 m. Cây Hoa Hồng Rosea chinensis var. chinensis chỉ được biết đến từ sự trồng trọt.
● Giống lai hoặc đột biền mutation của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis
▪ Rosa chinensis Semperflorens, hoa hồng đỏ Bengale, “Old Crimson China” với Hoa đỏ, thơm, bán đôi. Đây là đột biến mutation từ Rosa chinensis “Spontanea” trồng trong những vườn Cây Tàu.
▪ Rosa chinensis 'Minima' và Rosa chinensis “Pumilla” hoặc “Pompon de Bengale”, Hoa Hồng lùn, hoặc do đột biến mutation bởi “Rouletii”,
▪ Rosa chinensis “Viridiflora”, đột biến mutation với Hoa xanh lá Cây fleurs verts và phát hoa mọc thẳng.
▪ Rosa chinensis “Mutabilis”, đột biến mutation hoặc lai giống hybride của Rosa odorata.
▪ Giống lai hybrides trực tiếp còn được trồng, như :
◦ 'Rouletii' và “Pompon de Paris” của những giống hoa hồng lùn và hoa nhỏ hợp thành nhóm 2 hoa Hồng nhạt.
◦ “ Old Blush” , giống Cây trồng tàu, rất xưa của giống Cây Bông Hoa Hồng bán Hoa đôi, có mùi thơm và hoa nở thời gian rất lâu. Tổ tiên của Hoa Hồng Noisette và Bourbon.
▪ “ Gloire des rosomanes ”, “Hermosa”, “Fallemberg” hoặc “Belle Marseillaise” để trích dẩn của một số người, hiện vẩn còn được trồng.
▪ Rosa odorata (Rosa chinensis × Rosa gigantea) đôi khi xếp chung với Rosa chinensis, điều này sai lầm. Đây là giống lai của Tàu, chứ không là dạng giống Cây tự phát.
◦ Rosa indica “Odorata” hoặc “Rosa indica flagrens” hoặc “Humes” “Blush Tea-scentes China” lần đầu tiên đến Châu Âu, với Hoa bán đôi màu hồng sáng, dòng họ của những Hoa Hồng trà roses thé, được minh hoạ bởi Redouté vì đã mua mặc dù có sự ngăn chận của Joséphine de Beauharnais cho khu vườn hồng roseraie của Bà ta.
◦ “Park's Yellow Tea-scentes China” với hoa đôi màu vàng sáng,
◦ “Fortune's Double Yellow” màu vàng đồng jaune cuivré.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Tiểu mộc bụi, thường xanh dựng đứng, khoảng 1-2 m cao. Nhánh màu tím nâu, hình trụ, dáng đẹp, mạnh cứng, thân láng, có gai nhiều hoặc đôi khi không gai, gai hơi cong, um tùm rậm.
Trong thiên nhiên, nó có dạng dây leo với những lá không rụng hoặc Cây bụi lớn với những nhánh cong, bò đến 8 m hoặc leo trên những Cây khác hoặc trên những hàng rào tạo thành những bụi rậm..
 Những chồi non có những gai nhọn móc, trong khi những chồi bên có ít gai và ở rải rác.
Lá, kép lẽ hình chân vịt và mọc cách, lá phụ lẽ lá phụ 3-5, ít khi 7, ở ngọn lớn 4,5-6,0 cm dài, màu xanh lá cây nhạt ở mặt lưng lá (mặt dưới), abaxialement, màu xanh lá cây đậm ở mặt hướng về trục, hình bầu dục rộng hoặc hình bầu dục thuôn dài 2,5-6 × 1-3 cm, cả 2 mặt lá láng, ở mặt hướng trục thường bóng láng (mặt trên), với dạng hình nêm, bìa có răng nhọn đỉnh nhọn dài hoặc nhọn. Cuống lá khoảng 5-11 cm. Lá bẹ stipules chủ yếu hỗ trợ dính vào những cuống lá, bộ phận rời tai lá, bìa lá nguyên, thường có những tuyến có lông mịn, đỉnh nhọn, sóng lá kép và cuống có ít gai và tuyến lông,
Phát hoa, tản phòng. Tập hợp những hoa, Hoa có nhiều màu sắc khác nhau, đỏ hay hường và những mà khác do kỷ thuật lai giống và gây đột biến.
Hoa, 4 hoặc 5 trong một bó, hiếm khi thấy cô độc, mùi thơm nhẹ hoặc không, khoảng 4-5 cm đường kính, cuống hoa từ 2,5 đến 6 cm, hơi mượt hoặc có lông tuyến mịn, lá hoa 1-3 thẳng, láng mịn, bìa phiến có tuyến hoặc nguyên, đỉnh nhọn.
Hypanthium, « đế hoa nơi hợp nhất những thành phần của hoa (đài, cánh, nhụy đực) bên dưới tạo thành một vòng như cáo bao phủ buồng trứng », hình cầu hay hình trứng hoặc dạng như trái lê poire, láng mịn.
- đài hoa, 5, lớn khoảng đến 3 cm dài, rụng sớm, hình bầu dục, đôi khi là lá phụ, mặt trên láng, dầy đặc nhung mao, với bìa đài nguyên hoặc hơi cong, ít khi đài hoa nguyên, đỉnh ngọn có đuôi.
- Cánh hoa, 5, bán đôi, màu đỏ, hồng, trắng, vàng, hoặc tím, dạng lõm hay hình bầu dục bên dưới, khoảng 3-4 cm dài và rộng, mỡ ra màu hồng hoặc những màu sắc khác tươi đẹp.
- tiểu nhụy, nhiều mang trên một đĩa hoa bìa của ống đài hoa, nỏ ở giữa thu hẹp ở trên giống như một chuông.
- nhụy cái, nhiều, vòi nhụy rời, nhô ra, gần như bằng với tiểu nhụy, buồng trứng có lông mịn.
Trái, giả quả Cynorhodon, màu đỏ tươi, hình trứng hoặc pyriforme hình trái lê poire, 1-2 cm đường kính, láng mịn.
Thường chỉ có 2 hoặc 3 hạt lớn bởi một giả quả Cynorhodon với một lớp vỏ bao bên ngoài cứng.
Bộ phận sử dụng :
Hoa, trái, giả hoa, lá, rễ và nụ hoa.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Trong Cây Hoa Hồng Rosea chinensis chứa những vết của :
- dầu dễ bay hơi huile volatile,
- quercitrine,
- tanin,
- acide gallique,
- và sắc tố pigment, ..v...v...
▪ Chỉ có 100 trong những 300 thành phần hóa học chứa trong những Hoa hồng Rosa sinensis đã được xác định. Mỗi bộ phân, lá, cánh hoa, trái phụ bộ của trái là một giả quả cynorhodon và rễ, có những sử dụng ăn được và trong y học.
Cynorrhodons giả quả cynorhodon Hoa Hồng được đánh giá cho hàm lượng vitamine C cao hơn những cam quít agrumes.
▪ Những giả quả Cynorhodon là một trái của Hoa Hồng phát triển sau khi ra hoa.
Những giả quả Cynorrhodon đã được sử dụng để bảo vệ chống lại bệnh tật trong nhiều thế kỷ, nhưng tất cả những bộ phận của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis có những thành phần y học hoạt động médicinaux actifs.
▪ Sự xác định những glycosides flavonoïdes trong những Hoa của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis bởi sắc ký lỏng quang phổ khối lượng chromatographie liquide-spectrométrie de masse en tandem trong kết hợp với cộng hưởng từ trường résonance magnétique hạt nhân nucléaire C-13.
▪ Những Hoa Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được sử dụng rộng rãi trong y học truyền thống tàu cũng như trong công nghệ thực phẩm.
Những glycosides flavonoïdes là những thành phần chủ yếu trong Cây Hoa Hồng Rosa chinensis trách nhiệm của những hhoạt động chống oxy hóa antioxydantes của nó.
▪ Trong nghiên cứu này, một phương pháp sắc ký lỏng quang phổ khối lượng kết hợp cả hai chromatographie liquide-spectrométrie de masse en tandem (HPLC-MS / MS) đã được phát triển để phân tích những glycosides flavonoïdes hiện diện trong trích xuất acétate d'éthyle của Hoa sấy khô Cây Hoa Hồng Rosa chinensis.
▪ 12 glycosides flavonoïdes đã được tách riêng và phát hiện. Bằng cách so sánh :
- thời gian lưu giữ,
- những quang phổ spectres UV,
- và những phần đoạn MS trong kết hợp với phần đoạn của những hợp chất xác thực authentiques tương ứng,
- Tám (8) glycosides flavonoïdes đã được xác định đứt khoát.
Mặc dù 4 thành phần khác cũng đã được xác định như :
- những glycosides flavonoïdes,
- glycosylation
những vị trí không có thể xác định do thiếu những hợp chất xác thực.
May thay, những hiệu quả của glycosylation đã được quan sát rõ trgong quang phổ spectre C RMN của trích xuất.
▪ Thông tin chi tiết về cấu trúc, do đó đã thu được để xác định 4 glycosides flavonoïdes như :
- quercétine-3-O-D-glucoside,
- quercétine-3-O-D-xyloside,
- kaempférol-3-O-D-xyloside,
- và quercétine-3-O-D- (6 "-cmarmaroyl) -galactoside.
▪ Những glycosides flavonoïdes này đã được phát hiện và xác định cho lần đầu tiên trong nguyên liệu thực vật này.
▪ Nghiên cứu mô tả đầu tiên cho sự sử dụng của RMN C của một hỗn hợp để cải thiện một phân tích HPLC-MS / MS nhanh chóng.
▪ Tập hợp những quy ước phân tích được đề xuất đã được xác nhận với một hỗn hợp của glycosides flavonoïdes xác thực.
Đặc tính trị liệu :
▪ Những hoa Cây Hoa Hồng Rosa chinensis, và trong một mức độ thấp hơn của những rễ và những lá Cây Hoa Hồng Rosa chinensis, là :
- làm bớt đau, vô hại anodines,
- dịu đau, trấn thống, điều kinh emménagogues,
và được sử dụng trong chữa trị :
- những đau bịnh của những phụ nữ plaintes des femmes.
▪ Cây Hoa Hồng Rosa chinensis điều hòa :
- những kinh nguyệt menstruations,
- và kích thích sự tuần hoàn máu circulation sanguine.
▪ Những lá, những trái và những rễ Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được nấu sắc và được sử dụng trong chữa trị :
- viêm khớp arthrite,
- những mụn nhọt đầu đinh furoncles,
- ho toux, ...v...v....
▪ Trái Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được áp dụng trên :
- những bong gân entorses,
- những loét ulcères,
- và những vết thương plaies.
▪ Những nụ hoa boutons floraux Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được sử dụng trong chữa trị :
- đau bụng kinh dysménorrhée,
- sự tuần hoàn máu xấu mauvaise circulation sanguine,
- những đau bụng douleurs abdominales,
- và những sưng phồng gonflements.
▪ Trái của nhiều thành viên của giống Rosa này là một nguồn rất giàu vitamines và nguyên tố khoáng minéraux, đặc biệt là :
- vitamines A, C và E,
- flavonoïdes,
- và những thành phần hoạt động sinh học bio-actifs khác.
Đây cũng là một nguồn khá tốt của acides béo thiết yếu, điều này khá không bình thường của một trái.
Một nghiên cứu như một thức ăn có khả năng làm giảm :
- tĩ lệ mắc bệnh ung thư cancer
và cũng như một phương tiện để ngăn chận hoặc làm đảo ngược :
- sự tăng trường của những ung thư cancers.
Cây Hoa Hồng Rosa chinensis đã được sử dụng trong y học truyền thống Tàu (MTC).
▪ Những rễ và những trái Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được sử dụng để chữa trị :
- viêm khớp arthrite,
- những mụn nhọt đầu đinh furoncles,
- ho toux,
- đi tiểu ra máu hématurie,
- và đau nhức khớp xương thấp khớp articulaires rhumatoïdes.
▪ Trái Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được áp dụng trên :
- những bong gân entorses,
- loét ulcères,
- và những vết thương loét plaies.
▪ Những nụ Hoa Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được sử dụng như :
- một thuốc bổ tonique,
- kích sự tuần hoàn stimulant circulatoire,
- dịu đau điều kinh emmangogue (sự kích thích lưu lượng máu flux sanguin trong vùng xương chậu pelvienne và tử cung utérus),
- và điều hòa kinh nguyệt régulateur menstruel,
cũng như cho :
- ngực thoracique và bụng abdominale.
◦ đau nhức douleur
◦ và sưng phồng distension :
▪ Những Hoa chứa một dầu thiết yếu thơm aromatique. Những trái, những hoa và những chồi non Cây Hoa Hồng Rosa chinensis là ăn được comestibles.
▪ Rose de Chine Cây Hoa Hồng Rosa chinensis là tổ tiên của nhiều nhóm Cây trồng phổ biến của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis, như là :
- trà lai giống thé hybride và floribunda, rất phổ biến trong những vườn cây ngày nay.
▪ Những hoa Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được sử dụng rộng rãi như :
- làm bớt đau vô hại anodine,
- dịu đau, điểu kinh emmenagogue,
và để chữa lành những vấn đề thể chất khác của những người phụ nữ.
Những điều nầy như là :
- điều hoà có hiệu quả kinh nguyệt menstruation,
- và kiểm soát tuần hòa máu circulation sanguine.
▪ Trái Cây Hoa Hồng Rosa chinensis giúp chữa trị :
- những bong gân entorses,
- những loét ulcères,
- và những vết thương loét plaies.
▪ nó giảm những nguy cơ của :
- bệnh ung thư cancer,
- và những bệnh liên quan maladies connexes.
▪ Những bộ phận khác nhau của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis, được sử dụng trong một số chữa trị khác nhau với cơ bản thảo dược, vì vậy nhiều thiết kế được thực hiện để dễ dàng cho :
- những vấn đề kinh nguyệt menstruels của những người phụ nữ,
- và cải thiện sự tuần hoàn máu circulation sanguine.
Những chữa trị này sử dụng chủ yếu những hoa và những chồi của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis, nhưng cũng có thể sử dụng những lá và những rễ.
Cây Hoa Hồng Rosa chinensis cũng được sử dụng trong những pha chế concoctions với cơ sở thảo dược để chữa trị :
- viêm khớp arthrite,
- ho toux,
- và mụn nhọt furoncles.
▪ Những giả quả cynorrhodons hips, trái của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis, đã được sử dụng để chữa trị :
- những vết thương loét plaies,
- và những bong gân entorses.
▪ Những giả quả cynorrhodons cũng là nguồn tuyệt vời của vitamine C và thường xuyên chế biến thành trà thé.
▪ Một trà thé làm từ giả quả cynorrhodon là một phương cách dễ dàng và phổ biến hấp thu những lợi ích cho sức khoẻ của vitamine C cung cấp bởi Cây Hoa Hồng Rosa chinensis.
Tuy nhiên, những người uống trà thé, phải bảo đảm rằng Cây Hoa Hồng Rosa chinensis từ đó nó thu hoạch được những giả quả cynorrhodon hanches :
- không phải xử lý những hóa chất,
- hoặc phun bất cứ loại thuốc trừ sâu nào.
Cây Hoa Hồng Rosa chinensis cũng là một nguồn tốt của :
- những vitamines Evà B,
- những chất chống oxy hóa antioxydants,
và những nguyên tố khoáng minéraux :
- kẽm Zn,
- sắt Fe,
- và phosphore P.
▪ Cây Hoa Hồng Rosa chinensis là một tiểu mộc bụi phổ biến trong Tàu. Y học truyền thống Tàu sử dụng những Hoa trong chữa trị cho :
- vấn đề dạ dày estomac,
- làm giảm những đau nhức douleur,
- vấn đề của tuyến giáp trạng thyroïde,
- và tiêu chảy diarrhée,
- thêm vào những vấn đề kinh nguyệt menstruels.
▪ Vitamine C trong những hips ( giả quả cynorrhodon ) đã được mô tả cho :
- những cảm lạnh rhumes,
- và cúm grippe.
▪ Những bột trên cơ sở Cây Hoa Hồng Rosa chinensis sấy khô đôi khi được sử dụng để chữa trị :
- những móng ngựa sabots des chevaux,
- và những bệnh Coats,
( bệnh Coats là một bệnh tự phát đặc trưng bởi giản tĩnh mạch võng mạc télangiectasie rétinienne với sự tích tụ của dịch tiết exsudats bên trong intra hoặc dưới võng mạc sous-rétiniens, dẫn đến tiềm năng :
- sự bong tróc của võng mạc rétine,
- và với một mù một bên cécité unilatérale.
▪ Những động vật khác được hưởng lợi ích của hàm lượng vitamine C của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis là :
- những con sóc ở Nam Mỹ chinchillas, sóc ở nam mỹ
- và những Heo Ấn Độ guinea pigs (cochons d'Inde).
▪ Những con người cũng đánh giá những lợi ích của một dầu làm từ những giả quả cynorrhodone được sử dụng trong một số nhất định sản phẩm làm đẹp.
▪ Những tiểu mộc bụi Cây Hoa Hồng Rosa chinensis đã mọc phát triển trong thời gian hàng  ngàn năm trong Á Châu, nơi đây những hoa đỏ, trắng và hồng đã rất phổ biến, nhưng cũng không phổ biến như cây Sơn trà camélia, hoa cúc chrysanthème hoặc hoa mẫu đơn pivoine.
▪ Những người Âu Châu Européens vào cuối thế kỷ XVIIIe đã rơi vào yêu thích hoa hồng nhập từ Tàu do khả năng nở hoa nhiều hơn một lần trong mùa, nhưng nó nhận thấy rằng những Cây Hoa Hồng không không quen với cái lạnh và cần phải cách ly.
▪ Sự đam mê của những người Âu Châu Européens đối với một sự kết hợp của sự mộc mạc rusticité và nở hoa lặp lại đã dẫn đến những thí nghiệm lai ghép giống hybridation.
▪ Mọi nười có thể sử dụng những giả quả cynorrhodons như là một nguồn :
- thực phẩm nourriture,
- và vitamines;
nó cung cấp một dạng rất cô đặc của vitamine C,
và như một trà thé, nó đã được quy định từ lâu để ngăn ngừa và chữa trị cho :
- bệnh cảm lạnh rhume.
▪ Những giả quả cynorrhodons sấy khô có thể ngâm trong thời gian từ 10 đến 15 phút trong nước đun sôi để cho được một thức uống làm se thắt nhẹ légèrement astringente.
Chủ trị : indications
▪ Kinh nguyệt không đều menstruations irrégulières,
- đau bụng kinh dysménorrhée,
- vô kinh aménorrhée.
▪ Thương tích chấn thương traumatismes,
- sưng enflures và đau nhức douleurs ở lưng,
- và những chân jambes.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong những vùng Tàu, Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được trồng rộng rãi như một cây cảnh ornementale.
▪ Những giống lai mới khác hybrides với những đặc tính mong muốn đam mê đã được chọn lọc và  ghép chéo để tạo ra một loại mới sáng tạo và những hoa đầy màu sắc khác nhau mới.
▪ Loài cũng lợi ích để tạo ra một loại mới variétés của hoa hồng hiện đại như là :
- những hoa hồng trà lai roses de thé hybrides.
▪ Cây Hoa Hồng Rosa chinensis từ lâu đã được sử dụng trong y học truyền thống Tàu. Loài này và những loài khác đã được sử dụng cho :
- những vấn đề dạ dày estomac,
và được nghiên cứu để :
- kiểm soát sự tăng trưởng của ung thư croissance du cancer.
● Những người cổ đại đã sử dụng y học của Cây Hoa Hồng :
▪ Hoa Cây Hoa Hồng Rosa chinensis (Rosaceae) đôi khi còn được gọi là « vua của những loài Hoa roi des fleurs » cho vị trí được đánh giá cao trgong nhiều văn hóa của con người.
Nó được nổi tiếng của một vẻ đẹp thật sự nêu trên của thực vật có hoa này, nhưng đã biết rằng mỗi bộ phận của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis cũng có những công dụng y học đặc biệt.
▪ Hoa Hồng có một lịch sử dài trong y học tự nhiên, bao gồm một vị trí quan trọng trong y học truyền thống Tàu và dân bản địa amérindienne.
▪ Vào thời Trung cổ médiévale, những Cây Hoa Hồng Rosa chinensis đã được trồng nhiều cho giá trị y học hơn cho làm đẹp của nó.
▪ Trong Bắc Mỹ Amérique du Nord, những bộ lạc khác nhau có những sử dụng y học khác nhau cho thảo dược này.
● Sự sử dụng của những người dân bản địa Américains của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis.
◦ Omahas : Ngâm những rễ hoặc những giả quả của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis để chữa trị :
- viêm mắt inflammation de l'oeil.
◦ Chippewa : Hoa hồng và giả quả cynorrhodons được sử dụng cho thực phẩm dinh dưởng và để chữa trị.
- những nhiễm trùng mắt infections oculaires.
◦ Pawnee : U sưng galles tạo ra bởi côn trùng trên Cây Hoa Hồng Rosa chinensis trong những băng bó pansements cho :
- phỏng cháy brûle.
◦ Arapahos : chữa trị :
- đau nhức cơ bắp douleur musculaire với những hạt trái Cây Hoa Hồng Rosa chinensis.
◦ Cheyenne và Flathead : Cánh hoa, thân và rễ dùng để chữa trị :
- chứng mù tuyết cécité des neiges.
( một chửng phỏng của giác mạc cornée ( mặt trước trong sáng của mắt ) bởi tia cực tím ultraviolets B (UVB). Cũng được gọi là viêm giác mạc kératite do phóng xạ hoặc viêm giác mạc ánh sáng photokératite.
Người Cheyenne thực hiện một trà  thé của vỏ Cây Hoa Hồng Rosa chinensis để chữa trị :
- đau dạ dày maux d'estomac,
- và tiêu chảy diarrhée.
◦ Crows : những rễ Cây Hoa Hồng Rosa chinensis đun sôi và sử dụng hơi nước để :
- bịt miệng bouche d'arrêt,
- và chảy máu mũi saignements de nez,
và bằng băng gạc nóng compresse chaude để chữa trị :
- sưng enflures.
Nghiên cứu :
● Những hành động y học của nó không chỉ là một ước mơ suông. Đối với những hoài nghi sceptiques trong y học của những dược thảo trong công chúng, rất nhiều trong những đặc tính của nó được sử dụng bởi những người thời cổ đại đã được xác nhận bằng cách sử dụng những phương pháp khoa học hiện đại.
Trong năm 2011, Đặc san y học và khoa học cơ bản của Iran đã công bố “ Hiệu quả dược lý pharmacologiques của Cây Hoa Hồng Rosa Damascena", một bài đánh giá của tài liệu trên tính hiệu quả của y học của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis tham khảo gần 100 nghiên cứu.
▪ Những hành động :
- kháng siêu vi khuẩn antimicrobiennes,
- chống nhiễm trùng anti-infectieuses,
- chống bệnh tiểu đường anti-diabétiques,
- chống HIV anti-VIH,
- chống oxy hóa antioxydantes,
- và chống viêm anti-inflammatoires
tất cả đã được kiểm chứng (trong một mức độ nào đó ) với sự giúp đở của khoa học.
▪ Một nghiên cứu đã được đề cập rằng thậm chí những lời tuyên bố đã có những đặc tính :
- chống lão hóa anti-vieillissement có thể.
▪ Trong nghiên cứu, những loài ruồi đực và cái mà chế độ ăn uống được bổ sung với trích xuất của Hoa Hồng Rosa chinensis đã có :
- một sự giảm tử vong đáng kể về mặt thống kê.
- và một tuổi thọ kéo dài hơn.
Người ta nghĩ rằng có thể là những đặc tính chống oxy hóa antioxydantes của Hoa Hồng cũng trách nhiệm :
- của những lợi ích trường thọ longévité.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Chống chỉ định :
▪ Hãy thận trọng với những điều kiện như :
- Suy lá lách rate và dạ dày estomac,
- dùng thái quá có thể là nguyên nhân của tiêu chảy diarrhée.
▪ Không nên dùng một thời gian lâu dài.
● Mang thai Grossesse :
Sử dụng thận trọng trong trường hợp :
- mang thai grossesse,
- và kinh nguyệt khá phong phú règles abondantes.
Ứng dụng :
▪ Được sử dụng cho giai đoạn :
- kinh nguyệt không đều menstruelle irrégulière,
- đau bụng kinh kèm theo sự co thắt của tử cung trước hoặc cùng lúc với thời kỳ kinh nguyệt  algoménorrhée (dysménorrhée).
▪ Quản lý uống :
- nước nấu sắc décoction, 3-6g (nguyên liệu tươi 9-15g); hoặc ngâm trong nước đun sôi infusion; hoặc chế biến như viên nang pilules hoặc những bột.
▪ Áp dụng bên ngoài : với số lượng thích hợp, nguyên liệu tươi nghiền nát để áp dụng hoặc nguyên liệu sấy khô nghiền nhuyễn thành bột để rắc phun bên ngoài.
● Chế biến sử dụng :
Những hoa Cây Hoa Hồng Rosa chinensis thường được sử dụng với những mục đích y học, những rễ và những lá ít thường xuyên hơn.
- Hoa, dùng nấu sắc décoction 3-8 g.
- Rễ và lá 9-15 g.
● Phương cách và sự thưởng thức :
Phương tiện đơn giản nhất để bắt đầu thưởng thức những lợi ích của những Hoa Hồng Rosa chinensis là có thể trong những tách trà thé.
Khi người ta bắt đầu thử nghiệm vời thuốc Hoa Hồng Rosa chinensis, lần đầu tiên thực hiện từ Trà Hoa Hồng Rosa chinensis.
▪ Thu lượm những giả quả và sừ dụng tươi chúng hoặc sấy khô bằng không khí và bảo quản trong một lọ thủy tinh cho đến mức độ cần thiết.
▪ Nó có thể được thêm vào một trà hằng ngày cho lợi ích tăng cường miễn nhiễm immunitaires hoặc sử dụng khi cần .
▪ Một trà cũng có thể thực hiện với 2 tách nước, 1 tách cánh hoa Hồng và và sirop d'agave hoặc érable như một chất làm hương vị ngọt.
Khi thu hoạch Hoa Hồng Rosa chinensis để làm trà, để cánh Hoa mỏng manh nhẹ nhàng và lựa chọn những cánh hoa tươi không bị hư.
Đun sôi trà với lửa nhỏ trong khoảng 5 phút hoặc cho đến những cánh Hoa Hồng biến đổi màu.
Sau đó nhấp nháp và thưởng thức. Cây Hoa Hồng Rosa chinensis được gọi là Vua của những loài Hoa cho một lý do chính đáng.
Nó ngự trị như một biểu tượng phổ quát của vẻ đẹp và tình yêu, nó đầy những hương vị và thuốc, một sự trao tặng thật sự, nó có thể mang lại cho thế giới con người tốt hơn với một cái nhìn màu sắc sặc sở, một sự hít thở hương thơm, hoặc  một tách trà thé nóng.
● Cây cảnh :
Cây Hoa Hồng vườn cảnh Rosiers de jardin
Đa số những Cây Hoa Hồng cây cảnh roses ornementales là những Hoa Hồng lai giống hybrides đã được lai tạo cho những hoa của nó.
Vài Cây Hoa Hồng Rosa chinensis, cho phần lớn của những loài, được trồng để thu được một tàn lá Cây hấp dẫn hoặc mùi thơm (như Rosa glauca và Rosa rubiginosa), của những gai kim trang trí làm cảnh épines ornementales (như Rosa sericea) hoặc những trái bắt mắt ( như Rosa moyesii).
▪ Những Cây Hoa Hồng cảnh roses ornementales đã được trồng từ ngàn năm nay, Cây trồng đầu tiên được biết sớm nhaết ít nhất 500 trước J.-C. trong những nước ở Địa Trung Hải méditerranéens, trong Perse và trong Tàu.
Hàng ngàn Cây Hoa Hồng lai giống và Cây trồng đã được nhân giống và chọn lựa để được sử dụng trong vườn Cây thực vật có Hoa.
▪ Hầu hết những Hoa đôi với nhiều hoặc tất cả những nhụy đực đã đột biến muté thành những cánh hoa bổ sung thêm.
▪ Ở đầu thế kỷ XIXe, Nữ hoáng Joséphine của Pháp đã bảo trợ sự phát triển của giống Hoa Hồng Rosa chinensis  trong những vườn Cây của Malmaison.
Từ năm 1840, một bộ sưu tập có trên ngàn giống trồng khác nhau, những loại variété và loài espèces đã có thể được sử dụng khi một vườn ươm Hồng đã được trồng bởi vườn ươm Loddiges cho nghĩa trang Abney Park, một nghĩa trang cimetière và môt vườn trồng cây ở vườn Cây victorien trong Anh Quốc.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Bộ phận ăn được : Hoa, Trái, Lá, Hạt, và Thân.
Những sự sử dụng ăn được :
▪ Những ngọn của chồi non, những nụ hoa boutons floraux và những hoa được nướng étuvé và ăn như cháo potage hoặc thêm vào trong súp soupes.
▪ Trái, dùng sống hoặc chín.
▪ Trái đo được khoảng 20 mm đường kính, nhưng nó chỉ có một lớp mỏng nạt thịt bao chung quanh nhiều hạt.
▪ Những đề phòng phài có khi tiêu dùng những trái này.
Những chồi non cắt nhỏ có thể ăn sống được.
▪ Hạt là một nguồn tốt cho vitamine E, nó có thể được nghiền nát và pha trộn với bột mì hoặc thêm vào những thức ăn khác để bổ sung.
▪ Bảo đảm là đã lấy hết những lông của những hạt.
▪ Những hoa, trái, lá, hạt và thân của Cây Hoa Hồng rosa chinensis là ăn được comestibles và cũng hình thành những thành phần của nhiều món ăn.
▪ Những chồi non Cây Hoa Hồng Rosa chinensis có thể ăn sống sau khi lột lớp vỏ ngoài.
Sau khi loại bỏ những lông của hạt, nó có thể pha trộn với bột farine và sau đó được nấu ăn cho phù hợp với khẩu vị.
▪ Theo truyền thống, những người dân bản địa Amérindiens đưa những trái vào trong những súp soupes và những món hầm ragoûts sau khi đã sử dụng chúng trong một trà thé, bởi vì quá trình ngâm không loại bỏ hoàn toàn đầy đủ vitamines và nó tạo ra một hương vị thú vị, một ít như sả citronnelle được sử dụng trong nấu ăn của người thái-lan thaïlandaise và việt-nam vietnamienne.
▪ Những cánh Hoa Hồng Rosa chinensis đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để làm những dầu thơm parfums, và nó cũng có thể được xào sautés và ăn, hoặc chế biến thành rượu vin.
● Phương cách thêm những Hoa Hồng vào trong thực phẩm alimentation
▪ Những chồi non của Cây Hoa Hồng Rosa chinensis là ăn được nấu chín.
▪ Những nụ hoa hồng boutons de rose có thể được ngâm marinés
▪ Sirop của cánh hoa Hồng có thể làm thơm những bánh ngọt gâteaux, những kem đá glaçages,
▪ Trà thé với những cánh hoa Hồng pétales de rose
▪ Cánh Hoa Hồng pétales de rose dùng trong salade
▪ Giả quả Cynorrhodons ăn tươi như kẹo bonbons cho hương vị và vitamine C
▪ Những giả quả Cynorrhodone làm trà thé :
- kích thích tính miễn nhiễm stimulant immunitaire
▪ Giả quả Cynorrhodons trong những mứt confitures, những sốt sauces và những tương ớt chutneys
▪ Giả quả Cynorhodons khô, xay thành bột nhuyễn moulus và thêm vào trong bánh biscuits, những bánh ngọt gâteaux và những món tráng miệng desserts
▪ Những hạt Hoa Hồng loại musquée có thể ăn tiêu dùng như :
- lợi tiểu diuretique.

Nguyễn thanh Vân