Tâm sự

Tâm sự

lundi 12 février 2018

Mỏ quạ - Cockspur Thorn

Cockspur Thorn
Mỏ quạ
Maclura cochinchinensis - (Lour.) Corner
Moraceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học :
▪ Cudrania javanensis Trécul (1847),
▪ Maclura javanica Blume (1856),
▪ Cudrania cochinchinensis (Lour.) Kudo & Masam. (1932).
Tên thông thường :
▪ Indonesia : kayu kuning (general), tegeran, soga tegeran (Javanese)
▪ Malaysia : kederang, kedrae
▪ Philippines : kokom-pusa (Ilokano), talolong (Ilokano, Igorot), patdang-labuyo (Tagalog)
▪ Cambodia : khlaè, nhoër khlaay
▪ Thailand : kae kong (Phrae), kae lae (central), klae (peninsular)
Tên Việt Nam : Cây Mỏ quạ, Vàng lô, Gai mang
Nguồn gốc và sự phân phối địa lý :
Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis, thông thường được gọi là cockspur thorn, là một loài dây leo hoặc tiểu mộc bụi thuộc họ Moraceae.
Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis được phân bố cực kỳ rộng rãi. Người ta tìm thấy từ dãy núi Himalaya ở Népal và Ấn Độ Inde đến Nhật Bản Japon, và phía nam thông qua Malaisie cho đến bán đảo Bismarck, Nouvelle-Calédonie và phía đông Úc Châu Australie.
Phạm vi phân phối tự nhiên trải dài từ Tàu đến Malaisie thông quan bởi Queensland và miền bắc của nam Nouvelle-Galles.
▪ Cây được phổ biến trong những rừng nhiệt đới khô, những rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới, dọc theo những dòng nước chảy lởm chởm. Cây này có thể sống hàng trăm năm. Nó có lợi ích như một môi trường làm tổ cư trú cho những loài chim nhỏ ăn trái.
Những trái hình cầu ăn được, màu vàng ngọt và ăn được và nthành phần của nó là nguồn dinh dưởng truyền thống cho những thổ dân Úc Aborigènes d'Australie.

Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Đại mộc, đạt đến khoảng 10 m dài và 15 cm đường kính, thẳng, thường như dây leo nhưng đôi khi những hoa và những trái như một Cây bụi không thứ tự, vỏ nâu đỏ, với bì khẩu tròn, gai ngay, mũ latex trắng, đường kính của thân dây leo khoảng 5 cm.
Những nhánh thân nhỏ thường trang bị của những gay lớn uốn cong hay thẳng khoảng 8-10 mm, đôi khi rất kín đáo.
Những thân, những nhánh và những cuống sản xuất dịch tiết của vỏ có màu trắng hoặc màu kem crème nhưng hơi có nước. Một lớp màu cam thường nhìn thấy ngay dưới vỏ cây chết.
Lá, có phiến cứng, láng tròn dài, xoan ngược hay thon ngược, không lông, cuống lá mảnh, 1 cm. Lá chét rụng sớm, hẹp hình tam giác, khoảng 1-2 mm dài.
Phiến lá dạng ellip mũi dáo thuôn dài, khoảng 3,5-7 x 2-3,5 cm, mỏng và dai như da, nhẵn mũi cong, cuống lá khoảng 0,8-1,2 cm dài. Những gân lá thứ cấp 7-10 mỗi bên của gân lá giữa, những gân lá bậc ba được kết nối như mạng lưới. Gân lá bên hình thành một vòng bên trong  của bìa của phiến lá.
Phát hoa, mọc ở nách lá, hoa đầu, tròn, đơn phái biệt chu, thường đôi nhưng cũng cô độc, cuống ngắn, cọng có lông mịn, gồm :
- phát hoa đực hoa đầu 6-10 mm đường kính, với 4 nhụy đực, có cuống.
- phát hoa cái từ 6 đến 8 mm đường kính, chứa những hoa với 4 nhụy đực lép, có lông, cuống dài 1 cm.
Hoa được bao trong những đầu rậm khoảng 7-11 mm đường kính. Bao hoa nạt.
- đài hoa và cánh hoa giống nhau gọi là tépales khoảng 3-3,5 mm dài.
- nhụy đực, gắn vào tépales. Phấn hoa màu trắng.
- Những nhụy cái và những vòi nhụy vượt qua phát hoa và trông như một đuôi heo thu nhỏ lại.
Hoa đực : gồm hoa đực có 4 phân, không đều nhau, bao phấn ngắn,  lá đài có 2 khối hơi vàng, có nhụy cái lép dạng kim tự tháp hoặc hình lá chắn.
Hoa cái : hoa cái có 4-5 lá đài rời hoặc, 1 vòi nhụy gần như nguyên, đỉnh dày.
Trái, khối trái to hình cầu, nạt thịt, như quả cam nhỏ, 5 cm đường kính, với nhiều bế quả 5 x 4 mm, màu đỏ khi chín, có lông mịn, những vòi nhụy đen còn lại trên trái gắn ở đỉnh những trái.
Hạt, tròn đường kính khoảng 5 mm màu nâu.
Bộ phận sử dụng :
Gỗ, rễ, vỏ rễ
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Lõi gỗ của Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis sản xuất một  màu nhuộm vàng.
▪ Vỏ của Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis (Cudrania javanensis) đã mang lại :
- osajaxanthone,
- acide vanillique,
- monméthylfumarate,
- acide p-hydroxybenzoïque
- và (-) - (S) -stachydrine. (1)
▪ Nghiên cứu phân lập một isoflavonoïde :
- 5,7,4'-trihydroxy-6,3'-diprenylisoflavone (2)
▪ Nghiên cứu của những rễ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis đã phân lập :
- một xanthone mới (1),
- và một xuất hiện xanthone tự  nhiên mới (2).
với 10 xanthones được biết (3-12).
▪ Nghiên cứu những rễ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis (Cudrania cochinchinensis) đã phân lập được sáu (6) hợp chất đã được xác định như :
- 3, 5, 7, 4 "-tétrahydroxyflavanone-7-O- (6" -acétyl) -glucoside (1),
- 3, 5, 7, 4'-tétrahydroxyflavanone -7-O-glucoside (2),
- 2 ', 4', 5, 7-tétrahydroxy-6-prényldihydroflavanone (3),
- 5, 7, 4'-trihysdroxy-6-prénylisoflavanone (4),
- 1, 3, 5 , 6-tétrahydroxyxanthone (5),
- stilbène-2, 4, 3 ', 5'-tétraol (6). (14)
▪ Nghiên cứu những trích xuất éthanolique của rễ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis đã phân lập được 1 flavonoïde mới :
- (6S, 12S, 13R) -1-méthoxy cyanomaclurine (1),
cũng như bảy 7 hợp chất được biết như :
- 1,3,5-trihydroxy-4- (3'-hydroxy -3-méthylbutyl) xanthone (2),
- 1,3,6-trihydroxy-4-prénylxanthone (3),
- 1,3,6,7-tétrahydroxyxanthone (4),
- 1,3,5,6-tétrahydroxyxanthone ( 5),
- 1,3,6-trihydroxy-5-méthoxyxanthone (6),
- resvératrol (7),
- và oxyresveratrol (8).
▪ Nghiên cứu vỏ của rễ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis sản xuất 1 xanthone mới :
- 1,6,7-trihydroxy-4- (1,1-diméthylallyl) -3-méthoxyxanthone (1)
và một xanthone được biết dưới tên :
- 1,5,6-trihydroxy-4- ( 1,1-diméthylallyl) -3-méthoxyxanthone (isocudraniaxanthone B (2).
▪ Chất màu trong gỗ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis là có thể :
- morine và / hoặc maclurine,
chúng cũng hiện diện trong những thực vật nhuộm màu teinture khác như là Cây Chlorophora tinctoria (L.) Gaudich. (xưa cũ là fustic) của Nam Mỹ Amérique du Sud và Trung Mỹ Centrale.
▪ Những chất hiện diện trong vỏ và trong gỗ của Cây bao gồm :
- cudraniaxanthone,
- acétate de butyrospermol,
- kaempférol,
- aromadendrine,
- populnine,
- quercétine,
- và taxifoline.
▪ Lõi của gỗ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis có màu sắc của gan và cứng.
Đặc tính trị liệu :
▪ Gỗ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis được sử dụng để chữa trị :
- những bệnh sốt fièvres.
▪ Một nước nấu sắc décoction của những rễ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis được sử dụng để làm giảm :
- ho toux.
▪ Những nghiên cứu đã báo cáo những đặc tính :
- chống ung bướu khối u anti-ulcéreuse,
- hạ sốt antipyrétique,
- chống viêm gan anti-hépatite,
- chống dị ứng antihistaminique,
- chống co thắt antispasmodique,
- chống siêu vi khuẩn antivirale,
- chống nấm antifongique,
- chống loài vi khuẩn hiếu khí antimycobactérienne của họ Mycobactérionaceae, bao gồm những vi khuẩn bệnh lao Mycobactérium tuberculosis, vi khuẩn bệnh lao Mycobactérium africanum, .....,
- chống viêm anti-inflammatoire.
Kinh nghiệm dân gian :
• Ở Philippines, nước nấu sắc décoction của rễ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis được sử dụng để giảm :
- bệnh ho toux;
cũng được sử dụng cho :
- đau dạ dày gastralgie.
▪ Ở Sarawak, Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis được sử dụng :
- sau khi sanh con accouchement :
• Ở Moluques, bột nhão pâte làm từ gỗ xay nhuyễn được áp dụng như yếu tố làm lạnh cho :
- bệnh sốt fièvres.
• Ở Taïwan, được sử dụng để :
- giảm đau analgésique,
- và chống viêm anti-inflammatoire.
• Trong Thaïlande, sử dụng theo truyền thống cho :
- bệnh sốt mạn tính fièvre chronique,
- những nhiễm trùng da infections cutanées,
- và những bất thường của những hạch bạch huyết ganglions lymphatiques.
Nghiên cứu :
● Thành phần cvhống virus herpès đơn giản virus anti-herpès simplex được phân lập từ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis.
Bunyapraphatsara N1, S de Dechsree, Yoosook C, Herunsalee A, Panpisutchai Y.Résumé
Hoạt động mạnh chống virus chống anti-herpès simplex (HSV) của Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis trong ống nghiệm in vitro nhắc nhở chúng ta thực hiện một sự chia tách những thành phần hoạt động hướng dẫn theo hướng sinh học biologiquement.
Những trích xuất acétate d'éthyle và méthanol thể hiện một hoạt động chống HVS-2 anti-HSV-2 với những giá trị của CE50 là 38,5 microgrammes / ml và 50,8 microgrammes / ml, tương ứng.
Mặc dù, trích xuất éther dầu hỏa (pétrole) là không hoạt động inactif, một trích xuất chloroforme là quá độc hại toxique cho việc nuôi cấy tế bào thử nghiệm để thực nghiệm cho việc thử nghiệm.
Một sự chia tách sắc ký hướng dẫn sinh học chromatographique biologiquement guidée của trích xuất acétate d'éthyle đã mang lại thành phần A, được xác định như là thành phần morine bằng cách sử dụng một phương pháp quang phổ spectroscopique.
Thành phần morin thể hiện một hoạt động chống HSV-2 anti-HSV-2 với một giá trị CE50 là 53,5 microgrammes / ml.
Thành phần pentaacétate Morin đã được tổng hợp nhưng không hoạt động inactif.
Kết quả này cho thấy rằng những nhóm hydroxyle tự do được yêu cầu cho hoạt động chống HVS anti-HSV, như đã chứng minh trước đây cho hoạt động chống siêu vi khuẩn antivirale của những flavonoïdes khác.
● Hiệu quả điều trị trên xơ gan fibrose hépatique gây ra bởi CCl4:
Nghiên cứu khảo sát những hiệu quả chống xơ gan anti-fibrose hépatique của một trích xuất nước của Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis (Cudrania cochinchinensis) ở chuột.
Những kết quả cho thấy rằng một hiệu quả điệu trị đáng kể trên xơ gan fibrose hépatique gây ra bởi tétrachlorure de carbone ở chuột.
● Kháng khuẩn Antibactérien / Chống bệnh nấm da Antidermatophytique :
Nghiên cứu trích xuất chloroformique thô của gỗ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis đã cho thấy một hoạt động mạnh kháng khuẩn antibactérienne chống lại Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis và Bacillus subtilis và cho thấy một sự ức chế chống lại tất cả những bệnh nấm của da dermatophytes.
● Chống bệnh ghẻ phỏng Herpes Anti-Herpes / Morin :
Nghiên cứu đánh giá hoạt động chống ghẻ phỏng anti-herpétique trong ống nghiệm in vitro của Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis.
Những trích xuất acétate d'éthyle và methanol thể hiện một hoạt động chống HSV anti-HSV với những giá trị E50 là 38,5 và 50,8 microorganismes / ml, tương ứng.
Nghiên cứu cho thấy một morin thể hiện một hoạt động chống HSV anti-HSV với giá trị CE50 là 53,5.
● Flavonoïdes / Bảo vệ gan Hépatoprotecteur :
Nghiên cứu đánh giá những hiệu quả bảo vệ gan foie của những flavonoïdes của Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis trong một mô hình của tổn thương gan cấp tính hépatique aiguë gây ra bởi CCl4 ở chuột.
Những kết quả cho thấy rằng những flavonoïdes có hoạt động bảo vệ gan hépatoprotectrice, điều này chứng minh một khả năng ngăn ngừa đáng kể của sự gia tăng của những nồng độ ALT, AST và MDA và một sự gia tăng của SOD.
● Flavonols / Chống oxy hóa Antioxydant / Rễ :
Nghiên cứu những rễ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis đã phân lập 2 flavonols mới, 6-p-hydroxybenzyl-kaempférol (1) và 6-p-hydroxybenzyl-quercétine (2), cũng như 6 hợp chất được biết.
Đánh giá khả năng chống oxy hóa antioxydante cho thấy rằng những hợp chất 2, 4 và 7 có một hoạt động truy tìm gốc tự do piégeage radicalaire đáng kể.
● Bảo vệ gan Hépatoprotecteurs / flavonoïdes / Wighteone và Naringenin :
Nghiên cứu trích xuất éthanol mang lại 3 hợp chất flavonoïdes từ những phần đoạn EtOAc và n-BuOH.
Ba flavonoïdes cụ thể : welftein, naringénine và populnine (kaempférol-7-glucoside) đã cho thấy những hiệu quả bảo vệ gan hépatoprotecteurs quan trọng hơn trên những tổn thương gan hépatiques gây ra bởi CCl4 hơn trên gây độc gan hépatotoxicité gây ra bởi D-GaIN bằng cách đảo ngược thay đổi những phân hóa tố enzymes huyết thanh sériques và trong ngăn ngừa sự phát triển của những tổn thương gan lésions hépatiques.
Những kết quả cho thấy rằng thành phần nighingone và naringénine là hai nguyên chất hoạt động bảo vệ gan hépatoprotecteurs actifs.
● Thành phần chống nấm antifongiques / rễ :
Phần đoạn thử nghiệm sinh học hướng dẫn Bioassay-guided fractionation của những trích xuất rễ của 4 yếu tố chống nấm antifongiques đã được phân lập, là 2 hợp chất mới được biết : cudraxanthone S (1) và cudraflavanone B (2), và 2 trong những hợp chất đã biết toxyloxanthone C (3) và wighteone (4).
Những thành phần hợp chất 1, 3 và 4 thể hiện những hoạt động chống nấm chống lại những nấm Cryptococcus neoformans, Aspergillus fumigatus và A. nidulans; những hợp chất 1 và 3 cũng cho thấy một hoạt động chống nấm antifongique chống nấm Candida glabrata.
● Xanthones / Thụ thể của acide rétinoïque - một hoạt động như chất khởi đầu phản ứng sinh lý khi kết hợp với thụ thể agoniste / rễ :
Nghiên cứu của những rễ đã phân lập một xanthone mới (1) và một xanthone (2) tự nhiên mới với 10 xanthones đã biết (3-12).
Nghiên cứu đánh giá thụ thể của acide rétinoïque - một hoạt động agoniste.
Hợp chất xanthone tự nhiên mới (2) , gérontoxanthone A (3) và gérontoxanthone B (4) và cudraxanthone (11) thể hiện một hoạt động phụ thuộc vào nồng độ vừa phải.
● Chống oxy hóa Antioxydant / lá :
Trong một nghiên cứu của 57 trích xuất méthanol của 54 loài, Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis là một trong những 16 loài cho thấy một hoạt động mạnh chống oxy hóa mạnh antioxydante, cho thấy một hoạt động truy tìm của những gốc tự do piégeage des radicaux libres với IC50 là 196 ± 89,56 μg / mL.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không biết, cần bổ sung.
Khi sử dụng để chữa trị, cần tham khảo ý kiến những người chuyên môn về thảo dược, chuyên lo sức khỏe.
Ứng dụng :
● Sự sử dụng khác :
▪ Thuốc nhuộm Teinture :
- Lõi của gỗ Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis sản xuất một thuốc nhuộm vàng colorant jaune được sử dụng trong công nghệ batik là kỹ thuật in vải ở Java;
▪ Trong Thaïlande cho nhuộm truyền thống của những vải tissus.
Pha trộn với thuốc nhuộm indigo, nó tạo ra một chất nhuộm màu xanh lá cây vert.
▪ Lõi gỗ của Cây Mỏ quạ Maclura cochinchinensis, đặc biệt của những rễ to lớn, nhưng cũng như thân, được sử dụng để nhuột những vải dệt textiles màu vàng.
▪ Một thuốc nhuộm vàng thu được.
khi với :
- chất phèn alun được sử dụng làm chất cầm màu mordant,
- một màu xanh lá cây thu được khi pha trộn với chất indigo {Indigifera spp),
- màu đỏ khi được kết hợp với gỗ của Cây sappan (Caesalpinia sappan),
- và màu cam-xanh lá cây orange-vert với nghệ curcuma (Curcuma longa).
Nó cũng được sử dụng trong những hỗn hợp thuốc nhuộm với những Cây khác.
▪ Đây là một thành phần của "soga-batik" truyền thống, với vỏ của Cây Ceriops tagal và Peltophorum pterocarpum.
Đôi khi, thuốc nhuộm được sử dụng để nhuộm màu những vật liệu khác như những thảm .
Trong quá trình sử dụng truyền thống của “soga-batik”, gỗ được cắt thành những mảnh nhỏ (3 - 5 cm) và pha trộn với vỏ nghièn nát của Cây Ceriops tagal và Cây Peltophorum pterocarpum, thường theo tĩ lệ 1: 2: 4, nhưng những tĩ lệ khác cũng được sử dụng, tùy thuộc vào màu người ta muốn.
▪ Hỗn hợp được đưa vào trong chảo, ngập nước và đun sôi cho đến khi sắc đặc đến độ nhất quán tốt, điều này thường tương ứng với khoảng 8 giờ.
Sau khi làm lạnh, lọc và khoảng 2 giờ kết tủa, chất lỏng được chuyển sang một chảo khác và được sử dụng để nhuộm hàng dệt bông.
▪ Hiệu quả này, hàng dệt vải, một phần được phủ bởi một lớp sáp cire, nơi đây sự nhuộm màu không được nhuộm, được ngâm infusion trong nước ấm đến lạnh ( không nóng ) cho đến khi hấp thụ đồng nhất. Sau đó vải nhuộm được phơi khô trong bóng râm.
Quá trình ngâm và sấy khô này được lập lại ít nhất khoảng 20 lần cho một “soga-batik” cho một phẩm chất qualité tốt.
Tuy nhiên, “soga-batik” truyền thống, sản phẩm với nó quá đắc tiền và chỉ được sử dụng trong những buổi lễ, đặc biệt bởi những tầng lớp quý tộc javanaise.
Vì nhu cầu "soga-batik" giảm và có được gỗ trở nên ngày càng khó khăn, việc sử dụng thuốc nhuộm thực vật được đánh giá cao trong nền văn hóa javanaise có thể được dự kiến sẽ biến mất hoàn toàn trong tương lai gần.

Nguyễn thanh Vân

jeudi 8 février 2018

Tầm sét - Giant potato

Giant potato
Tầm sét – Khoai xiêm
Ipomoea mauritiana Jacq.
Convolvulaceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học đồng nghĩa :
- Ipomoea paniculata (L.) R.Br. (1810).
- Ipomoea digitata Clarke
Danh pháp thông thường :
▪ Natal cotton plant, giant forest ipomoea, palmate morning glory (En),Pomme de terre géante.
▪ Tên gọi Việt Nam :
- Tầm sét, Khoai xiêm
▪ Nguồn gốc của Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana chưa được biết, nhưng nó có thể là ở trong vùng Châu Mỹ nhiệt đới Amérique tropicale, nơi đây họ hàng của nó liên hệ gần nhất.
Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana thường được xác định nhầm lẫn với Ipomoea digitata (Linnaeus) Linnaeus, một loài đặc hữu của những đảo Antilles, không xảy ra trong Châu Á Asie.
Khoai Tây vĩ đại pomme de terre géante là một loại thực vật trồng như một khoai lang, nó thuộc về giống Ipomoea.
Nó mọc như một dây nho, nó hiện diện trong tất cả mọi nơi trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nó được tịch hóa trong nhiều bộ phận trên thế giới.
Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được liệt kê ở hầu hết những nước Châu phi nhiệt đới và nam phi Afrique du Sud.
Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana tìm thấy trong những rừng rậm và rừng mở, nơi ven rừng, trong những thảo nguyên, rừng gần bờ biển, trên bờ sông, đầm lầy, thường ở những nơi đất cát, ở những độ cao đến 2500 m so với mực nước biển.
Người ta cũng tìm thấy trên những bãi đất trống và trong những đồn điên Cây Giá tị Tectona và Cây Tu hú Gmelina.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Dây leo lớn hoặc bụi, thân leo trường hoặc thẳng, xoắn hình trụ bền vững, láng, thân đôi khi có thể đạt đến 10 m, mảnh thân vuông với rễ biến thành củ lớn, thường có nhựa sữa trắng latex.
Lá, mọc cách, cuống lá 3–11 cm dài, phiến lá với đường viền vòng tròn, hiếm khi lá nguyên hoặc hơi có thùy, thùy nguyên hay dợn sóng, xẻ sâu hình chân vịt từ 5 đến 7 thùy kích thước từ 6–24 cm × 6–18 cm, đáy hình tim hoặc cắt cụt, thùy hình mũi dáo đến bầu dục với đỉnh nhọn, láng hoặc có lông mịn ở rãi rác dọc theo gân chánh.
Phát hoa, hoa cô độc hoặc kết hợp thành tụ tán, chùm, ở nách lá, hay ở ngọn,  mang vài hoa hoặc nhiều hoa, cuống phát hoa dài từ 2,5 đến 20 cm, lá bắc rụng sớm.
Hoa, lưỡng phái, đều, 5 phần, thường loè loẹt, rực rở, dạng hình cái quặng, kích thước 5-6 cm đường kính, nụ phát hoa hình cầu, cuống hoa 1–2,5 cm dài;
- đài hoa, rời, thường không rụng sớm, đôi khi còn tăng trưởng theo trái, lồi lõm rõ rệt, bao quanh ống vành, hình cầu hoặc hình ellip, từ 6-12 mm dài đỉnh tù.
- vành hoa, hình cái quặng, hình ống hẹp ở đáy, từ 5–7 cm dài, toả ra ở đỉnh nhiều hoặc ít hơn 5 thùy, từ 6–9 cm đường kính, màu hồng đến tím đỏ nhạt với trung tâm đậm màu.
- Nhụy đực, bao gồm tiểu nhụy étamines; mọc sen kẻ với những thùy của cánh hoa, hình sợi, bằng nhau hoặc có chiều dài không bằng nhau, bao phấn mở ra bên trong của hoa gọi là introrse, khai ở bên và theo chiều dọc, phấn hoa trơn láng hoặc có gai mịn.
- nhuỵ cái, bầu noãn, thượng, đĩa hình khuyên hoặc hình chén, hầu hết 2 tâm bì, 1 hoặc 2 buồng, ít khi 3 hoặc 4 buồng, noãn bên dưới dựng đứng, vòi nhụy 1 hoặc 2 mỏng ở ngọn hoặc rất ngắn hay vắng mặt, nướm hình đầu, nguyên hoặc 2 hay 3 thùy.
Trái, nang hình trứng, 1,2–1,4 cm dài, khai bởi nhửng van valves, nấp đậy hoặc vỡ ra bất thường, bên trong chứa 4 hạt.
Hạt, từ 6–7 mm dài, màu đen, bao phủ bởi những lông dài khoảng 7 mm dễ dàng vỡ ra.
Những hoa của Cây Tầm sét Ipomoea mauritina chỉ mở ra cho những côn trùng đến thăm trong một thời gian rất ngắn. Trong thảm thực vật ở Brésil, hoa nở xảy ra giữa 5 h 30 và 6 h, và đến 11 h những hoa hoàn toàn khép lại.
Bộ phận sử dụng :
Lá, nhánh cành lá, rễ củ.
Thành phần hóa học và dược chất :
Củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana chứa :
- β-sitosterol,
- và glycoside- paniculatin (Asolkar và al., 1992).
▪ Trích xuất méthanol của những rễ củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana chứa :
- taraxérol,
- acétate de taraxérol,
- β-sitostérol,
- scopolétine
- và 7-O-β-D-glucopyranosyl scopolétine (scopoline).
▪ Rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana cũng chứa chất umbelliférone C9H6O3.
Người ta đã liệt kê rằng những rễ có nguồn gốc Ấn độ chứa :
- 1,3% của dầu thành phần của glycérides d’acide oléique (60%),
- acide linoléique (19%),
- acide palmitique (8%),
- và acide linolénique (1%).
▪ Những hạt Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana chứa một chất gôm gomme có thể là lợi ích trong bào chế thuốc médicaments.
▪ Những hạt tinh bột grains d’amidon, những hạt có kích thước không đều nhau và tinh bột amidon gây ra ít độ nhờn viscosité hơn trong nước so với tinh bột khoai tây pomme de terre.
▪ Những thử nghiệm của trích xuất méthanol cho thấy hàm lượng chất :
- scopolétine 0,029–0,034%.
▪ Mặc dù thành phần scopolétine đã được báo cáo trong trích xuất méthanolique của củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana, nó vẫn chưa được định lượng quantifiée.
Người ta đã sử dụng chất scopolétine như một chất đánh dấu hoạt động sinh học bioactif quan trọng và đã định lượng nó trong những củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana
▪ Scopolétine thuộc nhóm của những hợp chất của loại coumarine (6-méthoxy-7-hydroxy-coumarine) và được ghi nhận trong ít nhất 27 họ, bao gồm những Cây Convolvulus pluricaulis, Bất giao thon Evolvulus alsinoides họ Convolvulaceae, Dây Bông biếc Clitoria ternatea họ Fabaceae và Cây Can chéo Canscora decussata họ Gentianaceae.
▪ Scopolétine là một hợp chất huỳnh quang fluorescent với λmax 230, 254, 260, 298, 346 nm.
▪ Scopolétine cho là có một hoạt động :
- chống viêm anti-inflammatoire,
- điều biến tính miễn nhiễm immunomodulatrice,
- và chống oxy hóa antioxydante.
▪ Trong Ấn Độ Inde, những quy trình giao thức và những tiêu chuẩn hóa chất thực vật phytochimiques và quan sát vi cấu trúc bằng kính hiển vi microscopiques đã được phát triển để dùng trong kiểm soát phẩm chất qualité của bột thô của rễ củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana.
Trong số những đặc tính vi cấu trúc điển hình microscopiques typiques của những củ của Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana, người ta có sự hiện diện của :
- tinh thể cristaux kết hợp lại,
- những hạt tinh bột đơn giản grains d’amidon simples,
- và những hợp chất với những kích thước từ 10–50 μm,
- và những mảnh tế bào của những kênh chứa sữa trắng latex canaux laticifères màu cam nâu.
▪ Một thử nghiệm truy tìm trong Ấn Độ Inde đã cho thấy rằng Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana có một hoạt động :
- kháng nấm antifongique vừa mạnh chống lại loài nấm  Rhizoctonia solani.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana là lợi ích như thuốc :
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- bổ tim cardiotonique,
- chất làm mềm émollient,
- lợi tiểu diurétique,
- chất làm lạnh réfrigérant,
- lợi sữa galactogogue,
- và là một thuốc bổ tonique.
▪ Nó được sử dụng trong tiêu dùng cho :
-  sự tiều tụy hốc hác émaciation,
- bệnh sốt thương hàn fièvre entérique,
- và di tinh mộng tinh spermatorrhée.
▪ Bột của rễ củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana, khi được thêm vào trong chế độ ăn uống của những con chuột trong thời gian 28 ngày, đã gây ra một sự giảm đáng kể và liều dùng phụ thuộc vào :
- tổng số cholestérol (total),
- và những đường mỡ huyết thanh triglycérides du sérum.
▪ Nó cũng mang lại một sự gia tăng đáng kể và liều dùng phụ thuộc :
- cholestérol HDL (lipoprotéine de haute densité) của huyết thanh sérum.
▪ Người ta quan sát ngoài ra những sự giảm đáng kể trong :
- nồng độ đường glucose huyết thanh sérum,
- và nồng độ cholestérol LDL (lipoprotéine de basse densité) của huyết thanh sérum,
 với những liều khác nhau của bột poudre (0,01, 0,033 và 0,1% của trọng lượng chế độ ăn uống poids du régime).
▪ Những kết quả cho thấy rằng sự tiêu thụ thường xuyên bột của rễ củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana có thể có lợi ích cho những người mắc phải :
- bệnh động mạch vành maladies coronaires,
- và bệnh tiểu đường diabète,
hoặc có xu huớng mắc bệnh này.
▪ Rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana là :
- chất thay thế altérative,
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- thuốc lợi mật cholagogue,
- thuốc làm êm dịu, đở đau démulcente,
- lợi sữa galactagogue,
- và là một thuốc bổ tonique
Nó được sử dụng trong chữa trị :
- bệnh sốt fièvres,
- và viêm phế quản bronchite,
- những bệnh của lá lách rate,
- và của gan foie,
- rối loạn kinh nguyệt ménorrhagie,
- chứng suy nhược débilité,
- và sự tích tụ chất béo accumulation de graisse.
▪ Những lá và những rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được sử dụng bên ngoài cơ thể để chữa trị :
- bệnh lao tuberculose,
và để chữa trị :
- những bệnh nhiễm trùng bên ngoài cơ thể infections externes,
- và vú mammaires
▪ Rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được đập nát và được áp dụng trong thuốc dán đắp cataplasme ở :
- bệnh sưng enflures
▪ Bột rễ được dùng cho những bệnh của :
- lá lách rate và của gan foie,
cho :
- chứng rối loạn kinh nguyệt ménorragie,
- suy nhược débilité,
- và tích tụ chất béo accumulation de graisse.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Y học truyền thống Ấn Độ Ayurveda, một nước nấu sắc décoction của rễ củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được sử dụng để chế biến của rượu thuốc vin médicinal.
Tên gọi của y học ayurvédique là Kiribadu Ala, và nó cũng là một thành phần trong Chyavanprash, một loại mứt confiture của ayurvédique dùng để tái tạo cơ thể.
▪ Những củ của Vidari tên gọi của Cây Tầm sét Ipomoea maurutiana của hệ thống y học truyền thống Ấn Độ Ayurvédique, được sử dụng trong hơn 45 công thức của Ayurveda và trong nhiều trường hợp, cũng được sử dụng như thuốc duy nhất.
▪ Trong bán đảo Mã lai Malaisie péninsulaire, rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được đập nát và áp dụng trong thuốc dán đắp cataplasme ở :
- nơi sưng gonflements.
▪ Trong Ấn Độ Inde và ở Philippines, rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được xem như :
- một thuốc bổ tonique,
- chất thay thế altératrice,
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- chất làm mềm émolliente,
- thuốc lợi sữa lactagogue,
- và lợi mật cholagogue,
và được sử dụng cho :
- bệnh sốt fièvre,
- và viêm phế quản bronchite.
▪ Ở Sénégal, sự dầm ngâm macération của những rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana nghiền nát thành bột củng đuợc hấp thu như :
- thuốc phá thai abortif,
trong khi trích xuất của rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana dùng như :
- thuốc lợi sữa galactagogue.
▪ Trong Côte d’Ivoire, nước nấu sắc décoction của những rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana sấy khô được quản lý dùng trong rữa ruột lavement để điều trị :
- những đau nhức thận douleurs rénales,
- vô sinh hiếm muộn ở phụ nữ stérilité féminine,
để bảo đảm :
- mang thai tốt bonne grossesse,
- và tránh những sẩy thai fausses couches.
▪ Ở Bénin, nước nấu sắc décoction của những lá, pha trộn nó với Cây Cuì đèn Croton lobatus L., dùng cho những em bé mắc phải :
- bệnh đau bụng tiêu chảy coliques,
trong khi nước nấu sắc décoction những nhánh cành lá được quản lý dùng để tạo sức mạnh cho :
- những trẻ em gầy ốm enfants émaciés.
▪ Trong R.D. du Congo, những chồi non Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana nghiền nát được áp dụng trên :
- những loét chưa chín mùi thối ulcères immatures gangreneux,
- và hoại tử nécrotiques.
▪ Ở Gabon, những rễ củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana nghiền nát và ngâm trong nước được sử dụng trong dung dịch lotion chống lại :
- những bệnh hoa liễu maladies vénériennes.
▪ Ở Nigeria, nước nấu sắc décoction của rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được hấp thu như :
- chất thay thế altératif,
- và là thuốc bổ kích thích tình dục tonique aphrodisiaque.
▪ Trong Ấn Độ Inde, những rễ củ là rất phổ biến trong y học truyền thống. Nó đi vào trong nhièu công thức với những thảo dược khác, nhưng cũng được sử dụng một mình.
▪ Trong Ấn Độ Inde, những hạt được sử dụng để :
- đông sữa coaguler le lait.
▪ Au Sénégal và trong Ấn Độ Inde, Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được chăn nuôi bởi những gia súc bétail. Nó đôi khi cũng được trồng như Cây cảnh ornemental.
Nghiên cứu :
● Nghiên cứu trên sự cảm ứng của lớp da chai induction de Callus của Ipomoea mauritiana : một Cây thuốc ayurvédique
Saiful Islam, Md. Masta Hasenur Reza Chawdhury, Mohammed Rahmatullah
Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana (họ : Convolvulaceae) là một Cây thuốc ayurvédique thường được sử dụng ở Bangladesh.
Những Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana giàu chất hydrates de carbone và hóa chất thực vật phytochimiques.
Có một loạt sử dụng trong y học dân gian và có chứa những đặc tính dược lý  pharmacologiques. Nó được sử dụng để gia tăng khẩu vị bữa ăn appétit, chống lão hóa anti-âge, kích thích stimulant, tống hơi carminatif, thuốc bổ tonique, làm đen tóc noircir les cheveux, chống oxy hóa anti-oxydant, bệnh của da maladies de peau, giảm đau analgésique, bảo vệ gan hépatoprotection và cũng để chữa trị những bệnh lây qua đường sinh dục sexuellement transmissibles.
Sự hiện diện nghiên cứu đã được thực hiện để phát triển một phương pháp cảm ứng của những vết chai thực vật induction de cals trong ống nghiệm của dây nầy để tạo ra một nguồn của sản phẩm hóa chất thực vật phytochimiques quan trọng trên Cây thuốc này plan médical.
Thân non Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana thu thập trên những Cây trồng trên cánh đồng đã được trồng trên môi trường của Murashige-Skoog (MS) sau khi khử trùng bề mặt với 0,1% HgCl2 chứa những nồng độ khác nhau của :
- 6-benzylaminopurine (BAP),
- 2, 4-dichlorophénoxyacétique (2, 4-D),
- acide 1-naphtalène acétique (NAA);
- cinéine (Kn),
- acide indole-3-acétique (IAA),
- acide indole-3-butyrique (IBA),
- 3% đường sucre,
- và 7% thạch agar.
Sự tăng trưởng của những vết chai callosités là tốt nhất trong BAP [2,0 mg / l] khi được bổ sung trong môi trường MS trong số những nồng độ thử nghiệm BAP.
Nó cho thấy những vết chai màu xanh callosités vertes, nhiều hạt nhỏ granuleuses và cứng trắng nhạt trong môi trường.
2, 4-D [1,0 mg / l] bổ sung trong môi trường MS cho thấy một phản ứng tốt để gây ra sự hình thành những vết chai callogenèse ở những mô bị tổn thương với sự hình thành vết chai callosités màu nâu sáng và lỏng lẻo.
Trong số những hành động hiệp lực synergiques của những auxin-cytokinines, tăng trưởng nhanh và nhanh nhất của những vết chai callus đã được quan sát với đường kính lớn của vết chai callus trong MS + 2, 4-D [0,5 mg / l] + BAP [1,0 mg / l].
Sự hình thành cơ quan rễ organogenèse racinaire đã thu được khi MS được làm giàu với IBA [0,5 và 1,5 mg / l].
Vai trò của những kích thích tố thực vật phytohormones đã được quan sát trong nghiên cứu có thể được sử dụng để sản xuất với một quy mô lớn trong ống nghiệm in vitro của vết chai cals của loài này trong đó những thành phần hợp chất hóa học thực vật phytochimiques quan trọng cuối cùng có thể thu được.
● Phân tích hóa chất thực vật phytochimique và quan sát bằng kính hiển vi microscopique của những củ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana Jacq. (họ Convolvulaceae)
Những củ của Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana được sử dụng như thuốc Vidari trong Ayurveda là những thành phần quan trọng trong những sản phẩm dinh dưởng nutraceutiques ayurvédiques phổ biến dân gian như là Chyavanprash.
Đối tượng của nghiên cứu là phát triển những quy trình giao thức và tiêu chuẩn hóa của hóa chất thực vật phytochimiques và quan sát vi cơ cấu microscopiques phân biệt, có thể được sử dụng trong kiểm soát phẩm chất của thuốc thô médicament brut.
Những phân tích sắc ký chromatographiques của những trích xuất méthanoliques của củ tubercule Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana đã cho được những dấu vân điển hình empreintes digitales typiques, nơi đây Scopoletin, một ghi dấu tham khảo tiêu chuẩn, được đã được giải quyết ở Rf 0,56 trong CCM và ở Rt 21,5 phút dưới điều kiện HPLC.
Ba dải huỳnh quang fluorescentes xanh dương tươi bleu vif ở Rf 0,70, 0,56 và 0,45 trong những điều kiện của CCM là đặc trưng của thuốc thô médicament brut.
Thành phần scopolétine đã được định lượng quantifiée với 0,029-0,034% bằng cách sử dụng những phương pháp HPTLC và HPLC.
Những đặc tính quan sát vi cơ cấu microscopiques trong bột của củ là chính xác của Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana đã được đặc trưng hóa bởi sự hiện diện của những chùm tinh thể cristaux de grappes, hạt tinh bột amidon đơn giản và thành phần hợp chất của một phạm vi từ 10 đến 50 μm và những mảnh tế bào màu nâu cam của thành phần chất nhựa sữa trắng latex éléments laticifères.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Không biết, nên tham khảo những người chuyên môn lo sức khỏe của y học dược thảo.
Ứng dụng :
● Ứng dụng y học :
▪ Nước nấu sắc décoction của những rễ và những lá Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana thường dùng để chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée,
như :
- thuốc tẩy xổ purgatif,
- và lợi tiểu diurétique.
▪ Ngâm macération của những rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana, trong kết hợp với Cây Ampelocissus bombycina (Baker) Planch., uống để điều trị :
- những chứng sưng phù nề œdèmes.
▪ Rễ Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana, pha trộn với rượu cọ vin de palme, được xem như :
- lợi sữa galactagogue.
▪ Những chế phẩm khác nhau được dùng như :
- kích thích tình dục aphrodisiaque,
- bổ tim cardiotonique,
- chất làm mềm émollient,
- lợi tiểu diurétique,
- chất làm lạnh réfrigérant,
- lợi sữa galactagogue,
- và là một thuốc bổ tổng quát tonique général.
▪ Người ta sử dụng chống lại :
- sự tiều tụy hốc hác émaciation,
- bệnh sốt thương hàn fièvre typhoïde,
- và di tinh mộng tinh spermatorrhée.
● Ứng dụng khác :
Cây Tầm sét Ipomoea mauritiana cũng được trồng với những mục đích cây cảnh ornementales và như thức ăn gia súc fourrage để chăn nuôi bétail.

Nguyễn thanh Vân

mardi 6 février 2018

Trường Tảo ruột - Hallow-green nori

Hallow-green nori
Trường tảo ruột
Enteromorpha intestinalis (Linnaeus) Nees.
Ulva intestinalis L.,
Ulvaceae
Đại cương :
▪ Ulva intestinalis L., 1753
▪ Ulva bulbosa var. intestinalis (Linnaeus) Hariot, 1889
▪ Ulva enteromorpha var. intestinalis (Linnaeus) Le Jolis, 1863
▪ Conferva intestinalis (Linnaeus) Roth, 1797
▪ Enteromorpha compressa var. intestinalis (Linnaeus) Hamel, 1931
▪ Enteromorpha intestinalis f. maxima J.Agardh, 1883
▪ Enteromorpha intestinalis var. maxima (J.Agardh) Lily Newton, 1931
▪ Enteromorpha intestinalis (Linnaeus) Nees, 1820
▪ Enteromorpha intestinalis (Linnaeus) Nees
▪ Enteromorpha vulgaris var. lacustris Edmondston, 1845
▪ Enteronia simplex Chevallier, 1836
▪ Fistularia intestinalis (Linnaeus) Greville, 1824
▪ Hydrosolen intestinalis (Linnaeus) Martius, 1833
▪ Ilea intestinalis (Linnaeus) Leiblein, 1827
Danh pháp thường dùng khác của Pháp :
Entéromorphe tubuleuse, cheveux de mer, persil de mer, ulve en tube, ao nori, ulve comprimée.
Tên thông thường của quốc tế  
Hollow green weed, gut weed, grass kelp, tubular sea lettuce, stone hair, sea hair, link confetti, hallow-green nori, hollow green nori, yellow-green hairweed, floating gutweed (GB) Darmtang, Echt Darmwier, Enkel Tarmtang, Darmalge, Gemeiner Darmtang (D) Tarmalg (S), Ohashi nori, bô-awonori, , bo-ao-nori, yore-awonori (J), Tahalib (Arabe).
Tên thông thường Việt Nam :
Trường tảo ruột, rong ruột biển.
▪ Sinh thái Ecology
Nhiều Enteromorpha spp. chịu đựng một loạt độ mặn salinité và một số thậm chí có thể sống sót trong nước ngọt gần như tinh khiết. Chúng thường xảy ra trong những cửa sông nước lợ, trong những khu vực cát nơi đây nước ngọt được thấm nhập tìm thấy trong những hồ đá.
Là loài thực vật épilithe, loài thực vật sống trên đá của phần trên tầng trung duyên hải étage médiolittoral, thường hiện diện trong những vũng nước lòng chảo cuvettes bởi vì loài này chịu được tốt những môi trường độ mặn thay đổi. Bản thể có thể thay đổi rất nhiểu. Nó cũng là những quần thể phổ biến ở bãi triều thượng nơi đây nó gắn vào những tảng đá rochers và những mảnh san hô corail phơi ngoài không khí ở thủy triều thấp marée basse.
▪ Rong biển này cũng có thể sống bằng cách phụ sinh épiphyte trên những đài vật sống khác nhau, như những rong lớn macro-algues, những vỏ sò của loài phúc túc gastéropodes, những mai cụa những con cua carapaces de crabe, ...v...v....
Nó thường hình thành một tấm thảm thực vật dầy đặc phục vụ của vi môi trường sống micro-habitats cho nhiều động vật không xương sống biển invertébrés marins như là : những loài đẵng túc isopodes, loài song túc ( 2 chân khác nhau ) amphipodes, loài nhuyễn thể mollusques và cua crabes. Nó có thể là một phần của chế độ thực phẩm của một số loài động có xương sống vertébrés như là những loài hải ngưu lamantins.
▪ Những Ulva của nhóm intestinalis là những loài nitrophiles là loài thực vật thích sống trong những môi trường đất hoặc nước giàu đạm nitrate có đầy dẫy trong những vùng bị ô nhiễm ảnh hưởng bởi nước thải đô thị và nông nghiệp (phân bón hữu cơ và phân bón engrais).
"Aonori" hay rong xanh hoặc lục tảo (Monostroma spp. và Enteromorpha spp.)
Enteromorpha prolifera và Trường Tảo ruột Enteromorpha intestinalis (McHugh, 2003) cả hai được trồng và tìm thấy trong những vịnh nhỏ và trong những cửa sông của Nhật Bản Japon.
Người ta cũng tìm thấy trong nhiều nơi trên thế giới, bao gồm Châu Âu và Bắc Mỹ Amérique du Nord.
● Điều kiện môi trường :
▪ Độ mặn salinité :
- Tản Enteromorpha có thể sống sót với những nhiệt độ của nước khoảng 28 ° C và thậm chí với những nhiệt độ của không khí cao hơn.
Nó cũng có thể phát triển trong nước với một độ đục turbidité cao, mặc dù sự tăng trưởng tốt hơn dưới ánh sáng mặt trời đầy đủ.
- Những thành vách tế bào của môi trường cửa sông Trường Tảo ruột Ulva intestinalis là mỏng hơn và do đó căn hơn những tế bào của những rong sống ở biển marines của cùng loài, cho phép những tế bào phồng lên với dòng nước trong những điều kiện độ mặn thấp salinité và giảm trở lại trong thể hiện mới trong nước có độ mặn cao hơn.
- Trường Tảo ruột Ulva intestinalis gặp trong nhiều loại môi trường sống khác nhau và có nhiều hình thức khác nhau. Nó được quan sát trong những nước ngọt và mặn trong những hố, những hồ, hồ đất đá , những kênh rạch và những đá tảng.
▪ Trường Tảo ruột Ulva intestinalis có một khả năng nở ra như những hoa trong những điều kiện eutrophes là một môi trường sống dễ bị hiện tượng phú dưởng eutrophication. Nó thể hiện một sự hấp thu, một tăng trưởng và duy trì áp suất thấm thấu liên tục trong chất lỏng bên trong rong bằng cách kiểm soát nồng độ muối và nước osmorégulation nhanh chóng của những chất dinh dưởng nutriments, đặc biệt trong những trường hợp độ mặn salinité và ánh sáng lumière giảm.
Độ mặn thích hợp cho sự tăng trưởng có thể là theo thứ tự 15-24 ‰, nhưng thay đổi nhiều tùy thuộc vào dân số.
▪ Những quần thể của Trường Tảo ruột Ulva intestinalis trên toàn thế giới bao gồm những loại sinh thái khác nhau phần nào về mặt di truyền génétiquement, khác nhau loài này với loài khác, mỗi loài đặc biệt thích ứng tốt và phát triển trong chế độ độ mặn của môi trường khác nhau.
Mặc dù sự tăng trưởng thường liên quan tích cực với độ mặn salinité, nhiều quần thể có thể sống sót và tăng trưởng trong những điều kiện của nước ngọt eau douce, và những hiệu quả tiêu cực của một độ mặn thấp có thể được bù đắp bởi những nồng độ của thành phần dinh dưởng nutriments gia tăng.
Tuy nhiên phần lớn của những kiểu hệ sinh thái, Trường Tảo ruột Ulva intestinalis thể hiện một khả năng dung nạp với độ mặn salinité (Cohen và Fong 2004, Edwards và al., 1988, Kamer và Fong 2000, 2001, Martins và al., 1999, McAvoy và Klug, 2005).
● Sinh cảnh Biotope :
Những Trường tảo ruột Enteromorpha intestinalis là những loài euryhalines là những loài thủy sinh có khả năng chịu được sự biến đổi lớn về độ mặn của nước ở những môi trường chung quanh, hỗ trợ với sự khác biệt lớn của độ mặn của nước.
Người ta có thể tìm thấy trong những nước biển eaux marines, và trong những nước lợ saumâtres như ở cửa sông estuaires, những đầm nước mặn lagunes, và những đầm nước muối marais salants, trong những nước hơi sâu eaux peu profondes của duyên hải thâm nhập bởi dòng nước ngọt ngầm dưới đất.
Nó mọc trên những đáy của tản đá và đá và những vỏ sò, trong những phần trên của bãi biển estran. Nó cũng ở trong những lỗ nước bắn ra bởi những sóng.
Tùy thuộc thủy triều, người ta có thể nhìn thấy phần đỉnh ngọn của tản thalles trôi nỗi trên mặt nước.
Những tảo này thể hiện một phát triển tối đa vào mùa hè và biến mất một phần trong năm.
Trường Tảo ruột Ulva intestinalis thích những nước yên lặng của nước giao động eaux agitées, và có thể sống trên những bên dưới đáy những tản đá trong vùng nước giàu chất hữu cơ.
Ulva compressa thích vùng nước giao động và chịu được một sự thay đổi rộng rãi của nhiệt độ cũng như những nước giàu những nguyên tố lưu huỳnh S và đạm azotés có nguồn gốc hữu cơ organique.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
▪ Trường Tảo ruột Ulva intestinalis là một rong biển tươi bóng của một bãi cỏ xanh lá cây thấy rõ, cấu tạo bởi những lá biển hình ống không đều nhau chen chút nhau và phồng to mọc từ một đỉa nhỏ bên dưới gắn vào trên đài vật.
Những lá biển hình ống thường không phân nhánh.
Những lá biển có thể có một chiều dài từ 10-30 cm hoặc hơn và từ 6-18 mm đường kính, phần đỉnh đầu tròn và bao gồm những bọt khí để cho phép nó dụng đứng thẳng lên.
Nó mọc ở dưới đáy trên mặt những tản đá và những sỏi lớn ở độ sâu đến 7 m khi thủy triều xuống thấp, phần đỉnh ngọn của rong có thể nổi trôi trên mặt nước. Người ta cũng gặp nó trong những lỗ nước được cung cấp nước biển bởi những đợt sóng đánh vào.
▪ Tản thalle phồng lên hay hình ống, căn thẳng, uốn nắn vặn, phân nhánh hoặc không phân nhánh, cấu thành của chỉ một lớp tế bào chung quanh của một một ánh sáng trung tâm mở ra lấp đầy nước và không khí .
Tản Thalle hình thành của một lưỡi lớp tế bào đơn bào, hình ống và dạng như một ống ruột intestiniforme, có thể đạt đến 20 cm dài và gắn vào đài vật bởi 1 đỉa nhõ.
Tản thalle thường không phân nhánh nhưng những sự tăng sinh có thể hiện diện ở bên dưới đáy của tản. Những tế bào không được xếp thành hàng theo chiều dọc, nó hình đa giác và chứa duy nhất một plaste ( một cơ quan tế bào chất của tế bào thực vật ) có dạng hình nắp, mang chỉ một pyrénoïde (ngoại trừ trong một vài tế bào ) và nằm gần trên bề mặt của tế bào.
Sự phân nhánh bắt nguồn từ bên dưới.
Thành vách là một tế bào dày và Rong xuất hiện màu xanh lá cây vàng đế xanh lá cây đậm. Tảo non gắn vào đài vật bởi những một tế bào căn trạng cellule rhizoïdale cơ bản.
Những Trường Tảo ruột Ulva intestinalis già trôi tự do. Những tế bào hình chữ nhật đa giác nhìn từ bề mặt, thường xuyên sắp xếp đều và không đều và kích thước từ 10-16 microns đường kính.
▪ Những tế bào thường khá đều nhau một dạng, ngoại trừ những tế bào của loại căn hành rhizoïdales của những bộ phận bên dưới, sắp xếp không đếu đặn trong những hàng theo chiều dọc hoặc chiều ngang.
▪ Những loài của giống Ulva là khó khăn để xác định. Sự xác định phụ thuộc nhiều vào chi tiết của những tế bào và sự sắp xếp của tế bào, thêm nữa hình thái học morphologie thô sơ, nhưng phức tạp bởi thực tế hình thái học morphologie của một loài có thể thay đổi đáp ứng với những điều kiện của môi trường.
Thí dụ : Trường Tảo ruột Ulva intestinalis và Ulva compressa (như Enteromorpha) cả 2 loài khác biệt nhau, di truyền học génétiquement khác biệt và sự sinh sản riêng rẻ ở những loài (Blomster và al., 1998).
Tuy nhiên nó khó khăn để phân biệt. Sự có mặt hoặc không của nhánh lá là đặc tính hình thái học morphologique thô thiển là hữu ích nhất để phân biệt những loài.
Nhưng một sự mơ hồ tồn tại bởi vì nồng độ thấp của độ mặn hoặc cú sốc ( sự thay đổi đột ngột ) độ mặn có thể gây ra một sự phân nhánh ở Rong Trường Tảo ruột Ulva intestinalis. Tuy nhiên, nếu người ta tính đến yếu tố môi trường, như là độ mặn salinité, sự phân nhánh có thể được sử dụng để xác định một cách chính xác đa số của những tản thalles (Blomster và al., 1998).
Là một lục tảo, thành phần lá tảo hình ống phồng lên mọc từ một bộ phận đỉa nhỏ bên dưới. Những lá tảo thường không phân nhánh non ramifiées, nó có thể có từ 10-30 cm dài hoặc thậm chí hơn và từ 6-18 mm đường kính, thông thường với những ngọn đỉnh tròn.
Đây là một rong biển hằng niên của mùa hè, hình thành những đám lá tảo trắng nhuộm màu trắng ở cuối mùa.
Nó có thể dạt đến 1 m cao và tốc độ tăng trưởng của nó là từ 0,15 đến 0,25 cm mỗi ngày.
Đây là loài rong chịu mặn euryhaline : nó có khả năng dung nạp trong phạm vi rộng của độ mặn salinité.
● Chu kỳ sinh sống Cycle de vie      
▪ Trường Tảo ruột Ulva intestinalis có chu kỳ sinh sống có sự luân phiên giữa 2 thế hệ digénétique haplo-diplontique đẳng cấu ( hình dạng những thế hệ không thể phân biệt được ) isomorphe, cho sự phát triển :
- Những giao từ thực vật gamétophytique đơn bội haploide, với n nhiễm thể chromosomes) và đẵng cấu isomorphe ( có nghĩa là người ta không biệt hình thái của những giao tử thực vật gamétophytes của những bào tử thực vật sporophytes), sản xuất những giao tử gamètes phái tính sexuels và bào tử thực vật sporophyte vô phái asexué sản xuất những động bào tử zoospores.
Những giao tử có 2 chiên mao biflagellés và những động bào tử thường có 4 chiên mao quadriflagellées.
- Những bào tử thực vật sporophytes lưởng nhiễm 2n không giảm nhiễm haplodiplobiontique (một giai đoạn bào tử thực vật lưỡng nhiễm 2n sporophytique diploïde, với 2n nhiễm thể chromosomes, kết quả của sự thụ tinh, thường xuất hiện trên những bãi biển có nhiệt độ température và độ mặn cao hơn giao tử thực vật gamétophytes.
Những bào tử thực vật sporophytes lưởng bội 2n diploïdes tạo ra bởi giảm phân méiose tạo ra 4 bào tử spores 4 chiên mao quadriflagellées với n nhiễm thể chromosomes, sau khi cố định, cho những giao tử thực vật đơn bội gamétophytes haploïdes đực hoặc cái , lần lượt sẽ tạo ra những giao tử gamètes đực và giao tử cái 2 chiên mao biflagellés, sẽ hợp nhất trong khi thụ tinh fécondation để tạo ra những động bào tử planozygotes lưỡng bội diploïdes 4 chiên mao quadriflagellés.
▪ Những đồng hình giao tử 2 chiên mao isogamètes biflagellés của những loại phối hợp đối đầu nhau và những tiếp hợp tử 4 chiên mao zygotes quadriflagellés hình thành chuyển động chỉ trong một thời gian ngắn. Nó neo bám ở đầu phía trước của chúng trên những đài vật cứng rắn và những rong lớn khác, những chiên mao của nó tự rút biến mất và tiết ra một thành vách tế bào paroi cellulaire.
Sau đó mỗi tế bào được phân chia thành 2 tế bào, phần bên dưới hình thành một đế giữ, và tế bào đầu ngọn phân chia và phân chia lại để hình thành những tế bào thực vật của tản thalle.
Những động bào tử 4 chiên mao zoospore quadriflagellées được tạo ra bởi những tản bào tử thực vật lưỡng bội sporophytiques diploïdes.
Nó bao gồm như những tiếp hợp tử zygotes và phát triển để tạo thành những tản thalles giao tử thực vật đơn bội thalles gamétophytiques haploïdes.
Sau khi cố định hợp tử zygote mất những chiên mao flagelles và được bao quanh bởi một màng paroi trước khi phát triển thành một bào tử thực vật mới sporophyte, do đó hoàn tất chu kỳ.
Sự thụ tinh được gọi là anisogame ( hình thức của sự thụ tinh fécondation trong đó 2 giao tử gamète đực và cái đều cử động nhưng về kích thước và hình thái khác biệt nhau trái ngược với isogame ) bởi vì nó bắt nguồn của sự hợp nhất của giao tử gamètes không giống nhau dissemblables.
Bào tử spores và giao tử gamète được tạo ra ở bìa của những tản thalles. Sau khi phóng thích những bào tử spores và giao tử gamètes, môi trường của vùng đổi màu và rong chết.
Tản có thể thalle sau đó có thể được tái sinh trước khi xuất hiện một thúc đẩy thứ hai của sự tái sản xuất, chu kỳ khác tiếp diển..
Loại thứ hai động bào tử 4 chiên mao quatriflagellées, nhìn chung không phù hợp tốt với giá trị thấp của độ mặn salinité và với một thời gian dài của khô hạn dessiccation.
▪ Những bào tử thực vật sporophytes thường cũng có khả năng tái sản xuất trên những thời gian dài hơn so với giao tử thực vật gamétophytes (Cordi và al., 2001, Pringle 1986).
Swarmers ( chỉ loại cây con, ấu trùng, động bào tử không nhận diện được ) có thể sống sót dưới hình thức di động trong thời gian khoảng 5-8 ngày.
Nó phân tán tốt, bởi vì nó có tính quang chiến thuật tích cực phototactiques và như vậy có thể duy trì ở mức độ cao trong cột nước, điều này cho phép chúng di chuyển cách xa quần thể cha mẹ (Hoffman và Camus 1989).
▪ Khi những tế bào sinh sản giao tử hay động bào tử được phóng thích, chỉ còn thành vách của tế bào ban đầu còn lại. Sự phóng thích này thường xảy ra khoảng thời gian thủy triều của mùa xuân ( chu kỳ âm lịch cycle lunaire).
Trong những bộ phận thụ của tản, nó bị phân hủy khi nội dung của chúng đã chuyển biến thành những giao tử gamètes hoặc thành động bào tử zoospores.
Khi những tế bào sinh sản giao từ hay động bào tử được phóng thích, chỉ còn thành vách của tế bào ban đầu còn lại. Sự phóng thích này thường xảy ra khoảng thời gian thủy triều của mùa xuân ( chu kỳ âm lịch cycle lunaire).
● Sự sinh sản vô phái,
Bằng phương tiện của động bào tử zoospores 4 chiên mao quadriflagellées hình thành từ bất cứ tế bào ngoại trừ những tế bào vùng gốc.
Mỗi tế bào có thể sản xuất ra 4, 8, 16 hoặc 32 động bào tử zoospores. Thoát ra bởi một lỗ mở ra trong thành vách tế bào paroi cellulaire, nó phát tán trong một thời gian nhất định để để cài đặt trên một bề mặt thích hợp. Nơi đó nó phân chia thành một sợi, với tế bào gốc trở nên bám móc vào đài vật.
Sự sản xuất hữu tính là đồng hình giao phối isogame, đôi giao tử 2 chiên mao gamètes biflagellés hòa hợp với nhau từ những rong khác nhau.
Tiếp hợp tử zygote kết quả nảy mầm trong 1 ngày hoặc 2 ngày để tạo thành một rong mới.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Những thông tin trên những đặc tính của Enteromorpha khác nhau đáng kể, có thể bởi vì nó luôn không chỉ rõ loài nào đã được phân tích.
Enteromorpha spp. chứa (cho 100 g của trọng lượng khô ) :
- chất đạm protéines 12-15 (-20) g,
- chất béo matières grasses 0,3-1,5 g,
- hydrates de carbone 46-53 g
- và tro  21-22,6 g.
Thành phần chất béo lipide phổ biến nhất được tìm thấy là :
- sitosterol d'acide gras không bảo hòa insaturé,
có thể giúp để giảm mức độ cholestérol trong những tế bào cellules.
▪ Những hydrates de carbone chủ yếu là :
- những đường glucides,
- và tinh bột amidon.
Nó chỉ ra rằng tất cả những acides aminés thiết yếu là hiện diện, cũng như :
- chondrine,
- cystéine,
- acide D-cystéinolique,
- acide glutamique,
- và proline.
Đặc biệt những dữ liệu trên những hàm lượng vitamines biến thiên, chỉ định cho 100 g Enteromorpha (trọng lượng khô) :
- vitamine A 500-1300 UI,
- vitamine B1 0,04-0,6 mg,
- vitamine B2 0,52-2,05 mg,
- niacine 1-6 mg,
- vitamine C  10-43,2 mg,
- vitamine B12  1,3 μm
- và acide folique 42,9 μm.
▪ Những dữ liệu trên những tocophérols (vitamine E) không có sẵn.
▪ Những nguyên tố khoáng minéraux (mg / g trọng lượng khô ) bao gồm :
- calcium Ca  840-910,
- phosphore P  740-800,
- sắt Fe 10-35,
- sodium Na 530-570
- và potasium K 3200-3500.
Đặc tính trị liệu :
▪ Nó được trồng và thương mại hóa ở Nhật Bản Japon và Đại Hàn Corée (của những lưới được gieo hạt với những bào tử và để chìm ngập trong nước ) và được thu hoạch bằng tay hoặc bằng máy.
Nó chứa khoảng 20% chất đạm và thấp chất béo và muối sodium Na và giàu chất sắt Fe và nguyên tố khoáng calcium Ca.
▪ Hàm lượng vitamine nhóm B thường cao hơn cso với phần lớn những rau cải légumes, và mặc dù hàm lượng vitamine A là cao, nó chỉ hiện diện một nửa so với rau dền tây épinards.
Những rong biển Trường Tảo ruột Ulva intestinalis nầy không hấp thu những thành phần độc hại toxiques.
▪ Trong thực vật liệu pháp phytothérapie Tàu Trường Tảo ruột Ulva intestinalis được sử dụng chống lại :
- bướu giáp goitre,
- và chứng bệnh tràng nhạc scrofule,
như :
- hạ sốt antipyrétique,
để chế biến một dung dịch mới tươi mát liquide rafraîchissant và để chữa trị :
- say nắng insolation,
- viêm phế quản bronchite,
- ho toux,
- và bệnh hen suyễn asthme.
▪ Những bộ sưu tập của quần thể hoang dả không được đánh giá bởi vì nó cấu tạo bởi những tản thalles già khác nhau.
Những lá tảo mềm và ngon miệng, trong khi những tảo non là :
- chất sụn giòn cartilagineuses,
- chất xơ fibreuses
- và hơi cay amères.
Một khi nuôi trồng, những rong biển có thể thu hoạch ở giai đoạn mong muốn, dựa trên :
- chức năng nhất quán,
- hình dạng,
- và màu sắc.
Ứng dụng :
▪ Những Trường Tảo ruột Ulva intestinalis này được nuôi sống bởi quang tổng hợp photosynthèse, đó là tại sao nguời ta không tìm nthấy nó ở bên dưới của vùng ánh sáng zone photique là vùng biển tính từ bề mặt nước đến độ sâu tối đa của biển hoặc hồ nơi đó có ánh sáng đủ để hiện tượng quang tổng hợp xảy ra.
Hoạt động quang tổng hợp photosynthétique cung cấp năng lượng énergie. Sự đồng hóa của những chất dinh dưởng được thực hiện bởi những lá rong được cấu tạo thành một chân đế của tế bào cho phép một sự đồng hóa rất tốt assimilation.
▪ Những Tảo bao gồm những loài của giống Ulva, đồng hóa những nguyên tố muối dinh dưởng sels nutritifs (nitrates và phosphates).
▪ Do hàm lượng cao của chất đạm azote và nguyên tố phosphore Trường Tảo ruột Ulva intestinalis là một phần của Tảo xanh được sử dụng theo truyền thống như phân bón tự nhiên engrais naturels trên những Cây trồng nông nghiệp ở bretonnes, đặc biệt để trồng những bông cải chou-fleur.
▪ Nó cũng được dùng như chất bổ sung của những thực phẩm gia súc và được sử dụng như thành phần của một số nhất định những sản phẩm mỹ phẩm cosmétiques như những mặt nạ mặt masques faciaux.
Trường Tảo ruột Ulva intestinalis được sử dụng rộng rãi trong toàn thế giới, bao gồm Châu Á, cho thực phẩm dinh dưởng, những thức ăn cho gia súc (đặc biệt cho những loài cá (chanidés) và cho những heo porcs), như phân bón và cho những loại thuốc.
Nó cũng được áp dụng như mồi câu cá appât de poisson. Những lá rong khô và được nghiền nát có thể được sử dụng như bao bì đóng gói cho nhiều thực phẩm aliments, trong những súp soupes và như lớp phủ bên trên.
Nó đã sãn có ở Nhật Bản Japon dưới dạng bột cho những sử dụng tương tự hoặc như chất nhuộm xanh lá cây.
▪ Khi những cấy nuôi giống Enteromorpha, môi trường sống được làm giàu bằng cách thêm ammonium hoặc nitrate, sự tăng trưởng những mô tế bào được gia tốc và những tảo có thể tích tự những nitrates dưới dạng dipeptides tạo thành từ 3 đến 7% của tổng số trọng lượng khô.
Nó có thể được sử dụng nguồn chất đạm azote này về sau để phát triển nhanh chóng hơn những chất dinh dưởng nutriments bình thường đã sẳn có.
Những tảo hấp thu những chất đạm azote bổ sung chủ yếu vào ban ngày, trong khi mà những hồng tảo rhodophytes hấp thu chất dinh dưởng chủ yếu vào ban đêm.
Enteromorpha còn có thể cố định những bicarbonates ở những pH trên 9, alors mà nhiều Rong đỏ algues rouges không thể làm được.
Enteromorpha cũng có thể tích tụ những polyphosphates và những lắng động có thể là dễ dàng sử dụng trong những điều kiện cạn kiệt nguyên tố phosphore.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Thực phẩm  
▪ Những rong Trường Tảo ruột Ulva intestinalis là ăn được và sử dụng theo truyền thống trong thực phẩm Viễn Đông Extrême Orient và trong Irlande và gần đây hơn ở Pháp trong những món ăn thực phẩm khác nhau, thường dưới dạng mảnh miếng.
▪ Trường Tảo ruột Ulva intestinalis là một trong những thành phần của « nori » Nhật Bản japonais. Trong hình thức sấy khô, thường nghiền nát, rong biển Trường Tảo ruột Ulva intestinalis được thêm vào trong những món ăn súp soupes.
Những rong được rửa thật sạch sau khi thu hoạch. Sau đó biến thành những tấm lá mỏng và sấy khô, như những tấm lá porphyra hoặc sấy khô sau đó đun với nước đường, tương và những thành phần khác để thành «mứt nori confiture de nori».
▪ Những rong có thể nướng nhẹ cải thiện hương vị và nghiền nát thành bột để dùng trong gia vị trên những súp soupes và những thức ăn aliments, hoặc có thể nghiền nát thành những mảnh nhỏ và được sử dụng như trang trí cho món ăn.

Nguyễn thanh Vân