Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

dimanche 15 juillet 2012

Cây Keo - Me Keo - Sweet tamarind

Sweet tamarind
Cây Keo - Me Keo
Pithecellobium dulce (Roxb.) Benth.
Fabaceae
Đại cương :
Fabaceae là một họ lớn nhất của gia đình thực vật hiển hoa với 12000 loài được phân loại vào khoảng 600 giống. Họ thường được chia thành 3 họ phụ : Papilionoidae, caeasalpinioidae, và mimosoidae. Pithecellobium là một trong 100-200 loài trong giống phân theo họ mimosoidae và được phân phối ở các vùng nhiệt đới, chủ yếu ở Châu Á và Châu Mỹ có khoảng 10 loài : P. clypearia, Pithecellobium. dulce, Pithecellobium monadelphum, Pithecellobium globosum, P. unguiscati , P. arboreum, P.flexicaule, P. jiringa, Pithecellobium parviflorum và P. Mart  thường xảy ra ở Ấn Độ.
Pithecellobium dulce Benth là một trong những loài quen thuộc, thường được, thường gặp ở Việt Nam được gọi là “ Me keo ” hay “ keo ” nguyên nhân là vị hơi chua như me khi chưa chín .
Gốc tên chung do từ chữ Hy lạp pithekos có nghĩa là con vượn và lobos để cập đến cái vỏ và tên loài dulce trong tiếng Latin có nghĩa là ngọt ngào ám chỉ cơm màu trắng bao bọc hạt ăn được và vị ngọt.
Đồng nghĩa có những tên như hindi : vilayati babul; Tamil : Kodukkapuli; Kannada: Kottampuli, Seemae Hunase; bengali: Dekhani Babul; Marathi: Vilayati Hinch; Telugu : Simachinta; Malayalam : Korukkapuli và Việt nam gọi là Me keo… v…v…
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây đại mộc, cao khoảng 10 đến 15 m, nhánh thân có gai nhỏ.
Cuống lá có tuyến ở chót, mang hai (2) cặp thứ diệp, có hai tam diệp không lông .
Gié mang hoa đầu, dày đặc, hoa xanh trắng có lông dày, dài cao 1,5 mm, không cuống, vành cao 3-3,5 mm, tiểu nhụy 30-50. Hoa sản xuất một vỏ nạc ăn được.
Trái quắn, xoắn ốc dài 10 – 18 cm, dài và 1 cm rộng, hột đen láng  từ 6 đến 8, có tử y trắng hay hường. Trái tự khai dọc theo 2 lề đường rảnh bên hong xuống phía dưới.
Vỏ mịn màu xám .
Tử y ăn được, ngọt khi quả chín mùi..
Hạt được phát tán bởi loài chim ăn quả ngọt. Hạt chịu hạn và có thể sống trong những vùng khô cách mực nước biển 300 m nên cây được thích hợp trong sự trồng trọt trên đường phố.
Hoa bắt đầu khoảng 3 – 4 năm và theo mùa ( tháng 1 đến tháng 3 ) trái chín từ tháng 4 đến tháng 7.
Bộ phận sử dụng :
Vỏ rể, vỏ thân, hạt, và  lá  .
Thành phận hóa học và dược chất :
► Thành phần hóa học :
- saponin,
- mp. 175°,
- sapogenin – pithogenin,
- sterol glucoside B,
- Hexacosanol,
- sterol glucoside A,
- praline,
- leucine,
- valine,
- asparagines
- flavone được phân lập từ những hạt.
- glucose được phân lập từ trung quả bì của trái.
- Α-spinasterol glucoside được phân lập từ vỏ cây.
- và Afzelin và quercitrin đã được phân lập từ thân cây. (Rastogi & Mehrotra, 1990 & 93).
- Tannin, 25,36%;
- dầu cố định 18,22%,
- oléine.
- một chất quercitine glycoside đã được phân lập.
● Lá có hiện diện những hóa chất :
- quercitine,
- kaemferol,
- dulcitol
- và afezilin.
- chất đạm thô 29.0% ,
- chất xơ thô 17.5%,
- tro 5.6 %
- cũng như một vài vết nhất định của những khoáng chất cũng được hiện diện :
- calcium Ca 1.14%,
- phosphore P 0.35%.
● Hạt me keo chứa :
- những stéroïdes,
- chất saponines,
-  phospholipides,
-  glycosides,
-  glycolipides
- và những polysaccharides.
- Sản lượng vỏ chứa 37% chất tanins loại mẫu catéchol.
- độ ẫm 13.5% ,
- chất đạm 17.6% ,
- chất béo thô17.1%,
- chất xơ thực phẩm thô 7.8% ,
- tinh bột 41.4%,
- và tro 2.6% .
● Phân tích phần tử y ( lớp nạc bao bên ngoài hạt ) giá trị thành phần :
- độ ẫm 77.9,
- chất đạm protide 0.7,
- chất béo lipide 0.6,
- chất xơ fibre 1.2,
- đường glucide 19.9,
- và vật liệu nguyên tố khoáng 0.7%,
- calcium Ca,13.0mg.,
- phosphore P 54.0 mg.,
- sắt Fe 1.4mg.,
- thiamine, 222mcg,
- riboflavin, 59 mcg.,
- nicotinic acid, 0.36mg.,
- và ascorbic acid, 120 mg./100gm.
Những acides amines cần yếu hiện diện tronng tủ y gồm :
- valine 143 ;
- lysine 178;
- phenylalanine, 41;
- và tryptophan, 26 mg./100g.
Cũng như :
- calcium pectate,
- pectin 0.96% của đường ( chủ yếu là glucose ) phân tích lớp tủ y lớp vỏ ngoài của hạt .
● Phân tích tinh dầu béo cho thấy trị số hóa chất :
- tĩ trọng đặc biệt  0.9044;
- HD, 1.4546: saponification No., 185.3;
- iodine No. 80.7;
- trị số acid  1.2;
- trị số thiocyanogen 56.0

► Nghiên cứu hóa thực vật phytochimique :

  ● Bảy ( 7) saponine gọi tên là pithedulosides AG (1 - 7) đã được cô lập từ những hạt Pithecellobium dulce. Cấu trúc đã được thành lập bởi sự phân tích quang phổ là :
- echinocystic acid 3-O-alpha-L-arabinopyranosyl-(1→ 6)-beta-D-glucopyranoside,
- echinocystic acid,
- và oleanolic acid 3-O-α-L-arabinopyranosyl- (1 → 2) – α - L –arabinopyranosyl - (1 → 6)- beta – D - glucopyranosides,
- và 3 - O – β - D-xylopyranosyl-(1 → 2) – α - L - arabinopyranosyl - (1 → 6) – β – D - glucopyranosides,
- oleanolic acid 3-O-α-L-arabinopyranosy-(1→2)-α-L- arabinopyranosyl-(1→6)-[β-D-glucopyranosyl-(1→2)]-β- D-glucopyranoside,
- và 3 - O – β - D-xylopyranosyl - (1→2) – α - L - arabinopyranosyl-(1→ 6) - [ β - D - glucopyranosyl-(1→2)]-β-D-glucopyranoside..
● Bốn (4) glycosides triterpéniques oléanane-loại mới ,
- Pithedulosides H-K, đã được phân lập từ những hạt giống Pithecellobiup dulce. Cấu trúc đã được thành lập bởi những thí nghiệm RMN rộng lớn và những phương pháp hóa học.
Pithedulosides H, I, J acide bao gồm acide acacique tùy theo hoặc :
- aglycone
- acide carboxylique
- và monoterpène của nó
- hay xyloside monoterpène acide carboxylique như một phần acyle C-21.
 Những nhóm oligosaccharidiques liên kết với C-3 và C-28 đã được xác điịnh như :
▪ α - L - arabinopyranosyl - (1 → 2) - α - L - arabinopyranosyl - (1 → 6) - [ β – D -glucopyranosyl-(1→2)]-β-D-glucopyranosyl,
▪ và α - L - arabinofuranosyl - ( 1→ 4 ) - [ β - D - glucopyranosyl - ( 1→3 ) ] – α - rhamnopyranosyl-(1→2) – β – D - glucopyranosyl ester, theo thứ tự.
● Pitheduloside K đã được thành lập như một acide echinocystic 3-O-glycoside có những chuổi như đường giống như 3 hợp chất đầu tiên .
● Trong cuộc điều tra này, cũng biết được biết đến những hợp chất đã được định như :
- echinocystic acid 3-O-β-D-xylopyranosyl-(1→2)-α-L-arabinopyranosyl-(1→6)-[β-D-glucopyranosyl-(1 →2)]- β-D-glucopyranoside.
● Một (1) chất saponine triterpénoïde mới bisdesmodic, dulcine đã được phân lập từ hạt và đã được định tên như :
- 3 – O - [ β - D - glucopyranosyl (1→ 2) - α - L - arabinopyranosyl] - 28 - O - [ β - D -xylopyranosyl (1→ 6) - β - D - glucopyranosyl] - echinocystic acid.
● acide oléanolique 3-O-β-D - glucopyranosyl (l → 2)- α – L - arabinopyranoside đồng thời cũng thu được.
Những đặc tính của cấu trúc đã được làm sáng tỏ bởi sự kết hợp của phương pháp quang phổ và một số biến đổi hóa học.
Các glycoside cực (polaire) hơn, trên dulcine thủy phân acide cung cấp một aglycone được xác định như :
- acide echinpcystique,
và những monosaccharides từ thủy phân  acide là :
- D-glucose,
- D-xylose,
- và L-arabinose…...v…v…
● Một saponine triterpénique mới được acylé hóa, gọi là pithecelloside, được phân lập từ hạt và có đặc tính là 3-O-acide acacic.
Kulkarni và al nghiên cứu sự phân bố các acides béo GLC trong tổng số các chất béo, phosphorelipideglycolipides của cây Me keo Pithecellobium dulce. Những chất béo chánh hiện diện là :
- palmitique,
- stearique,
- oleique,
- linoleique,
- myristique,
- linolenique
- và acide arachidique.
Tổng số chất béo từ hạt Me Keo Pithecellobium dulce có một hàm lượng quan trọng do bởi acide arachidique (16%), nhưng phosphorelipide và glycolipide không chứa một lượng đáng kể của acide tương tự.
Cyclitol, dulcitol đã được ghi nhận trong dung dịch trích của lá trong acétone của cây ( adinarayana và al )
● Một glycoside isoflavonoidal mới, génistéine 4'-O-μ-L-rhamnopyranoside đã được phân lập từ dung dịch trích từ rể trong éthanolique của cây.
● Một flavonoïde mới :
- 3'-prényl apigénine-7-O-rutinoside, (mp 128 ° c) từ thân Pithecellobium dulce đã được ghi lại bởi ( Saxena et al ).
Dung dịch trích trong alcoolique những lá Pithecellobium dulce được phân biệt trên dung môi và sắc ký  phân đoạn octacosanol cho thấy những đoạn khác nhau :
- b-D-glucoside của một spinastérol,
- một spinastérol
- và du kaempférol-3-rhamnoside.
● Flavonoïde của hạt đã được tìm thấy là một hỗn hợp của :
- kaempférol
- và quercétine.
● Stérol glucoside-A (PF 282-286 ° C), từ nạt trái Me keo Pithecellobium dulce là một hỗn hợp của glucosides của :
- b sitostérol,
- campestérol,
- và stigmastérol.
● Vỏ me keo chứa chất tanin loại catéchol, dạng này thay đổi tùy theo chức năng tuổi của cây.
Chiết xuất trong acétone của vỏ đã được ghi nhận có một thành phần hợp chất  chủ yếu :
▪ 3, 4,7,3 ', 4'-pentahydroxy flavan-un
Thành phần hợp chất có những đặc tính của 2 chất :
- leucoanthocyanidin
- và phlobotannin.
● Các hợp chất :
- chống ung buớu antitumoral,
- b-sitosterol24,
- và campestérol,
- stigmastérol
- và spinastérol đã được ghi nhận trong lõi gổ cây me keo.
● Chiết xuất trong méthanolique của cây Pithecellobium dulce cho một loạt những họp chất hiện diện cả 2 dạng transcis, một cấu hình tương đối của nhóm constitutifs fisetinidol.
Những hợp chất bao gồm :
- extrémité 3 ', 4' ,7-trihydroxy-flavane-3 ,4-diols,
- epifisetinidol-4b-ol,
- epifisetinidol-4a-ol,
- fisetinidol-4b- và 4a-ols,
- và extrémité 3 ', 4', 5 ', 7 - tetrahydroxyflavan-3-ol, robinetinidol.
Đặc tính trị liệu :
- Được xem như chất phá thai Considered abortifacient,
- Chỉ thống anodyne,
- chất làm se thắt astringent,
- chất diệt ấu trùng larvicidal,
- kháng vi trùng antibacterial,
- chống viêm sưng antiinflammatory,
- chất hạ sốt febrifuge,
- trị bệnh tiểu đường antidiabetique.
Vỏ me keo được coi như :
- chất là se thắt astringent.
▪ Lá me keo có tác dụng :
- chất làm se astringent,
- chất làm mềm emollient,
- trị bệnh tiểu đường antidiabetique,
- và chất gây ra sẩy thai abortifacient.
▪ Rể được ghi nhận là có :
- sự hiện diện tương tợ một chất kích thích tố sinh dục nữ oestrogene.
Sử dụng y học:
▪ Một nguyên tắc tương tự như chất insuline được tìm thấy trong .
▪ Tại Mexico, lớp vỏ ngoài tử y của hạt được báo cáo là sử dụng trong việc bào chế thức uống giống như limonade.
▪ Chiết xuất những hạt, trong dung dịch muối mặn cho thấy một phản ứng làm dung huyết ( làm tan máu ) chất kết dính hémolytique agglutinante của máu người..
▪ Nấu sắc dùng như nước tẩy sổ rửa ruột.
▪ Cây me keo được ghi nhận như một đơn thuốc bình dân để chữa trị :
- loét dạ dày thập nhị chỉ tràng gastro-duodénal.
▪ Ngâm trong nước đun sôi những bộ phận khác nhau được sử dụng trong y học truyền thống để chữa trị những bệnh :
- bệnh kiết lỵ như dùng da của thân cây me keo,
- thoát khỏi những rối loạn đường ruột ,
- và những hạt để trị bệnh loét ulcère.
Sự điều tra hóa chất hiện diện trong các bộ phận khác nhau dẩn đến sự phân lập một số lượng lớn các chất biến dưởng mới lạ và thú vị. Một số hợp chất đã được đã được lựa chọn để cho hoạt động sinh học bioactive gọi là active-biologique của cây.
Kinh nghệm dân gian :
● Chứng đi cầu thường xuyên ( thường trong cơ thể con người đã được quy định cho số lần đi cầu trong ngày, nếu nhiếu lần thường xuyên có nghĩa là có vấn đề trong hệ tiêu hóa đường ruột, thường được kèm theo những chứng như tiêu chảy , kiết lỵ ….)
- Nấu sắc vỏ dùng như trà.
● Những lá áp dụng như thạch cao, dùng :
- để giảm đau,
- những vết thương truyền nhiễm do đường sinh dục ( bệnh hoa liễu ) plaies vénériennes.
- giảm sự co giật
● Nấu sắc lá với muối, để chữa trị :
- chứng khó tiêu
- và cũng là chất thuốc phá thai.
● Vỏ cây sử dụng trường hợp :
- bệnh lỵ,
- viêm da,
- và viêm mắt.
● Ở Brésil, me keo, được dùng như một “ thuốc rượu élixir chống bệnh ung thư.
● Tại Mexico, nấu sắc lá cây me keo dùng cho bệnh :
- đau tai,
- bệnh phong cùi,
- đau răng,
- và là thuốc diệt trừ những ấu trùng larvicide.
● Ở Ấn độ, vỏ cây me keo được sử dụng :
- như thuốc làm se thắt trong trường hợp bệnh lỵ dysenterie,
- thuốc hạ sốt fébrifuge.
Cũng được dùng cho những bệnh :
- ngoài da
- và những viêm sưng mắt.
● Lá được dùng như thuốc phá thai.
● Ở Guyan, vỏ của rể được dùng cho :
- bệnh lỵ,
- và như thuốc hạ sốt.
● Trong nấu sắc rể và vỏ ở Haiti được dùng theo đường bên trong nội tạng ( uống ) để chống lại :
- bệnh tiêu chảy,
● Tử y nạc của trái dùng ăn hay uống để ngưng lưu lượng máu chảy trong trường hợp ho ra máu heamoptysis.
● Nước ép của hạt được hít vào bằng mũi để chống :
- tắc nghẽn ngực
- và hạt được phun pulvériser vào bụng chống loét nội tạng.
Nghiên cứu :
● Chống viêm sưng / kháng khuẩn :
Nghiên cứu của những hoa Me keo Pithecellobium dulce đem đến một quercitin glycoside. Hoạt động của chất glycoside flavonol xác định tính chống viêm sưng và kháng khuẩn của cây.
● Những thành phần phénolique / chống oxy hóa : hoạt động nhặt rác những gốc tự do. Hoạt động của những nhà khoa học dân gian Me keo Pithecellobium dulce Benth :
▪ Lá Me keo : dung dịch trích lá trong nước me keo đã tìm ra hợp chất phénolique bao gồm flavonoïdes và cho thấy sức mạnh hoạt động của những gốc tự do nhặt rác.
● Chống viêm sưng Triterpène :
Chất saponine triterpénique, chống viêm của me keo Pithecellobium dulce có đặc tính của một acide bisdesmoside echinocystique. Một chất saponine triterpénoïde mới bisdesmodique, dulcine, đã được phân lập từ hạt Me keo Pithecellobium dulce.
● Gây độc bộ nhiễm thể Génotoxicité : ( sự nhiễm độc bộ nhiễm thể, sửa đổi cấu trúc bộ gen, bước đầu trong quá trình khối u hay ung thư )
Hoạt động gây đột biến mutagène và chống gây đột biến antimutagène trong Y khoa Phi luật Tân và những cây thực phẩm. Trong nghiên cứu trên 138 cây dược thảo để gây nhiễm nhiễm thễ, Me keo Pithecellobium dulce là một (1) trong 12 cây hiện diện génotoxicité được phát hiện trong bất kỳ hệ thống nào.
● Chống bệnh lao / kháng siêu vi trùng :
Hexane, chloroforme và những chiết xuất của lá me keo trong ruợu đã được nghiên cứu cho những hoạt động chống lại những chủng Mycobacterium tuberculose bệnh lao. Chiết xuất trong alcool cho thấy một hoạt động tốt cho ức chế và hoạt động chống siêu vi trùng chống lại những tác nhân gây bệnh thứ cấp.
● Chống bệnh tiểu đường :
Nghiên cứu trích chất từ lá trong rượu và nước của Pithecellobium dulce trong mô hình tiểu đường STZ gây bệnh ở chuột cho thấy hoạt động đáng kể trong dung dịch nước nhiều hơn trong dung dịch rượu, được so sánh với glibenclamide.
● Chống loét / nhặt rác gốc tư do :
Nghiên cứu trong dung dịch ly trích trong hydroalcoolique của me keo Pithecellobium dulce đã tìm thấy có hoạt tính chống oxy hóa và cho thấy hoạt động chống loét có thể với gốc tự do nhặt rác của nó và ức chế H, K-ATPase, hoạt động này được so sánh với oméprazole. Truy tầm hóa thực vật mang lại được những chất :
- flavonoïdes,
- quercétine,
- rutine,
- kaemférole,
- naringine
-và daidzéine.
● Bảo vệ gan hépatoprotecteur :
Nghiên cứu chiết xuất trong nước của me keo Pithecellobium dulce trong mô hình bộ gậm nhấm murine chuột cho thấy hoạt động bảo vệ gan hépatoprotection chống lại CC14 gây ra bởi sự suy yếu, có thể thông qua đặc tính chống oxy hóa. Kết quả này được hổ trợ bởi những kết quả của mô học histologique.
● Chứng trầm cảm của hệ thần kinh trung ương :
Nghiên cứu được đánh giá hoạt động cơ năng vận động những dung dịch ly trích trong nước hay trong rượu của me keo Pithecellobium dulce ở chuột albinos đã cho thấy một sự trầm cảm quan trọng của trung tâm thần kinh SNC, dung dịch trích trong rượu hiện diện có hiệu quả hơn khi so sánh với chlơrpromazine. Hoạt động đã có được do sự gia tăng nồng độ GABA trong não.
● Giảm đau / chống viêm sưng :
Nghiên cứu dung dịch trích trong méthanol cho thấy một hiệu quả quan trọng chống viêm sưng và giảm đau so với các loại thuốc tiêu chuẩn chống viêm và giảm đau.
● Hoạt động phá thai :
Isoflavonoid được phân lập từ chiết xuất từ ​​rễ, thử nghiệm trên chuột cái, cho thấy liều dùng phụ thuộc vào hoạt động của kích thích tố sinh dục nữ bằng cách gia tăng trọng lượng tử cung từ 15,5 ± 0,25 mg trong sự kiểm soát 34,2 ± 068 mg ở chuột bằng đường miệng (uống), được điều trị (1,25 mg / kg / ngày trong 4 ngày..
● Hoạt động kháng viêm
Saponin (chứa hai acide genin, và acide oleanolicacide echinocystique với xylose, arabinose và glucose như phần đường) thu được từ trái của cây me keo Pithecellobium dulce đã được nghiên cứu chống lại giai đoạn exduative ( sự chảy nước từ mô các vết thương bị viêm ) và một phản ứng viêm sưng do sự sinh sản bất thường ở chuột bạch tạng bằng cách sử dụng carrageenin gây ra sự phù nước œdème và gây ra  viêm khớp bởi mô  hình formaldehyde.
● Hoạt động chống độc :
Những polyphénols của dung dịch nước trích của Pithecellobium dulce, đã được thử nghiệm hoạt động ức chế chống lại nọc rắn Naja kaouthia (NK) bởi phương pháp trung hòa chất độc trong ống nghiệm. Dung dịch trích có thể ức chế hoàn toàn chất độc ở nồng độ 4 DL50 và nọc độc hoạt động hoại tử ở liều dùng tối thiểu đến 90 % hoạt động cửa acétylcholinestérase của nọc độc Naja kaouthia với nồng độ tanin thật yếu. DE50 của tanin thực vật trong các hoạt động ức chế nọc độc Nk thay đổi theo chức năng tanin đậm đặc và chất chứa trong dung dịch trích. Sự kết nối phức tạp giữa cobratoxinetanin có thể bị thủy phân hydrolysables hay cô động theo năng lượng thấp nhất đã được đề xuất. Hoạt động chống độc của polyphénols thực vật này bằng cách lựa chọn ngăn chận các thụ thể nicotinic acetylcholine và không chọn lọc kết tủa  những chất đạm protéine của nọc độc vénine đã được đề xuất.
● Hoạt động diệt tinh trùng :
Theo quan điểm về tầm quan trọng của saponine có thể là yếu tố diệt tinh trùng, những saponine của me keo Pithecellobium dulce cũng phải chịu sự chi phối thữ nghiệm cho đặc tính chất diệt tinh trùng spermicide ( Banergi và al )
Chất sapogénine cho thấy hoạt động trong các dung môi pha loãng 0,03 % đối với tinh trùng của người.
Thực phẩm và sản phẩm :
Tử y của me keo, chứa chất ngọt và chất chua khác nhau, thường màu trắng nhưng đôi khi cũng có mà hồng đỏ.
Các hạt và nạc tử y có thể dùng làm thức uống trong kỹ nghệ cũng như trong gia đình hương vị như nước chanh . Hạt được sử dụng rang hay ăn tươi.
Các hạt được dùng trong món ăn cà ri Ấn Độ.. Tại Mexico, Cuba, và Thái Lan quả được thu hoặch và đứng bán bên lề đường.


Nguyễn thanh Vân