Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

samedi 7 avril 2012

Rau nhút - Water Mimosa

Water Mimosa
Rau nhút
Neptunia oleracea Lour
Fabaceae
Đại cương :
·  Khmer : Kanchait
·  Manipuri : Ekai Thabi
·  Thái : Phak runon (ผักรู้นอน) hay phak krachet (ผักกระเฉด), âm đọc là  "phak kachēt".
·  Việt nam : Rau nhút
Chủ yếu được tìm thấy nằm phủ phục trên đất ẩm ướt sát bờ nước hoặc nổi trên mặt nước hay những vùng tương đối vẫn còn nước. Môi trường bản địa của rau nhút không rỏ, nhưng những người chuyên gia nghiên cứu về môi sinh phỏng đoán rằng trong khu vực của Mexico tới miền Bắc của Nam Mỹ.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cỏ thủy sinh nổi, có khí mô ( màu trắng xốp, lớp mô dẩn không khí giúp cho thân nổi trên mặt nước ), bao chung quanh đốt thân nổi, nhưng lớp khí mô nầy không thành lập trên những cây rau nhút mọc trên đất ẩm, những thân này thường phát triển theo chiều cao, còn những cây rau nhút nào mọc dưới nước thì phát triển theo chiều dài.
Thân mang lá kép 2 lần, hình lông chim, nhuyễn, giống như những lá của cây mắc cở, nhạy cảm sẻ khép lại khi vật bên ngoài chạm vào.
Hoa đầu mang trên một cọng 10 đến 25 cm dài. Cánh hoa màu vàng xanh nhạt, hoa phía trên với 10 tiểu nhụy màu vàng, hoa thấp hơn với 10 cánh hoa lép, dạng giống như tiểu nhụy. Phần lớn hoa trổ trong năm ở vùng nhiệt đới.
Trái 1,5 đến 3 cm dài, 1 cm rộng, hột 4 – 8 tròn dẹp to 4 – 5 mm, màu nâu, dẹt hình trứng.
Bộ phận sử dụng :
Thân, lá, đọt non.
Thành phận hóa học và dược chất :
Phần sử dụng ăn được của rau nhút Neptunia oleracea, hàm lượng cao dạng thô :
- năng lượng (61.56 ± 0.76 kcal),
- chất đạm thô (3.21 ± 1.46 %),
- chất xơ thô (2.30 ± 0.08 %),
- độ ẩm (86.26 ± 0.62 %)
- hàm lượng tro (1.03 ± 0.04%)
- nhưng yếu hàm lượng chất béo thô (0.25 ± 0.01 mg/100g).
Với nồng độ cao của muối khoáng :  
- K (3228.33 ± 268.77 mg/100g),
- Na (222.50 ± 71.20 mg/100g),
- Ca (381.42 ± 9.00 mg/100g),
- Cu (2.97 ± 0.12 mg/100g),
- Mg (186.67 ± 7.64 mg/100g),
- P (405.92 ± 43.67 mg/100g),
- Zn (10.53 ± 1.36 mg/100g)
- Mn (14.23 ± 1.14 mg/100g),
- và còn chứa hợp chất phylate, là một hợp chất phosphore P.
tất cả đã được ghi nhận trong phần ăn được của N. oleracea.
Vì vậy, những phần ăn được là nguồn lành mạnh cho sức khỏe và là những nguyên tố tốt.
Rau nhút, tên gọi của miền Nam gọi là rau nhút, miền Bắc gọi là rau ngút, đã được biến chế  thành nhiều món ăn trong gia đình, có mùi vị đặc biệt.
Đặc tính trị liệu :
Rau nhút N. Oleacea, đông y Việt Nam gọi là huyết thái, có vị ngọt, tính hàn, không độc, theo danh từ đông y có « tính bổ trung ích khí » nên có tác dụng :
- nhuận tràng,
- mát gan, dạ dày,
- giải nhiệt,
- mạnh, bổ gân xương,
- an thần,
- thuốc ngủ nhẹ.
Thường dùng để chữa :
- sốt,
- bướu cổ,
- trị lỵ,
- giúp mau tiêu,
- vấn đề ruột và bao tử,
- ợ chua,
- long đờm
Theo kinh nghiệm dân gian, thường dùng rau nhút để trị bệnh mất ngủ.
Thật ra đối với những người dùng thuốc để trị bệnh mất ngủ chỉ giải quyết vấn đề tạm thời chớ không dứt hẳn. Người bệnh phải tìm nguyên nhân gây ra mất ngủ hoặc vấn đề tâm lý, giải quyết cuộc sống , thư giản tinh thần, thực phẩm thích hợp, cơ thể tráng kiện. Nói tóm lại cần phải kết hợp nhiều khía cạnh để trị hết hẳn bệnh mất ngủ.
Ứng dụng :
Theo y học dân gian Việt Nam dùng riêng rau nhút để chữa :
● Chữa sốt, khát nước
- Dùng tươi, giã 30 g rau nhút tươi, vắt lấy nước cốt uống. Ngày 3 lần trước bữa ăn, trong vòng 2 ngày liên tiếp.
● Thân nhiệt cao, chảy máu cam, mụn nhọt :
- Nấu sắc hơi loãng, với lượng rau nhút vừa đủ dùng trong ngày. Không để qua đêm.
Trong bữa ăn hằng ngày ăn với món canh rau nhút để giúp giải nhiệt trong người.
Thực phẩm và môi sinh :
Rau nhút là loại cây được trồng như rau xanh trong vùng Đông Nam Á. Thân non đọt non và lá được dùng như rau ở Thái Lan và Cambodge và nơi đây trồng một ít như lúa.
Lá non, đọt non thường dùng sống hay xào và nấu cà ri như Kaeng som.
Mặc dù sự hiện diện trong thiên nhiên không mấy thích của con người, nhưng chồi non của rau nhút dân địa phương dùng để ăn như rau xanh và nấu chín.
Một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra tính cung cấp suốt năm, xác định giá thành của thị trường, đo lường phần ăn được ( khối lượng, kích thước đường kính và độ dài ), phân tích thành phần hàm lượng khoáng chất có trong cây và những phần ăn được của Neptunia oleacea bằng cách sử dụng phương pháp tiêu chuẩn phân tích thực phẩm.
Những dân tộc địa phương đặc biệt ở Mả Lai, Melanau và sắc tộc Iban đã cho là tốt.
► Cây rau nhút thường phát triển tạo thành những thảm thực vật và được xem như là một loại cỏ dại xâm chiếm môi trường làm biến đổi sinh thái trong một số vùng nước của nhiệt đới. Thảm thực vật này có thể cản trở hạn chế lưu thông, giảm phẩm chất của nước nguyên nhân do mặt thoáng không tiếp xúc với ánh sáng, hoạt động nhóm thủy sản giảm và mất đi một vài giống thủy sinh và bản địa của môi trường ẩm.


Nguyễn thanh Vân