Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

jeudi 2 février 2012

Cây Mã tiền - Vomiquier

Vomiquier
Mã tiền
Strychnos nux-vomica L
Loganiaceae
Đại cương :
Cây mã tiền còn có tên vomiquier, nux vomica, noix vomique, Snake-bois, Cây strychnine, Boutons Quaker, Ma Qian Zi.
Cây mã tiền ( Strychnos nux-vomica ) là một cây thường rậm lá xanh có nguồn gốc từ Đông Nam Á, thuộc họ Loganaceae. Mã tiền phát triển trong môi trường thoáng và thường đạt tới độ cao khoảng 5 m.
Mã tiền là nguồn chất strychnine, chứa một alcaloïde rất độc, thu trích từ hạt chứa trong những trái, khỏang 1,5% và hoa sấy khô khỏang 1,023%, nên hạt được gọi là « hạt làm ói mửa ». Đây là một quả tròn và có màu xanh cam. Tuy nhiên , vỏ của cây cũng chứa những thành phần độc chất bao gồm cả chất brucine.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Cây có nguồn gốc Đông Nam Á và Úc, thường gặp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Người ta tìm thấy trong tất cả ở Ấn Độ trong những rừng dầy lá.
 Mô tả thực vật :
Cây mã tiền là một cây thân mộc, kích thước trung bình với thân ngắn và dày. Gổ đặc, cứng và trắng và hạt dày đặc.
Những nhánh không đều và được bao phủ bởi lớp vỏ láng mịn của tro. Chồi non có màu xanh đậm với bộ lông sáng bóng.
có cuống ngắn, hình bầu dục, có lông bóng mượt cho cả mặt trên lẫn dưới. Kích thước khoảng 10 cm dài và 7,6 cm rộng.
Hoa nhỏ màu xanh lá cây nhạt, có dạng hình phễu. Hoa nở vào mùa lạnh và có mùi hôi.
Trái kích thước như quả táo lớn, vỏ mịn cứng, khi chín có màu cam rất đẹp.
Thịt trái mềm và trắng với bên trong bột sệt nhão chứa 5 hạt được bao phủ bởi một chất mềm.
Hạt mã tiền thu hoặch từ hạt chín. Sau đó được làm sạch sấy khô và lưu trử.
Hạt có hình dĩa phẳng hoàn toàn được bao phủ bởi lớp lông từ trung tâm ra, cả 2 bên. Cấu tạo này cho phép hạt có một màu sáng đặc trưng cho hạt mã tiền. hạt rất cứng với một nội nhũ màu xám tối nơi có chứa phôi nhỏ không mùi, nhưng cho ra vị rất đắng.
Bộ phận sử dụng :
Vỏ, lá, hạt.
Thành phận hóa học và dược chất :
1 đến 3 % d'alcaloïdes toàn phần đa số hiện diện bởi :
- strychnine (C21H22N2O2)
- và brucine (C23H26N2O4),
Alcaloïdes thiểu số :
- colubrines,
-  icajine,
- vomicine,
- novacine,
- pseudo- isostrychnine
- và isostrychnine
Đặc tính trị liệu :
Chất strychnine là một chất kich thích tủy sốnghành tủy, làm khà năng đối kháng với sự nhiễm độc không còn được sử dụng.
Những sử dụng y học :
Strychnine không có sử dụng trong y học hiện đại, mặc dù nó đã được sử dụng rộng rãi trong y học thời trước thế chiến thứ hai. Chất strychnine dùng như một chất độc giết người, với một liều có thể gây tử vong cho người, khoảng 30 đến 120 mg. Sự sống được tồn tại với liều cao hơn cũng đã được ghi nhận.
Những đặc tính của Cây mã tiền là đặc tính của strychnine alcaloïde,
Bột mã tiền được chế tạo từ những hạt của strychnine được dùng để :
- Chữa chứng khó tiêu soulager l'indigestion.
Hổn hợp trộn của hạt mã tiền Nux vomica cũng được dùng như :
- một chất kích thích cho đường tiêu hóa. Sự thèm ăn appétit
Trong miệng, strychnine hoạt động như « một chế độ ăn uống đắng », kích thích gia tăng nhu động ruột.
Strychine đã từng phối hợp với những chất nhuận trường khác để điều trị chứng táo bón.
 Chất Strychnine cũng gia tăng dòng chảy của dịch dạ dày. Tuy nhiên, nó được hấp thu nhanh vào đến dạ dày, sau đó ảnh hưởng vào hệ thống thần kinh trung ương và những sự chuyển động của bộ máy hô hấp gây ra một chuyển động của hơi thở nhanh hơn và sâu hơn.
Tim cũng đã hoạt động chậm lại bởi sự kích thích thần kinh phế vị ở trung ương. Các khứu giác, xúc giác, thính giác và thị giác đã trở nên « mệt » cấp tính. Đồng thời làm tăng nhịp đập tim ( pouls ) và tăng áp suất động mạch tension và đã từng sử dụng như thuốc bổ cho hệ thống tuần hoàn trường hợp bị chứng suy tim.
Chất strychnine đã loại bỏ phân nửa cuộc sống trong khoảng 12 giờ.
Những rối loạn trực tiếp có nguyên nhân từ strychnine là sự co giật rất dữ dội do sự kích động của bộ máy cơ năng hoạt động hay những hạch cảm giác của tủy sống. Trong khi cơn động kinh có một sự gia tăng huyếp áp.
Chất brucine dường như gần giống như chất strychnine trong chức năng, nhưng nhẹ hơn, ít độc hơn, nó chỉ làm tê liệt hệ thần kinh vận động ngoại vi.
Người ta có thể nói, hoạt động co giật của strychnine không có chất bricine trong đó.
Strychnine được sủ dụng trong chứng viêm ngứa và coi như vô hại trong những viêm sưng tai ngoài.

Dược thảo trị liệu :

Trong y học dân gian, strychnine được sử dụng như chất kích thích sự thèm ăn.
Trong y học truyền thống Trung quốc dùng để giải tỏa những đường mạch và giảm viêm sưng. Cũng được làm giảm đau và có thể điều trị sưng mủ abcès và những vết loét.
Trong chữa trị ung thư  của Trung quốc truyền thống, strychnine được sử dụng phối hợp với những dược thảo khác.
Hiệu quả xấu và rủi ro :
Cực kỳ nhiễm độc. Ngộ độc strychnine làm ta hồi tưởng những triệu chứng lo âu của uốn ván tétanos, nhạy cảm với ánh sáng, cơn động kinh, bị nổ tung bởi những tiếng động hay sự yếm kém tiếp xúc. Cái chết xảy ra từ ngạt thở tiếp theo co rút các cơ hoành cách mạc.
Nếu trong trường hợp bị nhiễm độc, một máy bơm dạ dày nên được sử dụng ngay lập tức và « thuốc tím permanganate de potassium » được dùng để làm vô hiệu hoạt động strychnine. Sự co giật dử dội có thể được kiểm soát bằng thuốc gây mê hiện đại. Điều trị là triệu chứng . Những cơn động kinh có thể gây nên sự tích tụ acide lactique và làm tiêu cơ vân.
Hiện nay không có một thuốc giải độc đặc biệt.

●  Strychnos Nux-vimica cũng được dùng trong « vi lượng đồng căn » homéopathie.
Strychnos chưa được chứng minh hiệu quả trong bất kỳ điều trị nào trên căn bản khoa học. Kể từ khi biết những hạt mã tiền chứa chất strychnos, những bác sỉ, không khuyến khích bệnh nhân sử dụng như là một loại thuốc.
Trên hội đồng danh sách E những cây không được chấp nhận bởi vì nó không được khuyến cáo sử dụng cá nhân và không được chứng minh kết quả chữa trị chắc chắn và có hiệu quả.
Ngoài ra cây mã tiền, không có bằng chứng thử nghiệm lâm sàng của strychnine hổ trợ cho liệu pháp hữu hiệu chống lại bệnh ung thư.
Ứng dụng :
Strychnos nux vomica khuyến khích dùng cho :
- đau dạ dày, maux d’estomac
- nôn mửa, vomissements
- đau bụng, douleurs abdominanles
- táo bón, constipation
- Kích thích đường ruột,
- nóng dạ dày brûlures d’estomac,
- mất ngủ
- đau tim,
- một số bệnh về hệ tuần hoàn,
- đau mắt,
- đau ½ đầu migrain,
- rối loạn thần kinh,
- những vấn đề liên quan đến thời kỳ mãn kinh,
- nhũng bệnh hô hấp ở người già,
Trong y học dân gian, mã tiền dùng như thuốc bổ lành bệnh và kích thích sự thèm ăn.
Mã tiền là một loại thuốc vi lượng đồng căn, được quy định cho những vấn đề tiêu hóa thông thường, nhạy cảm với nhiệt độ lạnh và cáu kỉnh khó chịu.
Hạt mã tiền, hạt của một cây cao ở Đông Ấn, cho đây là loại thuốc rất mạnh và rất hữu ích, đã được biết ở tổ tiên xưa, đây là vấn đề tranh cải. Mãi đến 150 năm sau mới bắt đầu đưọc công nhận gần đây gíá trị y học của cây.
Nux vomica, nghĩa vụ hoạt động do chất alcoaloïdes của 2 chất strychninebrucine. Nhưng trong thực tế hoạt động của nux vomica trên cơ thể con người không giống bất cứ hoạt động của 2 chất này.
Nux vomica rất đắng, về phương diện lý thuyết hiện nay, tác dụng sinh lý của Nux bằng cách  hạn chế vào tủy sống.
Khi dùng với một liều rất nhỏ, theo Stille ( Système de Madica et thérapeutique, 1864 ) :
- dùng trong rối loạn tiêu hóa,
- để gia tăng bài tiết dịch vị ở dạ dày
- ở miệng ở gan
- và ở tụy tạng,
- gây ra đi tiểu thường xuyên
Khi dùng với một liều gia tăng quang trọng :
- thì là một nguyên nhân giữ để nước tiểu,
- trước hết, tạo ra sự co rút cơ vòng cổ bàng quang
- và cuối cùng mất khả năng co thắc lớp cơ bàng quang,
- kích thích co thắc cơ tử cung và thúc đẩy chu kỳ kinh nguyệt. 
Trong những liều độc lớn :
- sau khi thường khó chịu lo lắng,
- đau,
- nặng nề các tay chân
- và những khớp xương,
- những triệu chứng co thắc đã cày đặt trong cơ, nhìn chung như cú điện giật.
- Kế tiếp những co rút phong đòn gánh tất cả các cơ, trong đó những thành viên cố định cứng uốn cong hay mở rộng, hàm dưới đóng lại nghiến chặc hàm trên và cơ thể cong vòng lại.
- Sự co cứng các cơ hô hấp làm cho sự thở cũng lười biếng và thậm chí ngưng thờ một thời gian,
- và da trở nên xanh mét với những vết máu ứ.
- Những góc miệng, co rút, lộ hàm răng ra, nước bọt phèo phèo ra,
- cái nhìn mắt và trán cũng giật méo.
Giữa tất cả các triệu chứng khủng khiếp của tinh thần, không phải lúc nào cũng được thực hiện, và cũng có khả năng có lúc giảm ít cảm thấy đau. Những cơn động kinh thường gián đoạn bởi những lúc tinh thần bình tĩnh, tuy nhiên với những tiếng động nhỏ, đột ngột cũng có thể tái trở lại cơn động kinh.
Cái chết là sản phẩm cuối cùng của sự suy nhược và ngạt thở bởi những co rút cơ và động kinh.
Liều thấp nhất gây ra chết người là khoảng 3 hạt, strychnine một hạt.

STRYCHNINE

Strychnine có công thức C21H22O2N2 , trích từ hạt cây vomiquier Strychnos Nux-vomica hay nhân, rất độc, chất strychnine được ghi vào bảng A của các dược điển. Người ta tìm thấy Vomiquier trong rừng hoang ở Ấn Độ, Tích Lan, Đông Nam Á.
Để ly trích chất strychnine, người ta nghiền hạt mã tiền trong rượu sôi, người ta chưng cất dung dịch rượu thu hoặch và tinh chế bằng những phương pháp khác nhau.
Ở trạng thái tinh thể, strychnine có tính chất : không màu, không mùi và vị rất đắng. Ít tan trong dầu lửa và trong nước, không tan trong ether éthylique. Trong dung dịch lỏng, strychnine tả tuyền ( là hợp chất hóa học xoay theo mặt phẳng ánh sáng phân cực theo ngược chiều kim đồng hồ lévogyre ).
- Theo quan điểm hóa học thì strychnine có thành phần cấu trúc rất phức tạp ( hóa học ).
- Đứng trên quan điểm dược lý, là một chất kích thích chủ yếu vào tủy sống, đây là hệ thống thần kinh trung ương. Nó làm tăng cảm nhận giác quan như: vị giác, khứu giác, thị giác. Với lượng vừa phải trung bình, hoạt động tác dụng vào trung tâm hô hấp nằm trong hành tủy ( bulle rachidien ) và gia tăng biên độ hô hấp.
Chất strychnine được sử dụng trong chữa trị những chứng rối loạn chức năng cơ vòng ( sphinctériens ) nhất định, sự suy hô hấp và viêm đa thần kinh nghiện rượu « polynévrite alcoolique ».
Khi ngộ độc strychnine, được thể hiện bởi những : cơn động kinh co giật và đôi khi đưa đến tử vong vì ngạt thở.
Các thuốc giải độc tốt nhất là những loại thuốc an thần. ( Philippe COURRIER )   
Noix Vomique  - Strychnos nux-vomica
Nhân vomique chứa chất strychnine ( chất kích thích mạnh ). Thật không may, chất này quá độc quá nguy hiểm cho hệ thần kinh. Sử dụng phải có hướng dẩn của y tế.
Hoạt chất chánh của hạt, lúc đó đến từ biển Ngà Côtêd’Ivoire dưới dạng café, chỉ được biết đơn giản là kích thích, không biết gì hơn.
Nhân vomique, với liều « rất nhỏ » đây là một kích hoạt cho sự cương cứng bộ phận sinh dục đàn ông, nhưng với một liều cao hơn thì là một chất strychnine gây « động kinh phong đòn gánh » …….



Nguyễn thanh Vân