Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

jeudi 12 janvier 2012

Cây vòi voi - Herbe papillon

Herbe papillon
Cây vòi voi
Heliotropium indicum L.
Boraginaceae
Đại cương :
Đồng nghĩa :
Heliophytum indicum (L.) DC.
Tiaridium indicum (L.) Lehm.
Cây vòi voi mọc trên đất cát hoặc bùn nơi mà có nhiều chất hửu cơ, nơi ngập lụt và đồng cỏ, dọc theo bờ đường, ven mương, hồ, nơi nước thải và rất thông thường.
Mùa trổ hoa kéo dài, những hạt được thành lập đã được phóng thích đi trong khi nụ hoa còn lại vẫn khép kín.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Ở Ấn Độ
Mô tả thực vật :
Heliotropium indicum, còn gọi  gọi là cây vòi voi Ấn Độ. ( héliotrope Indien )
Cây sống nhất niên, đứng thẳng, phân nhánh rậm rạp, 15 đến 50 cm chiều cao. Thân và lá nhám vì có lông, dò tẩm CO3Ca.
luôn luôn mọc đối hay mọc xen kẻ, không lá bẹ, hình  bầu dục thôn dài, hơi có lông, có mủi nhọn,
Cuống lá dài 3-8 cm.
Phát hoa tụ tán hình đuôi mèo, mọc từ nách lá, hoa nhỏ trắng, hoa đều, ngủ phân, lá đài xanh cao 2,5 cm, vành hoa hình ống, tiểu nhụy gắn ở dưới giữa ống vành.
Trái khô 2-4 thùycủa 2 hay 4 gần rời, gọi là tứ bế quả cao cao 3-4 mm.
Bộ phận sử dụng :
Toàn bộ cây
Thành phận hóa học và dược chất :
Heliotropium indicum chứa :
- Aerial parts contain
- pyrrolizidine alkaloids, ( chất chánh )
- Indicine (principal),
- Echinitine,
- Supinine,
- Heleurine,
- Heliotrine,
- Lasiocarpine- N-oxide,
- Indicinine,
- Anti-tumour alkaloid, indicine-N-oxide.
- Helindicine
- Lycopsamine
- Indicine-N-oxide
- Acetyl-indicine
- Supinidine
- Lindelofidine
- Trachelanthamidine
- Retronecine
- Putrescine
- Spermidine
- Spermine
- Rapanone
- C16-C18 ester acide béo của 1 cyano – 2 – hydroxymethylprop-1-en-3-ol.
Cây cũng có sản lượng tinh dầu cần thiết trong đó bao gồm chủ yếu :
- 49% phytol,
- 6,4%  1-dodecanol
- và 3%  β linalool
Cây vòi voi cũng chứa:
- rapanone
- và lupeol
- và một ester của retronecine;
Rể chứa một lượng cao estradiol (Ghani, 2003; Rastogi & Mehrotra, 1993).
Pyrrolizidine alkaloids, được coi như chất thuộc một chất thuộc dược vật học, sinh họcchimio-taxonomique ( nghiên cứu mối quan hệ giữa sự sắp xếp phân loại và thành phần hóa chất trong cuộc sống ) có lợi ích lớn. Những chất chuyển hóa đã được phân lập từ nhóm lớn của họ Boraginaceae.
Giống Héliotropium ( giống cây vòi voi ), là một nguồn chất mà người ta đã biết rỏ một vài alcaloïdes và những hợp chất nhỏ khác, chẳng hạn như flavonoïde và những chất dẩn xuất mùi thơm  géranyle.
Nhóm này được thành lập khoảng 250 loài, hiện diện bởi những loại thân thảo hay tiểu mộc, phân bố khắp nơi trên địa cầu.
Trong khuôn khổ nghiên cứu tìm kiếm hoạt chất sinh học hiện diện trong cây của chất trích EtOH từ những rể cây vòi voi Héliotropium indicum L. được phổ biến rộng rãi gọi là « fedegoso » được tìm thấy nhiều trong vùng bắc Ba Tây, đã được nghiên cứu.
Và loài này được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian trong chữa trị:
- bệnh ngoài da
- như một chất long đờm.
Dựa trên căn bản những tạp chí văn học, và những chủ đề đã nghiên cứu có từ trước, dẫn đến sự phân lập chất pyrrolizidine alcaloïde. Bài nghiên cứu này mô tả sự phân lập và giải thích cấu trúc của loại mới pyrrolizidine alcaloïde và được biết thêm alcaloïde lycopsalmine.
Đặc tính trị liệu :
Lá cây vòi voi có những đặc tính sau :
- Chất làm se thắc,
- Hạ sốt, cho những bệnh nhân bị sốt cao,
- Giảm đau,
- Đơn thuốc cho những mụt nhọt.
Sử dụng tổng hợp, lá và chồi non dùng để trị :
- Nổi mày đay urticaire,
Phương cách ngâm trong nước nấu sôi infusion,
- với một liều lượng nhỏ sẻ điều hòa kinh nguyệt,
-  nhưng dùng với một liều lớn sẻ trụy thai abortive.
Phương cách nấu sắc lá vòi voi dùng :
- thuốc trục giun sán.
Nước ép lá  dùng để:
- Chống viêm sưng,
- Đấp bên ngoài vết thương, vết loét, những nhọt đầu đinh và những mụt trên mặt.
Đun sôi với dầu ricin ( dầu đu đủ tía hay dầu hạt thầu dầu ), dùng bên ngoài nơi vết bò cạp cắn.
Theo y học truyền thố ayurveda của Ấn Độ cây vòi voi chữa trị :
- loét,
- vết thương,
- các bệnh ngoài da,
- côn trùng chích,
- chứng phong thấp,
- sốt,
- ho,
- bệnh ghẻ,
- bệnh đơn độc érysipèle,
- đau mắt
Hạt vòi voi chữa những bệnh đau dạ dày.
Ở Tây Phi, cây vòi voi đã được biết đến và được sử dụng trong :
- ói mữa,
- không kinh nguyệt aménorrhée,
- huyết áp cao,
- Ung mủ nướu răng gumboils,
- rữa vết loét,
- và những bệnh về mắt ( cẫn thận ??? ).
Ở Sierra Leone, lá vòi voi được nấu sắc sử dụng tắm rữa trẻ sơ sinh trong khi bột lá được dùng trị :
- viêm da dermatite,
- chóc lở,
- chứng lở chóc, sang thấp eczéma,
- nhiễm mặt ngoài da do vi khuẩn thường do Streptococcus pyogenes (impétigo)
 Ở Sénégal, lá đun sôi được dùng :
- đẹn (muget)
và thuốc cao hay thuốc dán được dùng cho thủy bào chẩn ( nhiễm virus da ung trào mủ ) herpès và phong thấp ở Nam Dương.
Cây vòi voi còn là một đơn thuốc chữa trị đau cổ họng và phổ biến ở Đài Loan. Taiwan.
Tại Nigeria, cây vòi voi dùng cho chứng :
- sốt
- và loét.
Ở phiía tây nam Nigeria, cây vòi voi dùng để chữa trị :
- chứng viêm sưng,
- đặc biệt khớm xương sưng.
Tuy nhiên một số hoạt động có liên quan tới khoa học thực vật. Chúng bao gồm các hoạt động hệ tiêu hóa ( Adelaja và al 2008 ), hoạt động lành vết thương ( Srinivas và al,2000 ), hiệu quả chống lao phổi ( Machinan và al, 2005 ), hiệu quả antiproliférative ( Moongkarndi và al, 2004 ), cũng như hiệu quả kích thích sự miễn nhiễn ( Ashoka và al, 2009 ).
Chủ trị : indications
Rể có tác dụng :
- kích thích tình dục,
- dùng để chữa trị bệnh quáng gà ( không nhìn rỏ ban đêm ).
Phương cách nấu sắc rể được sử dụng trị sốt và ho.
Hạt trị những chứng đau dạ dày.
Hoa được xem như emménagogne với liều lượng nhỏ, với liều lớn sẻ có tác dụng trụy thai.
Dung dịch trích với rượu những rể cây vòi voi là ocytocique ( là một loại thuốc có khả năng kích thích co bóp tử cung hoặc trong khi sinh đẻ ) ( Asolka và al, 1992 )
Hiệu quả xấu và rủi ro : :
“Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); Từ năm 1969, các nhà khoa học đã phát hiện trong một số loài Heliotropium như Heliotropium lasiocarpum Fish et Mey có một số alkaloid độc tính cao với gan, gây hủy hoại tổ chức gan, đau bụng, tiêu chảy, xuất huyết lan tỏa và có thể gây ung thư.
Độc tính này không xuất hiện ngay sau khi dùng thuốc mà kéo dài âm ỉ, khó phát hiện. Do đó không nên dùng cây vòi voi này làm thuốc”.
Trên thế giới, nhiều nước có nhiều cây vòi voi mọc hoang cùng giống Heliotropium nhưng lại có nhiều loài.
Cây vòi voi ở Việt Nam, như đã nói trên với thành phần hóa chất và tính dược nhưng cho đến nay không thấy có sự ghi nhận độc tính như héliotropium lasiocarpum, nhưng chúng vẫn có 2 chất xem như chất độc :
- Pyrrolizidine alcaloïde
( Fu, P.P., Yang, Y.C., Xia, Q., Chou, M.C., Cui, Y.Y., Lin G., "Pyrrolizidine alkaloids-tumorigenic components in Chinese herbal medicines and dietary supplements", Journal of Food and Drug Analysis, Vol. 10, No. 4, 2002, pp. 198-211 )
 Vì vậy, người ta nên cẩn thận, trong thiên nhiên thực vật dể bị lầm lẫn có thể gây thiệt hại cho sức khỏe, và thận trọng khi dùng cây vòi voi làm thuốc đắp chữa các bệnh ngoài da như: nhọt giai đoạn chưa có mủ, viêm tấy, tụ huyết, sưng khớp.


Nguyễn thanh Vân

video