Một người một gậy lang thang bước - Tìm chốn an nhàn gởi tấm thân

Rừng sâu thăm thẳm hồn non nước - Lòng ta vương vấn mãi lâng lâng

Đời tôi như cốc Linh Chi đắng
Nhấp hớp một hơi ấm áp lòng

lundi 12 décembre 2011

Cây đu đủ - Papaye

Papaye
Cây đu đủ
Carica papaya L.
Caricaceae
Đại cương :
Carica papaya, gọi là papaya hay Cây đu đủ tên gọi Việt Nam, được trồng rộng rải, là một cây ăn trái vùng nhiệt đới.
Đối với vùng núi Nam Mỹ, có giống gọi « đu đủ núi » tên khoa học Vasconcellea pebescens A.DC. có hình dạng giống trái đu đủ cùng họ Caricaceae. Cùng tên gọi ở miền Đông Bắc Mỹ trái cũng được gọi là « papaye » nhưng từ hình dạng đến cơ cấu đều khác xa Asimina triloba và cũng khác họ, thuộc họ Annonaceae.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Cây đu đủ có nguồn gốc từ Caraibes qua Tây ban Nha, Đu đủ là trái của cây đu đủ Carica papaya, papaya là một loài duy nhất của giống Carica thuộc họ Caricaceae. Có nguồn gốc nguyên thủy ở Mỹ Amérique, và lần đầu tiên được trồng ở Mexique từ nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện trong văn hóa Trung Mỹ cổ điển.
Mô tả thực vật :
Cây đu đủ là một cây giống như một cây lớn, với một thân duy nhất thẳng đứng không phân nhánh 5 – 10 m chiều cao,
Lá mọc vòng luân sinh sắp xếp hạn chế ở đầu cây. Ở phần thân ở phía trước còn dấu vết của lá và trái đã mọc gắn vào và rụng đi. Lá lớn, 50 – 70 cm đường kính, hình chân vịt, xẻ sâu với 7 thùy. Cây thường không phân nhánh trừ khi tỉa.
Hoa giống như hoa sứ plumeria nhưng nhỏ hơn nhiều và giống như sáp. Mọc ở nách lá, khi trưởng thành khoảng 15 – 45 cm cao và trái khoảng 10 – 30 cm đường kính.
Trái chín khi cảm thấy mềm và da đổi màu vàng đến cam.
Bộ phận sử dụng :
Lá, trái, hạt và mủ trắng của thân
Thành phận hóa học và dược chất :
Đu đủ papaye giàu :
- chất sucre (5 à 8%)
những chất sinh tố vitamines :
- vitamine C (60 à 70 mg/100 g),
- vitamine A (100 microgrammes/100 g)
Mủ trắng latex lấy được ở những đường rạch của những trái còn xanh, nó đông đặc rất nhanh, người ta thu thập bằng cách cạo và phơi khô.
Mủ hiện diện bởi những mảnh nhỏ trắng trắng đến nâu, mùi gần như thịt nướng và hương vị hơi mặn và đắng.
Latex được tìm thấy trong tất cả các bộ phận thân cây đặc biệt trong lá.
Đây là một hỗn hợp phân hóa tố gây ra sự phân hủy chất đạm protéing thành những chuổi acides amines ( peptides ) kế đó cắt thành nhiều acides amine .
Hai thành phần hoạt tính sinh học là những phân hóa tố papaïnechymopapaïne.
Hợp chất phénolique tăng cao ở cây đu đủ đực và cái.
Trong lá, trái, thân và rể chứa :
- Papaïne,
- Phytokinase,
- Acide malique,
- Maléate de calcium.
Trong mủ trắng latex chứa :
- Chymopapaïne.
Lá :
- Carpaïne ( ( alcaloïde ),
- Carposide ( glucoside ),
- Saccharose 0,85 %,
- Dextrose 2,6 %,
- Lévulose 2,1 %,
- Citrates.
- Pectine
Trong hạt : hiện diện một tinh dầu bay hơi.
Trái đu đủ là nguồn giàu chất dinh dưởng như :
- Tiền vitamine A ( caroténoïdes ) ,
- Vitamine C,
- Vitamines B,
- Khoáng chất
- và thành phần chất xơ thực phẩm.
Da đu đủ, nạt đu đủ màu vàng hồng và hạt đu đủ màu đen cũng chứa những thành phần khác nhau « hóa thực vật » phytochimique, bao gồm chất phytophénols.
Đặc tính trị liệu :
Điều đáng chú ý là trong tất cả bộ phận của đu đủ đều chứa chất độc papaïne và Chymopapaïne, cho nên khi dùng TRONG CƠ THỂ tuyệt đối không dùng LÁ TƯƠI mà chỉ dùng lá KHÔ với liều lượng nhỏ thích hợp.
Liều lượng dùng lá tươi có thể đưa đến kết quả MORTEL chết
Hạt đu đủ được xem như :
- Chất kháng viêm sưng  anti-inflammatoire,
- Xổ lải ,
- Giảm đau,
- Kiện vị, bổ bao tử stomachique
- và kháng khuẩn.
đu đủ dùng như :
- Thuốc bổ,
- Thuốc giảm đau,
-  Những bệnh thuộc bao tử.
- Lá đu đủ khô chữa trị các loại ung thư cancer.
Rể đu đủ dùng như thuốc giảm đau.

Y học dân gian :

- Mở rộng vết thương ( loại bỏ chất dịch mủ và những cục máu ở vết thương và vết loét ) :

Đắp mủ trắng ( latex ) của trái đu đủ chín hay thân lên trên vết thương hay vết loét ulcère

- Thuốc nhuận trường : Ăn trái đu đủ chín thường xuyên ( có thể là nguyên nhân chứng vàng da, đặc biệt là lòng bàn tay và lòng bàn chân, nhưng không ở mắt ).

- Mụn trứng cá : Pha trộn 3 muỗng soup trái đu đủ chín xay đặc với 1 muỗng soup nước ép của kalamansi ( trái quấc hay trái tắc ) ; đắp hỗn hợp trên mặt trong vòng 30 phút, kế đó rửa mặt bằng nước ấm.

Thuốc cao bôi : Đập giả nát lá đu đủ thành cao, dùng bôi trên chổ đau thấp khớp.

Nấu sắc như trà : Sử dụng lá khô dùng cho những sự rối loạn dạ dày khác nhau.

Nấu sắc : Sử dụng những hoa nấu sôi hay hạt dưới dạng bột để thúc đẩy kinh nguyệt.

Ngâm trong nước sôi : hoa đực với mật ong dùng để trị :

- chứng ho,

- khàn giọng enrouement,

- viêm phế quản bronchite,

- viêm thanh quản laryngite,

- viêm khí quản trachéite : Dùng 1 muỗng mỗi giờ . 

Dùng thuốc cao bôi : Chế biến rể thành cao sử dụng trường hợp bị rít cắn,

Ở Ấn Độ và Tích Lan, trái đu đủ xanh được dùng như ngừa thai và phá thai.

Hai chất chánh yếu trong đu đủ là papaïnechymopapaïne.

Chất mủ trắng latex, nhưng là chất độc và là một chất tẩy xổ mạnh với một liều hiệu quả.

Hạt chín đen cũng có chứa một chất chống lại giun sán nhưng hương vị lại cay nồng nên không được sử dụng.

Người ta tìm thấy trong tất cả bộ phận của cây đu đủ một ít :

- acide cyahydrique,

- một hétéroside có chứa chất lưu huỳnh ( glycotropoline ) trong cây và nhất là trong hạt,

- và nhiều alcaloïdes trong lá.

Đu đủ đã được thương mại hóa dưới hình thức thuốc viên để chữa trị vấn đề hệ tiêu hóa.

Đu đủ cũng áp dụng tại địa phương ( trong những nước trồng đu đủ ) để chữa những vết cắt, phát ban ở da, những vết chích và phỏng.
Mùi thơm đu đủ được lấy từ thịt của trái đu đủ lên men và được áp dụng chế ra bột keo nhảo
- Lá đu đủ được dùng như một dược liệu trợ giúp những trường hợp đau dạ dày, do hàm lượng phân hóa tố có trong lá.
- Lá đu đủ giúp dạ dày nhất là trong sự tiêu hóa đạm protéine, mà còn giúp tiêu hóa glucides và những chất béo lipides.
- Lá đu dủ cũng cho thấy như là một phương tiện chống ung loét.
Tất cả vị thuốc từ lá đã được chế biến cẩn thận hoặc dùng lá phơi khô hoặc xấy khô.
Ung thư cancer :
Lá khô còn dùng để chữa trị ung thư
Dùng lá đu đủ phơi khô nghiền nát như trà ( cẩn thận khi cắt lá tươi, chất papaïne và chymopapaïne có thể là lỡ loét da tay, nên dùng bao tay, tránh tiếp xúc với mắt ), uống như trà ( tuyệt đốt không dùng lá tươi, gây tử vong rất nguy hiễm ), theo kinh nghiệm dân gian mới đây nhận thấy lá papaye có thể có hiệu quả với nhiều loại ung thư như :
- Ung thư ngực, gan, phổi, vú, máu, thận, cuống họng, ung thư óc do di truyền... v...v...
Lá đu đủ khô khi sử dụng sẽ làm :
- tăng biến dưởng,
- tăng tính miễn nhiễm tức gia tăng mạnh lưọng bạch huyết cầu và có khả năng tiêu diệt và thải tế bào ung thư ra ngoài cơ thể, phân có màu đen .
Lá đu đủ khô, dùng uống như trà không hại, người ta có thể thử và theo dỏi sự tăng trưởng, kích thước của những khối u và màu sắc phân để biết hiệu quả hay không. Tất cả những dược thảo đều cẩn thận khi dùng với những bệnh nan y.
Sốt xuất huyết
« Một trang web blog vườn nho » nói về sử dụng nước ép lá đu đủ cho những bệnh nhân mắc phải bệnh sốt xuất huyết :
Dùng 2 lá đu đủ, rửa sạch và ép bằng tấm vải thưa để lấy được 2 muỗng soup nước dung dịch ép để dùng. Uống 1 lần / ngày.
Kết quả đã được cải thiện trong số lượng tiểu cầu giãm ( plaquettes ). Một số dữ kiện khá ngoạn mục được cho là do việc sử dụng nước ép lá đu đủ.
Hoạt tính sinh học của những chất hóa học được kể là :
- Carpaine,
- Carposide,
- Dehydrocarpaine,
- những flavonols,
- Pseuudocarpaine
- và tanins.
Hiệu quả xấu và rủi ro : :
Trái quả :
- Quả đu đủ, hạt, mủ nhựa latex chứa chất carpaine, một alcaloïde anthelmique, một chất chống diệt giun sán ký sinh trong cơ thể, có thể nguy hiểm với liều lượng cao.
Tuy nhiên, một liều mạnh được sử dụng, trái đu đủ chứa 6% mức bêta-carotène, chất này được tìm thấy trong carotte ( nguyên nhân thường phổ biến caroténémie )
Hạt :
- Chất trích từ hạt đu đủ ở liều lượng lớn có hiệu quả ngừa thai trên chuột và khỉ, nhưng với liều nhỏ không có hiệu quả nào trên những động vật sinh ra.
Nhựa trắng latex :
- Đu đủ phóng thích một chất nhựa trắng latex khi trái không được chín mùi, có thể gây sự kích ứng ngứa đau và gây ra phản ứng dị ứng ở một số người.
- Đu đủ, trong tất cả mọi trường hợp những người bị dị ứng với chất mủ latex không được dùng.
Nồng độ hoá chất papaïne chymopapaïne :
- Những phụ nữ mang thai tuyệt đối tránh không dùng đu đủ. Bởi vì có thể bị kích thích tử cung ( papaïne dường như làm tan một loại protéine phù hợp với cấu tạo mới được thụ tinh trên màng vách tử cung ).
- Đu đủ thường được dùng như thuốc gội đầu chẳng hạn, nhưng phải dùng với lượng nhỏ.
- Một sự suy đoán, nồng độ của đu đủ chín có thể gây ra những cơn co thắc tử cung, có thể dẩn đến sẩy thai.
- Tiêu thụ với lượng quá mạnh có thể là nguyên nhân tĩ lượng carotene đu đủ trong máu caroténémie, màu vàng thực vật.vấn đề này vô hại.
- Những người dùng thuốc có trong máu ( sulfinpyrazone ), thuốc làm loãng máu như ( Coumadine, aspirin… ) nên tham khảo ý kiến với Bác sỉ vì đu đủ có thể có đặc tính chống đông máu.
- Hít bột đu đủ, ( giàu chất kích thích tố, papaïne và chymopapaïne ) có thể gây ra những dị ứng. Mặc dù papaïne tiêu hóa đường glucides, protides, những protéine của khoai tây pomme de terre có thể không được tốt lắm.
Ứng dụng :
Lá :
- Lá non :Trong một vài nơi ở Á Châu, lá non đu đủ được hấp và ăn như rau dền épinard.
- Ở một và nước trên thế giới, đu đủ được dùng để ngừa bệnh sốt rét, mặc dù không có bằng chứng cụ thể và kết quả điều trị. ??
Rể - vỏ:
Trong y học truyền thống Creole Guyana và Caboclos Brazil, rể đu đủ hoặc vỏ cây hoặc phần trong của rể  được sử dụng như chất kích thích tình dục nhưng sự dùng này có thể liên quan đến biểu tượng tình dục của trái.
Trái :
- Quả đu đủ chỉ thường ăn sống, có hạt hoặc không hạt tùy thích để nhuận trường.
- Quả đu đủ sống xanh có thể dùng nấu chín, như cà ri, salades hay ragoûts.
Hạt :
- Hạt đen của đu đủ là hột ăn được, vị cay nồng. đôi khi chúng được dùng để thay thế tiêu.
Hoa đực :
Ở Brésil, những bông tươi của cây đực đã được dùng ngâm trong nước sôi infusion chống bệnh viêm phế quản và chứng viên khí quản trachéite nhưng người ta dùng cách nấu sắc cho « những bệnh về gan » và « tiêu hóa không tốt »
Mủ trắng latex :
- Mủ trắng latex có thể dùng để làm tiêu vết chai cứng ở da ( cors ) và mụn cốc ( verrues )
Chất papaïne - Chymopapaïne :
- Chất papaïne thô hay được làm tinh khiết được dùng trong liệu pháp để bù đấp cho sự thiếu hụt dịch tiêu hóa của dạ dày và tụy tạng pancréatique.
- Chymopapaïne được sử dụng để làm giảm hoặc lành những bệnh đau dây thần kinh của các dây thần kinh tọa ( nerf sciatique ) do kết quả một sự nén bởi đỉa sụn sống trật khớp hernie discale. Người ta tiêm thẳng vào trong nhân của đỉa, kỹ thuật rất mỏng manh bởi vì  phân hòa tố là « thần kinh độc tố » và có thể gây phản ứng dị ứng quan trọng, nhưng cách chữa bệnh này có hiệu quả .
Papaïne cũng được sử dụng như thành phần sản phẩm về da.
- Dùng bên ngoài cơ thể, là một chất chống sự viêm sưng và tẩy rửa sạch vết thương và có thể kết hợp với thuốc kháng sinh.


Nguyễn thanh Vân