Tâm sự

Tâm sự

mercredi 29 août 2012

Bèo tấm - Duckweed - Lentille d'eau



Duckweed - Lentille d’eau
Bèo tấm
Lemna minor L
Lemneae
Đại cương :
Lemna minor tên thông thường gọi lentilles d’eau hay Lesser Duckweed, tên Việt Nam gọi “ bèo tấm ” là một giống Lemna với một sự phân phối khắp nơi trên thế giới,
● Môi trường sống và phát triển : Bèo tấm phát triển trong nước, môi trường giàu chất dinh dưởng và độ kiềm pH giao động từ 5 đến 9, độ tối ưu vào khoảng 6,5 đến 7,5, nhiệt độ từ 6 đến 33° C. Sư phát triển tạo thành những tập đoàn rất nhanh chóng, và bèo tấm thường xuyên tạo thành một thảm bèo toàn diện  trên những hồ, hay hồ bơi khi có điều kiện phù hợp.
Trong các khu vực ôn đới, khi nhiệt độ xuống thấp dưới 6 đến 7° C, bèo phát triển nhỏ và dầy đặc, tinh bột sinh đầy trong cơ quan gọi là “ turions ” ( là một cơ cấu nảy sinh khi gặp điều kiện khí hậu khắc nghiệt như mùa động chẳng hạn ), trở nên không hoạt động trạng thái ngủ chìm sâu xuống đáy nước vào mùa đông, khi mùa xuân đến, bèo tăng trưởng trở lại và nổi trở lại trên mặt nước.
Bèo tấm là nguồn thực phẩm quan trọng cho một số loài cá và chim nước như vịt chẳng hạn, bèo rất giàu chất đạm protéine và chất béo lipide.
Trong phương cách lan truyền sinh sản, nhờ những con chim mang những bèo dính trên lông hay chân mang đến nơi khác, khi bay ngang qua những ao hồ khác xa hơn.
● Dân số và cạnh tranh :
Bèo tấm lemna minor có cấu trúc phù hợp với sự tăng trưởng nhanh chóng của nó. Điều này cho phép bèo phủ lấp nhanh một khối lượng nước lớn. Bèo tấm tăng trưởng vượt qua tất cả những thực vật thủy sinh khác, cạnh tranh bằng cách phát triển một thảm thực vật bèo dầy đặc che phủ diện tích mặt thoáng làm những loài khác bên dưới nó và chúng loại bỏ các đối thủ. Với sự ganh đua nội bộ đặc biệt, bèo tấm phải cạnh tranh bằng cách hấp thu nhiều nguồn dinh dưởng bên ngoài môi trường để có năng lượng cấn thiết tăng trưởng và sinh sản.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc:
Bèo có nguồn gốc hầu hết ở Phi Châu, Á Châu, Âu Châu và Bắc Mỹ, hiện diện khắp nơi, trong môi trường nước ngọt nơi mà có dòng nước chảy chậm, ngoại trừ Bắc cực và khí hậu cận Bắc cực.
Mô tả thực vật :
Bèo có cấu tạo thành phiến nhỏ của một loài thực vật thủy sinh không quá 5 mm rộng, hình dạng bầu dục thường thì 2 đến 3 mm, ít khi thấy 5 mm, màu xanh lá cây tươi sáng ở mặt trên và đậm ở mặt dưới, phiến này “ sinh chồi ” dùng để trôi nổi trên mặt nước, có thể nó tương đương với thân chuyển biến thành, ở mặt dưới phiến hiện diện 5 đến 5 gân có thể thấy được dưới sự phóng đại của kính lúp, mỗi phiến mang 1 rễ duy nhất và sống trong một môi trường nước ngọt có mặt thoáng yên tĩnh. Loài Spirodela polyrrhiza, lớn hơn, mang nhiều rễ ở mỗi phiến.
Sự nhân giống, phân cắt rất nhanh do những chồi mầm của phiến lá. Sau khi phân cắt ( do sự sinh sản vô tính bằng cách nảy chồi ), một số phiến vẫn còn dính lại với nhau nên tạo thành một tấm thảm xanh phủ trên mặt nước.
Hoa, rất hiếm sinh ra, khoảng 1 mm, phần lớn do sự sinh sản vô phái, hoa không có bao hoa, bao gồm 2 nhụy hoa và một vòi nhụy của một bầu noản duy nhất.
Hạt, 1 mm dài, có 8 đến 15 đường ngấn. 
Loài này sống và phát triển lan tràn khắp nơi trên thế giới, và được phổ biến ở Việt Nam, Pháp….
Bộ phận sử dụng :
Phiến bèo.
Thành phận hóa học và dược chất :

► Đánh giá độc tính của chất hóa học trong Bèo tấm Lemna minor :
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Organisation de coopération et de développement économiques OCDE và Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ ( US Environmental Protection Agency US EPA ), hướng dẩn mô tả thử nghiệm độc tính trên bèo Lemna giba hay lemna minor như một cơ quan sinh vật thử nghiệm. Hai loài này đã được nghiên cứu rộng rãi để sử dụng trong những thử nghiệm cho độc tố thực vật. Di truyền biến đổi trong những phản ứng với những chất độc hại có thể sản xuất trong lemna, và những dữ kiện này thì không đủ để kết luận ghi nhận đặc biệt nào cho cuộc thử nghiệm.
▪ Thử nghiệm của US EPA, sử dụng một kỹ thuật vô trùng aseptique.
▪ Thử nghiệm của OCDE không tiến hành tinh khiết axénique, nhưng đo lường trên những giai đoạn trong quá trình thử nghiệm để giữ sự ô nhiễm bởi các sinh vật khác ở mức tối thiểu.
Tùy thuộc vào những đối tượng thử nghiệm và những những yêu cầu quy định, kiểm tra có thể được thực hiện với sự lập lại ( bán bất động và động ) hay không lập lại ( bất động ) của dung dịch thử nghiệm.
Sự lập lại đã sử dụng để cho những chất có thể biến mất một cách nhanh chóng của dung dịch như kết quả của sự bay hơi, thoái hóa quang học, sự kết tủa hay sự thoái hóa sinh học,    
Đặc tính trị liệu :
► Bèo tấm là phương thuốc cho những triệu chứng :
● Mũi :
- bệnh sổ mũi,
- Hoạt động tất cả trên lỗ mũi
- Buớu thịt mũi,
- 3 cặp phiến xương hốc mũi sưng phù ( cornet nasal ),
- viêm mũi thoái hóa (đặc trưng thoái hóa các mô, sụn mũi, rối loạn các chức năng còn lại ).
- Thường kèm theo mùi hôi chảy máu mũi.
- Mất chức năng khứu giác.
- Lớp vãy mũi và niêm mạc trong mũi có mủ, chảy ra thường xuyên.
- Hốc mũi - yết hầu khô,
- Đau dẫn truyền như một chuổi liên tục từ mũi vào lỗ tai.
- Hen suyễn do sự tắc nghẽn mũi,
- Tồi tệ hơn khi khí trời ẩm ướt.
  Miệng :
- Miệng hôi thối, gia tăng vào buổi sáng,
- Yết hầu và thanh quản khô.
● Bụng :
- Khuynh hướng tiêu chảy ra tiếng ồn .
● Dạng thức :
- Trầm trọng, khi thời tiết ẩm ướt và mưa đặc biệt khi trời mưa lớn to.
● Mối quan hệ:
- Những triệu chứng quan hệ với môi trường chung quanh, thời tiết, sương mù.
► Tại Việt Nam, theo y học truyền thống Tuệ Tĩnh, bèo tấm Lemna minor có đặc tính và tác dụng và phối hợp như:
● Dùng trong cơ thể :
Thường dùng uống trong :
▪ giải cảm,
▪ sốt,
▪ chữa bệnh bí tiểu,
▪ đái buốt,
▪ đái dắt.
● Dùng ngoài chữa :
- mụn nhọt,
- và những bệnh ngoài da.
 Ngày dùng 10-20g sắc hoặc tán bột uống.
Kinh nghệm dân gian :
Theo y học dân gian (được ghi chép trong y học Tuệ Tĩnh )
▪ Là loại thuốc :
- giải nhiệt,
- đổ mồ hôi,
- lợi tiểu,
- hạ sốt,
- và cầm máu.
Chủ trị : indications
Bèo loại thuốc nhạy cảm :
Đây là thuốc có hoạt động giới hạn :
Bướu thịt xoang Polype des sinus
- Viêm mũi mãn tính với bướu thịt ở xoang mũi.
Viêm mũi mãn tính Rhinite chronique
- viêm mũi mãn tính với niêm mạc teo lại ở hốc mũi Rhinite chronique
- Viêm mũi mãn tính với lớp v’y mùi hôi
- Mũi tắt nghẽn trầm trọng bởi độ ẩm.
- Hen suyễn đi kèm với viêm mũi mãn tính.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Nếu có thai hay sanh đẻ, nên hỏi ý kiến của y sĩ trước khi dùng.
Ứng dụng :
Trồng trọt và sử dụng :
Bèo tấm được dùng như là một thực vật trong nước ngọt, lạnh và trong bồn nuôi của vùng nhiệt đới cũng như trong vũng ao ngoài thiên nhiên, nhưng luôn người ta phải cảnh giác hạn chế giảm bớt “ dân số ” bởi vì tốc độ tăng trưởng của bèo tấm rất nhanh và có thể xem như một loài thủy sinh có hại cho môi trường. Ngược lại bèo tấm cũng phát triển dùng:
- trong thương mại cây trồng,
- thức ăn chăn nuôi, chủ yếu cho cá, và gia cầm, vì nó phát triển rất nhanh dể dàng thu hoặch chỉ cấn vớt trên mặt nước. 


Nguyễn thanh Vân


lundi 27 août 2012

Hồng sim - Myrte - groseille


 Myrte-groseille
Cây hồng sim
Rhodomyrtus tomentosa ( Ait.)Hassk.
Myrtaceae
Đại cương :
Rhodomyrtus tomentosa, Việt Nam tên gọi Hồng sim, còn có tên khác đồng nghĩa Myrtus tomentosa Solander ex Aiton . Thuộc họ Myrtaceae, là một loài thực vật có hoa đẹp có nguồn gốc ở Nam và Đông Nam Á, bao gồm Miến Điện, Cambodge, từ Ấn Độ, phía đông miền nam Trung quốc, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam, phía Nam Malaysia, hầu như lan tràn khắp cả vùng nhiệt đới Châu Á.
Đặc biệt tại Việt Nam, hoa sim màu tím đã trở thành biểu tượng cho một “ mối tình thơ mộng không thành, một ly biệt đau buồn, khi mà nhà thơ thời tiền chiến Hữu Loan sáng tác bài thơ “ Màu tím hoa Sim ”. Hiện nay bài thơ này đã được các Nhạc sĩ phổ nhạc và đã đi sâu vào tâm tư mọi tầng lớp yêu thơ, yêu nhạc.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Rhodomyrtus tomentosa là thực vật tiểu mộc, lá thường xanh, tăng trưởng dần đến 4 – 12 m chiều cao.
mọc đối, dai, 5-7 cm dài và 2-3,5 cm rộng, 3 gân lá chụm ở phía dưới gần cuống, hình bầu dục, đầu tà đỉnh nhọn, màu xanh bóng mặt trên, mặt dưới trắng và có lông dày, với một cuống lá rộng và bìa lá nguyên.
Hoa, cô độc hay hợp thành tụ tán hai (2) hoặc ba (3), 2,5 – 3 cm đường kính, với  5 cánh hoa nhuộm màu trắng bên ngoài, nhuộm màu hồng tím hay hoàn toàn màu hồng, dạng ellip, tiểu nhụy nhiều, màu đỏ 7-8 mm, bầu noản hạ 3 hay 4 buồng, vòi nhụy 1 cm
Phì quả, trái ăn được, có lông mịn, 10-15 mm dài, màu tím, tròn, 3 hay 4 buồng, phía trên đầu bầu noản đài hoa còn tồn tại, bên trong chứa khoảng 40 đến 50 hạt xếp thành 2 hàng trong mỗi buồng.
Hạt được phát tán bởi chim hoặc loài hữu nhũ.
Tĩ lệ sản xuất hạt và nảy mầm rất cao.
Bộ phận sử dụng :
Lá, rễ, trái
Thành phận hóa học và dược chất :
Thành phần hóa học gồm :
► 2 hợp chất mới được phân lập :
▪ 2,4,7,8,9,10 hexahydroxy-3-methoxyanthracene-6-0-alpha-L-rhamnopyranoside;
▪ 4,8,9,10-tetrahydroxy-2-3-7-trimethoxyanthracene-6-0-beta-D-glucopyranoside;
► và những chất hóa học khác:
▪ α-amyrin;
▪ β-amyrenonol;
▪ β-amyrin;
▪ betulin;
▪ lupcol;
▪ acide nicotinique,
▪ acide betulinique
▪ rhodomyrtone;
▪ riboflavine;
▪ taraxerol;
▪ thyamine;
▪ vitamine A
► Nghiên cứu phân tích trong acétone, dung dịch ly trích từ lá Sim rhodomyrtus tomentosa, kết quả người ta phân lập được :
▪ Bốn (4) hợp chất tên theo thứ tự rhodomyrtosones A–D (1–4), cùng với :
▪ sáu (6) hợp chất đã được biết :
- rhodomyrtone,
- combretol,
- 3,30,4-tri-O-methylellagic acid,
- endoperoxide G3,
- (6R,7E,9R)-9-hydroxy-4,7-megastigmadien-3-one
- và a-tocopherol.
Quả chứa các :
- flavon
- glucosid,
- malvidin
- các hợp chất phenol,
- những acid amin,
- đường
- và acid hữu cơ.
Đặc tính trị liệu :
● Lá dùng làm thuốc :
- cầm máu,
- chữa vết thương chảy máu.
● Quả sim chín :
- trực tràng lòi ra ngoài ( lòi trĩ ) proctopsis ,
- ù tai,
- di tinh, mộng tinh,
- băng huyết.
● Rễ có thể được sử dụng :
- xuất huyết tử cung.
- đau lưng mõi gối,
- chống những cơn đau bụng maux d'estomac,
- và bệnh tiêu chảy diarrhée,
- viêm khớp, thấp khớp.
- và dùng như thuốc dán cho trẻ em sơ sinh,
● Trái ăn được có thể dùng làm :
- làm rượu gọi là rượu sim,
- mứt,
- tartes,
Nhưng cũng dùng cho y học để :
- chống bệnh tiêu chảy, diarrhée.
- chứng thiếu máu anémie,
- suy nhược sau cơn bệnh.
● Những chồi non và lá non có hiệu quả trong :
- bệnh đau bụng coliques,
- bệnh tiêu chảy diarrhée,
- kiết lỵ dysenterie,
- ung mủ abcès,
- nhọt furanculosis,
- xuất huyết hémorragie,
Và nước nấu sắc đậm đặc được dùng như :
● Nước thuốc sát trùng để :
- rửa những vết thương plaies,
- chứng lỡ ở da ( nùng bào chẩn ) impétigo
- và ung mủ abscesses.
- sa ruột thoát tràng hernie.
Dựa trên những thông tin ethnopharmacologique ( môn học nghiên cứu liên ngành động, thực và khoáng, những kiến thức sinh học liên quan đến văn hóa ngôn ngữ địa phương, để thực hiện thay đổi trạng thái sinh vật sống cho chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị…. Môn học nhấn mạnh chủ yếu vào thực vật dược thảo ), mục tiêu chính của nghiên cứu để điều tra trên những :
- hoạt động chống oxy hóa antioxydantes của các dung dịch trích khác nhau của lá sim rhodomyrtus tomentosa bằng cách sử dụng các phương pháp thực hiện trong phòng thí nghiệm in-vitro khác nhau.
- và nghiên cứu hoạt động chống loét với những trích xuất trong ethanol gây ra một mô hình loét cấp tính dạ dày.
Kinh nghiệm dân gian :
● Rễ và lá sim rhodomyrtus tomentosa được sử dụng để chữa trị ở Trung Quốc :
- viêm dạ dày ruột cấp tính và mãn tính, gastro-entérite aiguëchronique,
- đau bụng maux d'estomac,
- ăn khó tiêu dyspepsie,
- và viêm gan hépatite .
● Rễ sim cũng được dùng để chữa trị bởi y học truyền thống Trung Quốc :
- bệnh trực tràng lòi ra ngoài proctopsis.
● Ở Mả Lai dùng phương pháp nấu sắc rễ, đôi khi dùng sim Rhodomyrtus tomentosa được đưa ra chữa trị những bệnh nhân :
- bị tiêu chảy,
- hay bị chứng ợ nóng brûlures d'estomac.
(Ợ nóng, còn được gọi là pyrosis, ăn không tiêu đau vùng tim hay dạ dày bị acid, có một cảm giác bị nóng cháy ở trong ngực phía sau xương ức hoặc trong vùng thượng vị. Cơn đau thường gia tăng lên trong lồng ngực và có thể tỏa lên cổ, cổ họng hoặc góc hàm.
Ợ nóng thường liên kết với trào ngược acide dạ dày “ trào ngược dạ dày ”, đó là triệu chứng chính của bệnh “ trào ngược dạ dày thực quản “ reflux gastro-oesophagien ”RGO )
● Ở Trung Quốc hay Hồng Kông, những rễ Sim Rhodomyrtus tomentosa được dùng để chữa trị :
- xuất huyết tử cung,
Trong khi trái sim được dùng cho những phụ nữ mang thai.
● Ở Mả Lai, y học trong làng quê dùng :
- nước nấu sắc rễ dùng cho phụ nữ sau khi sanh .
● Ở Trung Quốc và Mả Lai, những nhà y học truyền thống, những y sỉ sử dụng nước nấu sắc để chữa trị những bệnh :
- đau vùng thắt lưng, vùng thấn kinh tọa low back ache
- đau lưng lombalgie,
- bệnh thấp khớp rhumatismales,
- viêm khớp arthritiques,
● Đối với những chứng bệnh ngoài da xem như chữa :
- bệnh chốc lở impétigo,
- nhọt,
- và ung mủ abcès.
● Thuốc dán chế biến từ lá áp dụng trên những vùng đau.
● Nước nấu sắc được sử dụng như :
- thuốc sát trùng ,
- và được dùng để rửa sạch những vết thương.
Sử dụng này cũng được :
- dự trù cho sự tổn thương giác mạc,
- suy nhược sau cơn bệnh,
- suy nhược thần kinh neurasthénie,
- chứng ù tai acouphènes,
- đau đầu,
- chảy máu vết thương plaies saignantes,
- di tinh mộng tinh spermatorrhée,
- và thậm chí rắn cắn morsures de serpent.
Nghiên cứu :
▪ Hoạt động kháng khuẩn :
Chất Rhodomyrtone :
[6,8-dihydroxy-2,2,4,4-tetramethyl-7-(3-methyl-1-oxobutyl)-9-(2-methylpropyl)-4,9-dihydro-1H-xanthene-1,3(2H)-di-one]
Phân lập từ Rhodomyrtus tomentosa (Aiton) Hassk. hiễn thị các hoạt động quan trọng chống lại những vi trùng gram dương +, bao gồm Bacillus cereus, Bacillus subtilis, Enterococcus faecalis, Staphylococcus aureus, résistant à la méthicilline Staphylococcus aureus (SARM), Staphylococcus epidermidis, Streptococcus gordonii, Streptococcus mutans, Streptococcus pneumoniae, Streptococcus pyogenes, Streptococcus salivarius
Ứng dụng :
► Trong y học truyền thống Việt Nam, được ghi nhận những tài liệu, những phương thuốc trong phạm vi bài này chỉ liệt kê đơn thuốc dùng riêng cây sim rhodomyrtus tomentosa mà thôi, không ghi lại những phương thuốc phối với những nguyên liệu khác như :
▪ Thiếu máu ở phụ nữ mang thai, suy nhược sau ốm :
- Quả sim khô 15-20 g sắc với nước, chia nhiều lần uống trong ngày.
▪ Tiêu chảy, kiết lỵ :
- Nụ sim 20-30 g sắc với nước, chia nhiều lần uống trong ngày. Nếu bị kiết lỵ với triệu chứng bụng quặn đau, đại tiện nhiều lần, lượng phân ít có lẫn máu mủ, mót rặn, nên dùng quả sim tươi 30-50 g (khô 15-25 g) rửa sạch, sắc với nước uống, khi uống hòa thêm chút mật ong.
▪ Đi cầu xuất huyết :
- Quả sim khô 20 g, nước 400 ml, sắc còn 300 ml, chia 2 phần uống trong ngày, dùng liên tục 3-5 ngày.
▪ Phỏng :
- Quả sim sao tồn tính, nghiền thành bột mịn, trộn với dầu thực vật bôi vào vết thương. Trong trường hợp phỏng lửa, có thể lấy rễ sim khô đốt thành than, nghiền thành bột mịn, trộn với mỡ bò bôi vào vết thương.
▪ Viêm dạ dày, viêm ruột cấp:
- Lá sim tươi 50-100 g (lá khô 15-20 g) sắc nước uống.
▪ Đau đầu, hen (dạng hư hàn):
- Dùng rễ sim khô 60 g, sắc nước uống.
▪ Phong thấp, bị thương lâu ngày nên khớp xương đau nhức:
- Rễ sim khô 60 g sắc lấy nước, hòa với rượu uống.


Nguyễn thanh Vân

video
 Màu tím hoa Sim - thơ Hữu Loan - Ca sĩ Thanh Tuyền

dimanche 26 août 2012

Rau mồng tơi - Ceylon spinach - Epinard de Malabar


Epinard de Malabar-Ceylon spinach
Rau mồng tơi
Basella alba L.
Basellaceae
Đại cương :
Basella rubra L. (1753), Basella lucida L. (1759), Basella cordifolia Lam. (1783).
Rau mồng tơi thường được xem như có nguồn gốc từ miền nam Châu Á, nhưng nguồn gốc chắc chắn thì chưa được rỏ. Hiện nay được trồng và nhập cư ở những vùng nhiệt đới và thậm chí còn phát triển ở những vùng ôn đới như cây trồng cho mỗi năm vào mùa ấm áp thích hợp.
Ở Phi Châu nhiệt đới, rau mồng tơi rất phổ biến trong mùa nóng và ẩm và sau đó trở nên hiếm khi tiếp cận với những vùng của lục địa khô khan hay mát.
Basella đã được liệt kê trong danh sách của nhiều nước, nhưng có lẽ hiện diện nhiều nhất trong tất cả Châu phi nhiệt đới.
Giống basella có 5 loài, trong đó có 3 loài nguồn gốc ở Madagascar và một loài ở Đông Phi Châu
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây thân thảo, có đời sống ngắn ngủi, có thể đạt đến 4 đến 8 m cao, mập mọng nước, thân leo quấn, mịn láng, màu xanh lá cây hay màu tím nhạt.
mọc cách, lá đơn, dày thịt, không lá bẹ, cuống lá dài khoảng 9 cm, hình trứng hay hình trái tim, 2,5 - 15 cm x 2 – 12,5 cm, thường thì giống hình trái tim ở phần dưới của cây, đỉnh lá nhọn, màu xanh đậm hoặc tím.
Cụm hoa ở nách lá, có thể đạt đến 22 - 30 cm dài, trên một cuống dài.
Hoa lưỡng phái, thường xuyên, hoa không cuống, bao hoa mập thịt hợp thành ống có 5 tai, tiểu nhụy 5 gắn trên miệng ống, bầu noản thượng, 1 buồng, noản, vòi nhụy chẻ 3 ở ngọn
Trái : giả nạt, đồng trưởng, hình cầu 4-7 mm đường kính, bao bởi lớp ngoại bì mềm thịt, màu tím đen, bên trong chứa một chất màu tím và một hạt.
Hạt hình cầu khoảng 3 mm đường kính, nâu đậm đến đen. Hạt nảy mầm trên mặt đất, lá mầm lớn, lá đầu tiên mọc đối, lá tiếp theo sau mọc cách.
Ngay khi những hạt nảy mầm, tăng trưởng thành một thân bò trường hay leo nhanh và những nhánh bên được thành lập rất nhanh. Mồng tơi bò trường trên mặt đất, những thân bò phát triển những rễ ở những đốt, cho phép mồng tơi tăng trưởng không giới hạn.
Người ta thu hoặch, cắt những đọt non để kích thích ra nhiều nhánh .
Những nhánh non mọc ngang nhỏ hơn thân bò stolon và kích thước giảm dần dần theo quá trình lão hóa của cây. Phát hoa bắt đầu trổ khoảng 6 tháng sau khi bắt đầu gieo hạt. Những hoa tự thụ phấn. Những trái chín đỏ khoảng 1 tháng.
Người ta thường thu hoặch mồng tơi như một thực vật hằng niên, nhưng nếu săn sóc thật tốt thì mồng tơi có thể kéo dài hơn 1 năm canh tác.
Bộ phận sử dụng :
Toàn cây
Thành phần hóa học và dược chất :
► Thành phần những nhánh cành non tươi của mồng tơi Basella bởi 100 g phần ăn được như sau :
- nước 93 g,
- năng lượng 79 kJ (19 kcal),
- chất đạm protéines 1,8 g,
- chất béo lipides 0,3 g,
- đường glucides 3,4 g,
- calcium Ca 109 mg,
- phosphore P 52 mg,
- sắt Fe 1,2 mg,
- vitamine A 8000 UI,
- thiamine 0,05 mg,
- riboflavine 16,0 mg,
- niacine 0,50 mg,
- folate 140 μg,
- acide ascorbique 102 mg (USDA, 2002).
► Những lá chứa nhiều oligoglycosides triterpènes loại oléanane, như là :
- basellasaponines,
- bétavulgaroside I,
- spinacoside C
- và momordines.
- Hai (2) peptides chống nấm antifongiques
- và hai (2) chất đạm protéines hoạt động chống virus antivirale vô hiệu hóa hoạt động những ribosomes đã được phân lập từ hạt.
Thành phần lá khô tính bằng grams (g) hay mg cho 100 g thực phẩm :
● Lá ( trọng lượng khô )
- 275 năng lượng /100g
- nước  0%
- chất đạm protein: 20g;
- chất béo lipide 3.5g;
- chất đường glucide 54g;
- chất xơ thực phẩm 9g;
- tro 19g;
▪ Nguyên tố khoáng :
- Calcium,
- Phosphorus,
- sắt Fe,
- Magnesium,
- Manganèse Mn,
- Sodium,
- Potassium,
- Kẽm Zn,
- Đồng Cu
- Kaempherol đã hiện diện trong flavonoïde của Basella alba có một nồng độ 1,4mg/100g.
▪ Vitamins
- vitamine A: 50mg;
- thiamine (B1): 0.7mg;
- riboflavin (B2): 1.8mg;
- niacin: 7.5mg;
- vitamine B6: 0mg;
- vitamine C: 1200mg;
- vitamine E,
- vitamine K,
- vitamine B9 (acide folique),
▪ Acide aminé như là :
- arginine,
- leucine,
- isoleucine,
- lysine,
- thréonine,
- và tryptophane,
- Một (1) peptide,
- các hợp chất phénoliques trong những dung dịch trích khác nhau.
▪ stérols
▪ ß-cyanins,
▪ gomphrenins I và II,
▪ isogomphrenins I và II,
▪ gomphrenin III và những dẫn chất hiện diện trong nước ép cây mồng tơi.
▪ Spinacosides C và đã được phân lập từ những bộ phận trên không (Ghani, 2003).
● Trái mồng tơi Basella chứa dẫn chất :
- gomphrenin là một sắc tố betalain.
- và chất tinh bột amidon loại glucane có thể được tách rời bởi iode tinh bột phức tạp.
Dung dịch nước ép cây mồng tơi cho một hoạt động phòng chống gan, và những bộ phận trên không chứa các hợp chất :
- phénoliques,
- bétalaïnes,
- những caroténoïdes,
- những acides béo,
- chất nhày  mucilage,
- những acides amines,
- peptides,
- saponines,
- và triterpénoïdes.
● Cây mồng tơi có một mức độ chất nhày mucilage tốt là một hợp chất trợ giúp có giá trị giải độc cho cơ thể.
- Chất Basella mucilage, nhớt với một khả năng trương nỡ thấp, đóng một vai trò của sự giử nước, nẩy mầm, là một bồn chứa thực phẩm và trao đổi biến dưởng chất  thứ cấp.
- Basella alba chứa chất basellasaponins,
Chất nhày mucilage cũng được đề nghị cho các ứng dụng cho thuốc và mỹ phẩm.
- antityrosinase được chấp nhận trong  y học truyền thống sử dụng chống tàn nhang tache de rousseur đả được thữ nghiệm.
- hoạt động chống oxy hóa hoạt động liên quan đến cơ chế viêm sưng inflammation nguyên nhân bởi những gốc tự do đã được khảo nghiệm định phân lượng.
- anthocyanes là một sắc tố tự nhiên, màu xanh, tím, và đỏ trong trái, hoa, thân và lá.
Đặc tính trị liệu :
► Sử dụng trong y học :
● Thân lá mồng tơi :
▪ Cây mồng tơi là một thuốc giải nhiệt fébrifuge,
▪ Mồng tơi cũng được dùng làm thuốc lợi tiểu diurétique,
● Lá mồng tơi :
▪ Nhuận trường laxatif : dùng những lá nấu chín và những thân .
▪ Những lá tác dụng làm dịu đau, lợi tiểu,.
▪ Lá được sử dụng trường hợp bệnh lậu gonorrhée và bệnh qui đầu viêm balanite.
▪ Lá cũng được dùng trong chứng nổi mề đay urticaire,
▪ chứng sổ nước mũi catarrhales,
● Hoa mồng tơi :
▪ Hoa được sử dụng như một chất giải chất những chất độc antidote aux poisons .
● Rễ tác dụng :
▪ Chất làm se thắt astringent : những rễ nấu chín được dùng để chữa trị bệnh tiêu chảy.
▪ Nhai rễ chữa trị đau răng.
● Nước ép mồng tơi :
▪ Nước ép là một chất nhuận trường an toàn cho phụ nữ mang thai
▪ Nước ép của lá là một chất làm dịu đau, được dùng trong trường hợp bệnh kiết lỵ dysenterie.
▪ Nước ép lá được dùng ở Népal để chữa trị chứng viêm nước catarrhe.
▪ Nước ép lá mồng tơi sử dụng trong trường hợp bị táo bón constipation, đặc biệt ở trẻ em và đàn bà có thai.
● Thuốc dán bào chế từ lá mồng tơi :
▪ Thuốc dán bào chế  từ rễ, áp dụng vào những chỗ sưng  renflements và cũng được dùng như một chất làm da nổi đỏ  rubéfiant ( ví như bôi lên da gây sự giản nở các mao mạch, tăng sự lưu thông máu )
▪ Thuốc dán làm từ lá được áp dụng bên ngoài để điều trị những nhọt đầu đinh furoncles.
▪ Thuốc dán cũng dùng cho những vết thương và thúc đẩy nung mũ nhanh ( gom cùi mũ ) ở những nhọt.
Trong sử dụng y học người ta thường đánh giá rằng :
• Giống như những lá rau xanh  khác, rau mồng tơi giàu chất vitamine A, vitamine C, sắt, calcium và là một nguồn tốt về diệp lục tố chlorophylle.
• Mồng tơi yếu về năng lượng calorie bởi thể tích, nhưng giàu chất đạm protéine bởi năng lượng calorie.
• Chất nhầy mucilage mọng nước là một nguồn đặc biệt giàu chất xơ hòa tan.
Hoạt động chống oxy hóa,
Chất phénolique trên tổng số, flavonoïde và hàm lượng acide ascorbique của mồng tơi basella alba thường được tiêu thụ ở Nigeria đã được xác định.
Phénolique :Một mối tương quan cao và có ý nghĩa tồn tại giữa các hoạt động chống oxy hóa và hàm lượng tổng số phénolique đã cho thấy hàm lượng phénolique đóng góp lớn của cây mồng tơi.
Acide ascorbique khá tương quan với chất chống oxy hóa và hàm lượng phénolique.
● Mồng tơi chứa carottène β.
Hàm lượng hóa thực vật của lá các loại rau phục vụ như là chất bổ sung cho thực phẩm và có tiềm năng cải thiện tình trạng sức khỏe của người sử dụng như là hiện diện của các hợp chất quan trọng đối với sức khỏe.
► Hoạt động tiêu hóa : hàm lượng chất xơ lớn trong chế độ thực phẩm, điều này giúp :
- giảm việc tiêu thụ các loại thực phẩm giàu tinh bột,
- tăng cường chức năng tiêu hóa,
- ngăn ngừa táo bón
- và do đó làm giảm tĩ lệ mắc các chứng bệnh chuyển hóa biến dưởng,
- tiểu đường và cholestérole cao.
Đồng thời cũng tạo ra :
- khả năng kháng sinh mạnh,
- hạ huyết áp động mạch,
- những yếu tố tác nhân xây dựng tăng cường của máu,
- và cải thiện thêm khả năng sinh sản của phái nữ khi dùng nhiều trong canh soup.
Kinh nghiệm dân gian :
Cây mồng tơi đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm hửu ích từ thời cổ đại. Ngày nay, với những đặc tính của cây, người ta đã sử dụng để chiết trích những chất hửu ích cho hoạt động của con người.
Một số trong những sử dụng của các bộ phận của cây để chữa trị cho một số vấn đề của con người có thể giải thích ở đây :
▪ Tiêu dùng thường xuyên mồng tơi basella alba có một hiệu quả tích cực trên toàn cơ thể bởi vitamine.
▪ Mồng tơi với nước gạo vo đã rửa sạch, dùng vào buổi sáng bụng đói trong vòng 1 tháng, chữa lành bệnh kinh nguyệt không đều, bài thuốc này do dân nông thôn vùng Orissa ở Ấn Độ.
● Người Nigeria tại Lagos, dùng lá mồng tơi để chữa trị tăng huyết áp.
● Trong y học dân gian Cameroon dùng lá mồng tơi để trị bệnh sốt rét.
▪ Ngoài ra cây mồng tơi cũng được ghi nhận là thuốc :
- chống co giật,
- kháng nấm,
- giảm đau,
- chống viêm,
- liên quan đến kích thích tố phái tính sinh dục nam androgène,
- và trị bệnh thiếu máu anémie.
▪ Lá cây mồng tơi theo y học cổ truyền trong hệ thống y học ayurvédique, mang lại cho một giấc ngủ tươi mát, sử dụng đắp trên đầu ½ giờ trước khi tắm.
▪ Nước nấu sắc từ lá dùng cho nhuận trường nhẹ.
▪ Nước ép của lá mồng tơi pha trộn với beurre, làm dịu và mát khi áp dụng cho những vết phỏng.
● Tại Thái Lan cây mồng tơi dùng như rau xanh ở dân gian.
▪ Trái mồng tơi cho màu tím đậm dùng để nhuộm màu thiên nhiên thực phẩm.
▪ Chất nhày mucilage mồng tơi đã được sử dụng trong y học truyền truyền thống Thái lan bôi vào như chất kích thích, máu bầm, huyết ứ ngoài da ecchymose,
▪ Thân và lá dùng như thuốc :
- nhuận trường,
- lợi tiểu nhẹ,
- hạ sốt.
● Tại Ấn Độ, sử dụng để :
- chống ngứa antipruritis,
- và phỏng.
▪ Mồng tơi được dùng ở Bangladesh cho mụn trúng cá và những tàn nhang.
▪ Trong y học truyền thống Ayurvédique Ấn Độ, mồng tơi được sử dụng để chống :
- bệnh ung thư ác tính cancer du mélanome,
- bệnh bạch cầu leucémie,
- và ung thư miệng.
▪ Rễ và lá được dùng để :
- đau dạ dày,
- gia tăng sản sản xuất sữa,
▪ Cây mồng tơi được dùng để uống để chữa trị sa hậu môn hay thoát vị hậu môn prolapsus hay sa ruột hernie,
▪ Cũng trong y học truyền thống Ayurvédique, mồng tơi dùng để :
- xuất huyết hémoragies,
- những bệnh về da,
- yếu sinh lý suy nhược sinh dục,
- viêm loét ulcères,
Ở Népal, nước ép lá mồng tơi dùng để :
- chữa trị bệnh kiết lỵ,
- bệnh viêm nước catarrhe,
- dùng bên ngoài để trị nhọt đầu đinh furoncles.
▪ Lượng chất nhày mucilage, là chất làm đặc rất tống cho soup, ragoûts ……
▪ Chất nhựa màu tím dùng như chất màu trong kỹ nghệ bánh trái và đồ ngọt.
▪ Cây mồng tơi đã được sủ dụng để điều trị :
- bệnh thiếu máu ở phụ nữ,
- ho,
- cảm lạnh (  lá với gốc ),
- nhiễm trùng liên quan đến lạnh,
▪ Cây mồng tơi, ngâm để uống điều trị :
- bệnh vô sinh infertilité,
- viêm sưng vùng xương chậu pelvienne,
- viêm dịch hoàn orchite,
- epididymytis,
- có khả năng là hư thai avortement,
▪ Những là được dùng trong trường hợp :
- táo bón constipation,
▪ Thuốc dán dùng :
- trên vết thương,
- nổi mề đay urticaire,
- và bệnh lậu gonorrhée,
▪ Dung dịch lỏng chất nhày mucilage trích từ lá và thân, mà một liều thuốc trị :
- bệnh nhức đầu.
Nghiên cứu :
Ở các nước Phi Châu và Châu Á, cây mồng tơi người ta sử dụng lá như rau xanh. Những người chữa bệnh bằng dược thảo trong Cameroon sử dụng dung dịch trích từ cây mồng tơi để tăng cường sự ham muốn tình dục và coi như là một phương thuốc vô sinh infertilité. Những nhà nghiên cứu đại học Yaounde đã phát hiện dung dịch trích này có hiệu quả.
Mồng tơi basella alba là một thành phần được sử dụng như một chất bổ sung kích thích tố testostérone.
Những nhà nghiên cứu không có bằng chứng khó khăn với hiệu quả này nhưng những nghiên cứu của họ cho thấy đây là vấn đề chính đáng cho rằng sự bổ sung có một số hiệu quả. Những nhà nghiên cứu thí nghiệm trên dịch hòa của chuột, không phải người và dựa trên chiết xuất trong méthanol của cây.
● Đầu tiên, những nhà nghiên cứu phát hiện rằng những trích xuất đã an toàn. Những tế bào không chết khi cho nồng độ từ 10 và 100 microgrammas / ml.
● Thứ nữa, những nhà nghiên cứu phát hiện những trích xuất cây mồng tơi basella alba đóng góp tương đối ít hơn để gia tăng nồng độ testostérone nhiều hơn, nồng độ cao hơn hCG.( đây là kích thích tố glycoprotéine được sản xuất trong thời kỳ mang thai và được sản xuất bằng phôi thai ngay sau khi thụ tinh ).
Nồng độ hiệu quả của dung dịch trích là 10 microgram / ml. Nồng độ này sản xuất aromatase của những tế bào cũng tăng.( aromatase là phân hóa tố chủ yếu trong quá trình sinh tổng hợp œstrogène, chất này thường gây ra những bệnh ung thư hay những chứng bệnh khác. Những chất ức chế aromatase thường được dùng để điều trị những chứng bệnh này.
Trong sử dụng truyền thống của cây mồng tơi Basella alba, để điều trị bệnh vô sinh ở đàn ông và sự suy nhược tình dục, có thể là do khả năng bản thân không chỉ kích thích sản xuất androgène, mà còn những oestrogènes, dó đó có sự duy trì cân bằng œstrogène androgène cần thiết cho chức năng sinh sản bình thường ở nam giới. đây là kết luận của những nhà nghiên cứu. 
Nguồn :
Int J Mol Sci. 2011 Jan 14; 12 (1): 376-84.
Thực phẩm và biến chế :
● Lá mồng tơi được giới thiệu như ăn sống hoặc nấu chín ( nhưng vì chất nhày rất nhiều nên ăn sống rât khó ăn vì nhớt.
● Mồng tơi có một hương vị rất thơm và dể chịu, rất ngon nếu người ta thêm vào nhiều thứ rau ăn khác, sẽ được một món ăn gọi là tập tàng rất ngon..
● Thường thì không nên nấu quá chín lá, nước trở nên nhờn ( tùy khẩu vị từng người ).
● Với phẩm chất nhờn của mucilage, một tác nhân làm đặc thơm cho ragoûts, soups …. người ta có thể dùng để thay thế chất nhờn của đậu bắp gombo Abelmoschatus esculentus.
● Ngâm trong nước đun sôi lá mồng tơi, dùng như trà,


Nguyễn thanh Vân