Tâm sự

Tâm sự

dimanche 28 août 2011

Rau diếp xoắn - Chicorée sauvage

Chicorée sauvage
Rau diếp xoắn hoang
Cichorium intybus L.
Astéraceae
Đại cương :
Tên gọi khác : Mắt con mèo ( Yeux de chat ), Laideron ( Đàn bà xấu xí )
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Thường gặp ở Pháp, nơi nhiều chất thải bả hữu cơ, lề đường và Âu Châu, Châu Á, Bắc Phi.
Mô tả thực vật :
Cỏ thân thảo lâu năm với rể cái tiết ra một chất mủ trắng latex.
Thân có rảnh, 50 cm đến 1 m cao, phân nhánh cứng, khác nhau, có lông tơ.
có cuống, xẻ sâu phía dưới cây, ôm bao toàn bộ thân, mặt dưới lá có lông.
Hoa, màu xanh dương, đẹp, hình lưỡi và họp thành nhóm không cuống.
Bế quả.
Rể xoắn.
Tất cả các phần của cây cho một vị rất đắng ( chất mủ latex )
Thu hoặch :
- Rể : cuối năm đầu tiên của thảm thực vật .
- Lá : trước khi phát hoa.  
Bộ phận sử dụng :
- Rể và lá .
Nhận mặt cây :
Rể : hình trụ hay hình khối không đều, bề mặt cong.
Màu xanh nhạt đến màu xám nâu trên những mặt ngoài, màu trắng với những chấm vàng hay nâu trên những đoạn.
- Có mùi, nhầy, vị hơi cay đắng.
: hình bầu dục hay hình thuôn dài, 15 – 20 cm x 4 cm. Cắt xẻ sâu phía dưới, có lông mặt dưới. Vị rất đắng.
Thành phận hóa học và dược chất :
Rể :
Lactones sesquiterpéniques :
- lactucine,
- lactucopicrine (chất amer)
- Acides phénol (acides chlorogéniques)
- Inuline (15 % trong rể tươi, 50 à 60 % trong thuốc khô )
Lá :
- Depside
- Acide chicorésique (acide dicafextratrique)
Những chất lactones sesquiterpéniques trước đây gọi là "chất đắng",
- Inuline là một polysaccharide loại fructane, một đồng phân ( polymère ) của fructose
Đặc tính trị liệu :
- Cây chicorée tăng cường khả năng gan và hệ tiêu hóa.
- Cây kích thích khẩu vị
- và tăng cường bài tiết mật, do sự hiện diện của một « chất đắng », những chất lactones sesquiterpéniques.
- Những chất lactones tác dụng hiệu quả trong trường hợp chữa trị loét dạ dày.
- Đồng thời cây giảm tĩ lượng mỡ lipide trong máu ( cholestérol và triglycérides ).
- Chicorée cũng là thuốc nhuận trường nhẹ
- và tẩy rữa đường tiểu tiện.
- Chicorée rất giàu chất inuline ( gần 60 % ), chất này hoạt động như một chất tiền sinh học, có nghĩa là nó cung cấp môi trường thuận lợi cho sự phát triển vi khuẩn ( nói chung vi sinh vật ) đường ruột.
Tóm lại chicorée là một dược thảo bổ được dùng :
- Lợi mật (cholagogue),
- Lợi tiểu (Diurétique)
- Kích thích bài tiết mật điều hòa tiêu hóa lipide.
- Nhuận trường nhẹ.
- Kích khích khẩu vị. (apéritif)
- Kiện vị, bổ bao tử.
- Lọc máu (Dépurative).
Trên phương diện thực nghiệm : Rể được dùng để :
- chống viêm,
- hạ đường mỡ,
- hạ cholestérol.
Chủ trị :
- Rối loạn gan.
- Rối loạn thận.
- Tiêu hóa khó.
- Trướng bụng và đầy hơi.
- Phong thấp rhumatisme,
- và thống phong goutte,
- Mề đay, phong ngứa (Urticaire)
- Thuận lợi cho phát triển vi khuẩn đường ruột.
Hiệu quả xấu và rủi ro :
Những người bị sạn thận không nên dùng chicorée.
Ứng dụng :
Người ta sử dụng chủ yếu là rể, nhưng cũng dùng lá và hoa.
Rể thu hoặch vào mùa thu, đem phơi nắng.
- Để điều chế thay thế cà phê, người ta cắt thành mảnh nhỏ xấy nhẹ trong lò xấy four hay xấy bằng chảo, khi đổi màu nâu caramel là được.
● Ngâm trong nước đun sôi : Lá chicorée tươi hay xấy khô, một nhúm / tách nước sôi.
Uống 1 hay 2 tách / ngày trước bữa ăn .
● Dùng nấu sắc : 15 – 30 gr rể xấy khô / lít nước. Đun sôi trong 5 phút.
Uống 1 hay 2 tách / ngày trước bữa ăn.
- Để dể dàng thuận lợi bài tiết nước tiểutiêu hóa trong những trường hợp bài tiết mật không đủ, như phụ trợ cho chế độ ăn kiêng, trong sự rối loạn tiêu hóa ( thượng vị trướng hơi đầy bụng, tiêu hóa chậm, ợ hơi, đầy hơi, bón ).
● Dùng ngâm trong nước đun sôi : Lá chicorée, 30 gr / lít, ngâm trong nước sôi.
Uống 1 tách trước bữa ăn hay 2 tách buổi sáng ( trường hợp bón ). ( J.Valnet )
Dùng nấu sắc : Rể, 15 – 30 gr/ lít, đun sôi 5 phút, ngâm thêm 15 phút.
Uống 1 tách trước bữa ăn ( J.Valnet )
Thực phẩm và biến chế :
Rể chicorée xấy khô được sử dụng như rang cà phê.
Ở những người trồng chicorée : các lá non được dùng làm salade, lá nấu chín dùng như légume và những rể xấy rang cà phê « chicorée cà phê » để bào chế cà phê khẩu vị ngon hơn, đặc biệt là pha trộn với sửa.
- 50 năm, ở đồng quê Pháp, chicorée được dùng làm cà phê hay pha trộn chicorée – cà phê.


Nguyễn thanh Vân

vendredi 26 août 2011

Cỏ sữa lá nhỏ - Chhoti Duddhi


Cỏ sữa lá nhỏ
Euphorbia thymifolia Linn.
Euphorbiaceae
Đại cương :
Tên gọi khác : Patikan China (Latin: Euphorbia thymifolia Linn), Gelang Pasir, Krokot China (Java); Ki Mules, Nanangkaan Gede, Useup Nana (West Java); Jalu-jalu Tona (Maluku); Xiao lei yang cao (China); Makikitot (Philippines), cỏ sữa lá nhỏ Việt Nam.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc - Phân phối : Cỏ sữa lá nhỏ có thể tìm thấy ở South-Asia, Trung Quốc, Việt Nam và Đông nam Á, tìm thấy miền nam nước Pháp Vitrolle.
Cây mọc hoang khắp nơi ở bãi cỏ, sân vườn, ở những nơi đất có sỏi đá.
Mô tả thực vật :
Cỏ thân thảo sống hằng năm, 10 – 20 cm cao, Rể xơ sợi. Thân mềm, mảnh, mọc thành dề nhiều, phủ sát mặt đất, 1-2 mm dày, có latex nhựa trắng, với nhiều rể mọc ngẩu nhiên, một ít lông..
mọc đối, lá đài nhọn hình mũi giáo hay thẳng, 1 – 1,5 mm, rụng sớm, cuống 1 mm, phiến lá tròn hay hình trái tim, mép lá thường mịn có đường răng nhỏ, có lông ở mặt dưới.
Phát hoa đơn độc hay họp thành nhiều nhóm, ở nách lá, cuống dài 1-2 mm, hơi có lông, bao hoa hình chuông 1x1 mm, bên ngoài có lông. 5 thùy hình trứng, 4 tuyến, phủ trắng.
Hoa đực, hằng năm, tổng bao nổi gò lên.
Hoa cái, ngắn cuống nhỏ, bầu noản ngắn, vòi nhụy tự do, nướm 2 thùy.
Quả nang có 3 góc cạnh, hình trứng.
Hạt nhăn, hình trứng, 4 cạnh 0,7 x 0,5 mm, màu đỏ đậm, mỗi cạnh với 4 hay 5 rảnh ngang.
Hoa và trái vào khoảng tháng 6 đến tháng 11.
Bộ phận sử dụng :
Thân, lá và rể
Thành phận hóa học và dược chất :
Trong cây có chứa tinh dầu màu xanh, mùi đặc biệt.
Thành phần tinh dầu gồm :
- cymol,
- carvacrol,
- limonen
- sesquiterpen và acid salicylic.
Cây cỏ sữa lá nhỏ, lá và thân chứa những chất chủ yếu như sau :
- essential oil,
- flavonoids cosmoseii n(5,7,4-trihydroxyflavon-7-glucosid).  ,
- n-alkanes,
- n-hexacosanol,
- 2 derivatives of deoxyphorbol acetate,
- ester,
- sterol,
- epitaraxerol,
- euphorbol,
- methylene cycloartenol,
- quercretin galactoside
- và một số lớn hydrolisable tannins.
Rể chứa :
- taraxerol,
- tirucallol
- myrixyl alcohol
- và sterols khác (Ghani, 2003).
Đặc tính trị liệu :
Dân tộc Tamil thực hành y học truyền thống, những lá và hạt cỏ sữa lá nhỏ dùng trong những trường hợp :
- giun sán đường ruột
- và viêm nhiễm đường ruột ở trẻ em.
▪ Trên thực tế y học truyền thống Ấn Độ, tinh chất trích từ cây cỏ sữa lá nhỏ được xem như là :
- chất kích thích
- và nhuận trường.
Những bộ lạc Santal Jharkhand và các vùng khác dùng tinh chất trích từ cỏ sữa lá nhỏ xem như liều thuốc chữa trị chứng mất kinh ( mất kinh trong thời kỳ người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ).
▪ Tinh chất hay dạng bột khô cây cỏ sữa lá nhỏ, trộn với alcool dùng như thuốc trị trong trường hợp rắn cắn.
▪ Tinh chất trích từ cỏ sữa lá nhỏ được báo cáo là :
- kháng vi khuẩn
- và chống lại sự oxy hóa,
đồng thời hoạt động như :
- Lợi tiểu,
- Nhuận trường,
- Chống tiêu chảy,
- Chống sốt rét,
- Chống phát ban ở da,
- Chống bệnh lỵ,
- Chống bệnh than,
- Giải độc detoxificant
- Chống bệnh trĩ.
▪ Chất trích từ cây kết hợp với 1,5 % HCL có thể ức chế sự tăng trưởng những vi khuẩn Gram dương ( Bacillus subtilis ) và Gram âm ( Escherichia Coli ).
▪ Dùng dung dịch cỏ sửa theo đường ruột sẽ ức chế sự sinh sản các loại vi trùng kiết lỵ ( Sonner, Shigella, Flexneri,...) đồng thời có tác dụng ức chế các chủng vi khuẩn tụ cầu vàng.
▪ Cỏ sữa lá nhỏ được xem là loại thuốc kháng khuẩn tụ cầu vàng.
▪ Cỏ sữa lá nhỏ được xem là loại thuốc kháng sinh trị bệnh :
- đường ruột
- và bệnh ngoài da.
Chủ trị :
● Cây cỏ sữa tươi được dùng như dược thảo :
- làm lành vết thuơng và
- Chất sinh sữa,
- Cây rất có công hiệu cho suyễn, phế quản.
- Nước cốt tươi dùng cho tiêu chảy, kiết lỵ, ( trộn với sữa trừu tươi làm lành bệnh kiết lỵ ra máu ).
● Lá và hạt cỏ sữa lá nhỏ dùng :
- Tác dụng co thắt,
- Kích thích,
- Sổ lãi,
- Nhuận trường,
- Dùng ở trẻ em trong trường hợp rối loạn đường tiêu hóa.
● Rể dùng trong trường hợp mất kinh ( Yusuf và coll 2009 )
Hiệu quả xấu và rủi ro :
- Chất nhựa mủ của nó có tính gây xót đối với niêm mạc dạ dày và độc đối với chuột.
Ứng dụng :
● Thường dùng trị :
1. Lỵ trực trùng, viêm ruột ỉa chảy;
2. Trị xuất huyết;
3. Phụ nữ sinh đẻ thiếu sữa hoặc tắc tia sữa.
● Ở Ấn Độ còn dùng làm thuốc diệt sâu bọ, giã đắp chữa bệnh ngoài da.
Cách dùng, liều lượng:
1.Toàn cây phơi khô, sao vàng, sắc uống, mỗi ngày 15-20g, có thể tới 50g cho trẻ em. Người lớn có thể dùng tới 100-150g.
2. Lỵ trực trùng: dùng Cỏ sữa 100g. Rau sam 80g sắc với 300ml nước, lấy 150ml, chia 3 lần uống trong ngày.
3. Lợi sữa: Cỏ tươi 100g, hạt cây Gạo 40g, hai thứ sắc kỹ, lấy nước nấu cháo gạo ăn.
4. Viêm da nổi mẩn ngứa : Cỏ sữa giã nát xoa hay nấu nước rửa.
(theo thuốc đông dược)



Nguyễn thanh Vân

jeudi 11 août 2011

Cây ớt đỏ - Piment rouge

Piment rouge
Cây ớt đỏ
Capsicum annuum L
Solanaceae
Đại cương :
Dân Aztèque đặt cho ớt một tên là « cayenne ». Những người bản xứ của Amérique équatoriale nơi mà cây ớt xuất phát, biết giá trị thực phẫm và dược tính của trái từ ít nhất 9000 năm. Những nhà khảo cổ tin rằng người ta đã trồng ở Mexique khoảng 7000 năm. Bác sỉ Diego Alvarez Chanca, người đồng hành của Christophe Colomb, giới thiệu cây ớt với người Âu Châu, sau chuyến đi thám hiểm nổi tiếng bắt đầu từ ở Ấn Độ, nhưng kết thúc tại Caraïbes.
Lục địa Âu Châu, những trái cây du nhập nhanh chóng qua tất cả những vùng xích đạo của trái đất và được đã chấp nhận bởi nhiều nền văn hóa nhất là Á Châu, Trung Đông và Phi Châu, như miền nam Âu Châu đặc biệt miền nam nước Ý. Trên thực tế, người ta biết ít về gia vị cần phải được phổ biến .  
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc :
Nguyên gốc những vùng nhiệt đới nước Mỹ, Á Châu Việt Nam, hiện nay người ta đã trồng ớt trong tất cả các vùng nóng và cả Âu Châu và Gia nả đại, dưới dạng cây nhất niên.
Mô tả thực vật :
Những cây ớt capsicums được tô điểm bởi nhiều trái nạc và màu sắc rực rở. Những loài rất thông thường và gọn.
Cây ớt, thông thường được xem như cây nhất niên, điển hình Capsicum annuum acuminatum chẳng hạn, có thể sống nhiều năm, nhưng thường được xem như các loài khác và được vứt bỏ vào mùa thu để trồng lại mới với năng xuất cao. Trên thực tế, cây ớt sống lâu năm ở vùng nhiệt đới và sống hàng năm ở vùng ôn đới.
- Thân cứng ngấm lignin nhánh xanh sậm, lá xanh và hình mũi giáo, hầu như không lông khoảng 4 đến 10 cm dài và 21 đến 4 cm ngang, cuống 2,5 cm.
- Hoa nhỏ trắng hay ngà, thòng hay đứng, 1 đến 3 ở nách lá, trên cọng xanh dài, không lông có răng thấp, vành trắng, rộng 1 – 1,5 cm. Hoa có thể tiếp tục trong khi trái được thành lập.
- Trái, trái xuất hiện vào giữa hè thời điểm thời điểm chánh của cây. Trái loại quả ít hay nhiều thịt, bên trong chứa nhiều hột. 
Phì quả, hình dáng và màu sắc thay đổi, quả nảc thường cay. Trái có thể tồn tại dính trên cây một thời gian 8 đến 12 tuần sau đó rơi xuống.
- Hột dẹp, trắng hay vàng vàng.
Bộ phận sử dụng :
Trái và lá
Thành phận hóa học và dược chất :
Người ta dùng trái, có chứa những chất chánh :
- capsaïcine (0.1 à 1.5%),
- những caroténoïdes,
- flavonoïdes, flavonoïdes,
- vitamine C và
- những saponines.
Những trái ớt chứa một chất alcaloïde gọi là capsaïcine. Chất này là nguồn gốc làm kích thích ngứa đau và có cảm giác nóng từ ớt.
Nồng độ chất capsaïcine thay đổi tùy trái, nhưng cả loài (espèce) này với loài khác, thứ loại ( varìté ) này với thứ loại khác cùng loài (espèce). Sự khác nhau cũng còn tùy thuộc những điều kiện khí hậu và môi trường.
Capsaïcine được sản xuất bởi những tuyến nằm tiếp giao giữa thai toà và màng ngăn của trái. Những hạt ớt không cho ra bất kỳ một cảm giác nóng nào, trái với những tin được phổ biến.
Đặc tính trị liệu :
Ớt có tác dụng :
- Kích thích sự bài tiết dạ dày ;
- Kích thích nhu đồng đường ruột ;
- Thúc đẩy trục những hơi gaz trong hệ tiêu hóa.
- Kích thích sự tuần hoàm máu và là một vị thuốc hữu ích cho những người tuần hoàn yếu.
- Đặc biệt sự lưu thông máu đến 2 bàn tay, bàn chân và những cơ quan trung ương.
- Tăng cưòng hệ thống tuần hoàn và bảo vệ tim.
- Điều chĩnh thân nhiệt cơ thể.
- Trị viêm khớp, thấp khớp bệnh thần kinh.
Cơ quan Food and Drug Administration Mỹ  (FDA) đã chấp nhận dùng thuốc mỡ, dung dịch lotion, kem căn bản chứa chất capsaïcine để làm giảm đau nguyên nhân :
- bệnh viêm khớp,
- thấp khớp,
- và đau thần kinh.
Ủy ban Âu Châu chấp nhận những loại thuốc dùng ngoài cayenne để :
- giảm đau bắp cơ vai,
- tay
- và đường xương sống,
cho cả trẻ em đi học lẫn người lớn. 
Chủ trị : indications
Dùng trên da nơi đau, ớt làm không cảm giác những đầu dây thần kinh, khi xưa người ta dùng như thuốc giảm đau tại chỗ.
Đồng thời ớt :
- kích thích sự hoạt động chống sự viêm sưng.
- kích thích sự phóng thích kích thích tố tuyến vỏ thượng thận ACTH ( adrénocorticotrophine ),
- tác động trên chứng viêm sưng
- và dị ứng như tác động của cortisone.
Dùng ngoài da, những thuốc mỡ có chứa tinh chất của ớt đã bào chế ít chất capsaïcine, dùng để chữa hiệu quả :
- chứng đau nửa đầu.
Nên dùng thuốc mỡ bên trong vành tai bên đau hay nơi đau.
Ớt đỏ hữu ích cho những trườg hợp sau :
Dùng trong cơ thể :
- Chứng nuốt hơi Aérophagie
- Đau bụng
- Tiêu hóa khó khăn
- Viêm khớp
- Tiêu chảy ( do đặc tính chống vi khuẩn )
Dùng ngoài da :
- Đau cơ
- Đau khớp xương,
- đau lưng,
- đau dây thần kinh.
- Zona
- Tuần hoàn máu không tốt.
- Phỏng lạnh nứt nẻ da vì lạnh :
Người ta có thể đắp trên những vết nứt nẻ không mở.
- Rụng tóc : đắp thuốc cao lên trên da tóc.
Hiệu quả xấu và rủi ro : :
Không bao giờ dùng hạt ớt thiên nhiên tươi mà không đi kèm một món gì .
Mặc dù thực tế ớt chữa những bệnh như tiêu chảy rất đặc biệt, nhưng ớt có thể đưa đến những sự rối loạn hệ đường ruột.
Ớt làm cho dị ứng khi tiếp xúc sử dụng bên ngoài ( trên da )    
Ứng dụng :
Dùng trong cơ thể :
Hiện có sản xuất loại thuốc viên capsule hay dung dịch để dùng trong cơ thể .
Dùng ngoài da :
Thuốc mỡ hoặc dầu .
►Ngâm 100 gr ớt đỏ xay nhỏ trong 500 ml dầu và đun sôi với lửa nhỏ trong 15 phút..
Thực phẩm và biến chế :
Ngoài ra ớt được dùng làm gia vị trong những công thức thực phẫm của người Á đông Việt Nam, người Ấn Độ.


Nguyễn thanh Vân


mardi 9 août 2011

Ngò rí - Ngò ta - Coriandre

Coriandre
Ngò rí - Ngò ta
Coriandrum sativum L.
Apiaceae
Đại cương :
Cây ngò rí là cây vùng địa trung hải và vùng nhiệt đới Châu Á. Cao khoảng 0,25 – 0,50 m. Trồng để lấy hạt và lá.
Rau được dùng để thêm vào thức ăn, cho ngon miệng có mùi thơm xem như thuốc bổ kích thích trong trường hợp bị suy nhược.
Ngoài ra : còn áp dụng những bệnh như hen suyễn, đầy hơi trong hệ ruột, co thắc và chóng mặt.
Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Ngò rí có nguồn gốc ở Châu Âu vùng Địa trung hải, thích sống môi trường đất vôi và vùng Châu Á nơi đây thường dùng làm gia vị cho thức ăn .
Mô tả thực vật :
Cây thân thảo, nhất niên, 30 đến 60 cm cao.
yếu mịn và bóng láng, lá phía dưới hình bầu dục hay hình cái nêm ( chêm ), có răng cưa và lá phía trên phát triển hình dài xẻ hình lông chim 2 hay 3 lần xẻ.
Hoa trắng nhỏ hay hường, chẻ 2 hay 3, cánh hoa bìa cao đến 3-4 mm, tán kép không tổng bao phụ.
- Trái tròn, láng to 3-5 mm, có đài còn lại.   
Bộ phận sử dụng :
- Hạt, lá, thân
Thành phần hóa học và dược chất :
Lá tươi giàu chất :
- sắt Fe,
- vitamine A, B và C
- Tinh dầu 16 à 25 %
- furano-isicoumarine (coriandrine)
- triterpènes
- Dẫn xuất của acide caféïque và chlorogénique
- flavonïdes
- linalol, A-pinène, G-terpinène và camphre
Tinh dầu ngò :
- géraniol,
- linalol (60 à 70%),
- acétate de geranyle
- borneol,
- cineole,
- cymene,
- terpineol,
- dipentene,
- phellandrene,
- pinene và terpinolene.
Thành phần sinh hóa chánh :
● Monoterpénols :
- linalol (73.42%),
- géraniol (0.90%)
● Monoterpènes :
- alpha-pinène (5.88%),
- gamma-terpinène (4.18%),
- limonène (3.55%),
- myrcène (1.17%),
- camphène (0.55%),
- para-cymène (0.72%),
- béta-pinène (0.43%),
- terpinolène (0.37%)
● Cétones terpéniques :
- camphre (4.67%)
● Esters terpéniques :
- acétate de géranyle (2.10%)
Đặc tính trị liệu :
Rau ngò rí toàn bộ cây có đặc tính :
- giảm đau,
- sát trùng,
- chống phong thấp,
- chống sự co rút,
- chống ý bệnh ( chứng loạn thần kinh anti-hystérique ),
- thuốc tống hơi ( carminative ),
- dể tiêu ( eupeptique ),
- kích thích tình dục.
Khắp thế giới, trong nhiều dược điển cổ truyền, quy định dùng để chữa trị những vấn đề về hệ tiêu hóa (chứng nuốt hơi (aérophagie), đầy hơi (flatulence), và sự co thắt ), những chứng nhức đầu hay đau dây thần kinh, hưng phấn hệ tiêu hóa.
Tinh dầu ngò rí coriandre :
- Thuốc bổ cho hệ tiêu hóa.
- Kháng khuẩn
- Kháng siêu vi khuẩn
- Kháng nấm
- Chống đau nhức.
- Phấn khích nếu dùng với liều mạnh.
- Chống sự co thắc ( linalol ).
- Tống hơi
- Thuốc bao tử
- Diệt khuẩn,
- diệt nấm,
- thuốc sán lải .
Chủ trị :
Tinh dầu Ngò rí Coriandre
● Sự rối loạn tiêu hóa :
- đầy hơi ballonnements,
- nuốt hơi aérophagie,
- khó tiêu nặng bụng,
- tiêu hóa chậm.
Đau khớp, cơ :
- phong thấp,
- đau khớp
- và viêm khớp,
- đau bắp cơ,
- hay bị co rút trong vùng bao tử-ruột.
- Trong trường hợp đau vặn hệ tiêu hóa, đau bụng, buồn nôn.
● Viêm nhiễm :
- Nhiễm siêu vi khuẩn và vi trùng đường hô hấp và tiêu hóa, viêm đường tiểu.
● Hệ thần kinh :
- Mệt mỏi,
- bị kích động,
- rối loạn giấc ngủ.
● Ngoài ra tinh dầu còn chữa trị trong trường hợp :
- đau răng,
- đau mặt,
- đau đầu,
- đau tứ chi
- và cúm.
● Rau ngò còn giúp trí nhớ và tập trung.
Ứng dụng :
●Trong thảo dược liệu pháp và hương liệu liệu pháp, ngò rí coriandre được dùng để trị :
- Chứng lo âu,
- Thần kinh mệt mỏi ,
- Trầm cảm ;
- Đau bắp cơ.
● Rau ngò còn có thể dùng để làm :
- dịu mát
- và nâng cao tinh thần.
- giúp đở sự mệt mỏi tinh thần,
- đau nhức nửa đầu,
- căng thẳng thần kinh
- và suy nhược.
● Rau ngò còn có hiệu ứng :
- hâm nóng ấm dạ dầy
- giảm cơn vặn bắp cơ ( chuột rút )
- và bụng, làm sinh động hệ thống tuyến.
● Rau ngò dùng để giảm :
   - đau những chứng phong thấp
- và đau thấp khớp,
- cũng như những cơn co rút bắp cơ
- và dùng trị cảm và cúm.
● Rau ngò cũng có tác dụng tẩy tổng quát cơ thể, loại bỏ những chất độc và những chất lỏng thải bả .
Điều trị bằng phương pháp xông hơi hoặc đốt :
►Trong phương pháp xông hơi nước, dầu ngò có thể :
- kích thích tinh thần
- và giảm sự mệt mỏi,
- đồng thời giúp đở trong những rối loạn sự ăn uống
- và làm tăng khẩu vị bữa ăn .
►Pha loãng tinh dầu trong bồn tắm hay thêm vào dung dịch để xoa bóp, tinh dầu có thể,
- giảm đau phong thấp
- thấp khớp
- và co thắc bắp cơ,
- đồng thời giải độc cho cơ thể.
Cách đun ngâm : 30 gr hạt ngò khô trong 1 lít nước sôi trong 10 phút, thêm đường. Dùng thật nóng 2 tách / ngày. 
► Dùng cách nấu sắc :  1 muỗng cà phê hạt ngò rí trong 1 tách nước lạnh, đun sôi trong 10 phút ; Dùng 1 tách sau bữa ăn.Trị viêm dạ dày, tiêu chảy, ăn khó tiêu.
Phản ứng xấu và phụ :
Phụ nữ có thai không nên dùng.


Nguyễn thanh Vân